TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
BÁO CÁO THỰC TẬP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
GVHD: Th.S VÕ ĐÌNH VINH
SVTT : LÊ THỊ NGỌC QUỲNH
Lớp K10.404.A
Mã số sinh viên: K10.404.0511
TP HỒ CHÍ MINH. NĂM 2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Tp.HCM, ngày…. tháng…. năm 2014
GVHD
MỤC LỤC
4
1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Các ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọng
Để phù hợp với mục tiêu của báo cáo thực tập, phương pháp nghiên cứu được lựa
chọn là thu thập số liệu, phương pháp định tính với tính toán các tỷ số tài chính và phân
tích dựa vào hàm hồi quy tuyến tính.
1.5 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được sử dụng lấy từ Báo cáo tài chính, Báo cáo thường niên của một số
ngân hàng thương mại thông qua các trang web chính thức của ngân hàng.
6
2 PHẦN PHÂN TÍCH
2.1 Đánh giá hiệu quả thông qua các tỷ số tài chính
Hầu hết các nghiên cứu đo lường đầu ra của các ngân hàng sử dụng tập hợp các
số liệu như tổng tài sản, tổng dư nợ cho vay và tiền gửi của khách hàng và một số các
tiêu chí đầu ra khác của ngân hàng. Tuy nhiên, những số liệu này chưa thể đánh giá một
cách đầy đủ giá trị dịch vụ cũng như mức độ hoạt động của các ngân hàng. Để khắc phục
hạn chế trên, chúng ta sử dụng các dữ liệu được tính toán về các tiêu chí biên, chi phí và
lợi nhuận như một thước đó cho hiệu quả hoạt động ngân hàng. Ba loại tỷ số hoạt động
được sử dụng bao gồm các tỷ số liên quan đến tài sản, các tỷ số liên quan đến thu nhập
và các tỷ số liên quan đến vốn chủ sở hữu.
2.1.1 Các tỷ số liên quan đến tài sản hoạt động (Operating assets ratios)
Tỷ số Operating asset ratios là tỷ số thể hiện tỷ lệ các chỉ tiêu thu nhập, chi phí của
ngân hàng so với tổng tài sản hoạt động của ngân hàng. Tỷ số này có thể so sánh tỷ suất
lợi nhuận trên các khoản cho vay và các khoản tiền gửi. Tuy nhiên cấu trúc vốn khác
nhau giữa các ngân hàng có thể ảnh hưởng đến tính hiệu quả của tỷ số này. Bảng 1 (phụ
lục) trình bày các tỷ số này thông quatính toán các chỉ tiêu của một số ngân hàng thương
mại có quy mô vốn lớn ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012.
Giai đoạn 2008 – 2012 là giai đoạn tương đối ngắn nhưng ghi nhận nhiều biến
động của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ giai đoạn này có thể nhận
thấy xu hướng hoạt động rõ nét của các ngân hàng thông qua các tỷ số được tính toán ở
phụ lục 1.
Biểu đồ 1.1 Trung bình tỷ lệ thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi trong giai
đoạn 2008 - 2012
hoạt động. Các ngân hàng trong
Tỷ lệ thu nhập
từ lãi
Tỷ lệ thu
nhập ngoài
lãi
Vietin
2008 3.75% 0.79%
2009 3.29% 0.72%
2010 3.31% 0.75%
2011 4.39% 0.51%
2012 3.68% 0.71%
VIB
2008 2.39% 0.27%
2009 2.03% 0.81%
2010 2.27% 0.48%
2011 3.90% -0.22%
2012 4.55% 0.41%
SHB
2008 1.12% 2.21%
2009 2.35% 0.68%
2010 2.39% 0.53%
2011 2.69% 0.47%
2012 1.62% 0.92%
8
bảng tính ở phụ lục 1 có lãi gộp dao động trong phạm vi từ 2% đến 5%, đa số các ngân
hàng đạt khoảng trên 3%.
Chí phí dự phòng rủi ro tín dụng thể hiện một xu hướng chung đối với các ngân
hàng, thấp trong năm 2009, 2010 và tăng trở lại trong năm 2011 đến 2012. Điều này
chưa cao. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi này cũng cho thấy một xu hướng rõ rệt vào năm 2011
và năm 2012. Trong năm 2011, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng giảm rõ rệt so
với tỷ lệ thu nhập từ lãi, đồng thời giảm so với tỷ lệ của các năm 2008, 2009, 2010. Tuy
nhiên, năm 2012 lại cho thấy tỷ trọng thu nhập ngoài lãi tăng trở lại một cách đáng kể so
với thu nhập từ lãi, ngoại trừ trường hợp của ACB. Dù có tỷ lệ thấp song việc tỷ lệ thu
nhập ngoài lãi tăng trong năm 2012 là một tín hiệu khách quan. Cũng theo khảo sát của
KPMG đã đề cập ở trên, các ngân hàng chú trọng hơn đến triển khai cung cấp các dịch
vụ mới trong những năm tới. Nhìn chung, tỷ số này chỉ cho thấy một phần rất nhỏ trong
tổng doanh thu nhưng hầu hết các ngân hàng để đáp ứng yêu cầu về lợi nhuận và tính
hiệu quả đều sẽ chú trọng và quan tâm hơn đến việc nâng cao tỷ trọng thu nhập ngoài lãi.
Điều này là tất yếu để giảm sự phụ thuộc quá lớn vào hoạt động tín dụng, bù đắp sự sụt
giảm thu nhập từ lãi thời gian gần đây.
Một yếu tố khác là tỷ suất tổng chi phí trên tổng thu nhập hoạt động của các ngân
hàng ở mức quá cao (xem ở phụ lục 2), số liệu qua các năm cho thấy các ngân hàng
thường xuyên có mức chi phí chiếm trên 60% tổng thu nhập từ hoạt động. Dù các ngân
hàng đã có ý định cắt giảm chi phí nhưng chi phí hoạt động nói chung vẫn tăng mạnh
trong năm 2012. So với các ngân hàng trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương khác,
Việt Nam có tỷ lệ chi phí hoạt động so với thu nhập từ hoạt động cao nhất. Điều này cho
thấy sự kém hiệu quả trong việc kiểm soát chi phí nói riêng và hoạt động nói chung.
Bảng 1.2 Chi phí hoạt động so với thu nhập hoạt động năm 2012
Úc
Trung
Quốc
Singapore Thái Lan Việt Nam
Chi phí hoạt động
so với tổng thu nhập
từ hoạt động
42% 40% 38% 44% 49%
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Trung ương các nước và báo cáo thường niên được
công bố.
Techcombank 2.70% 2.83% 2.29% 2.49%
EIB 1.32% 1.61% 1.42% 1.83% 4.71%
BIDV 2.92% 2.96% 2.71%
ACB 2.50% 0.89% 0.34% 0.41% 0.89%
Vietcombank 2.40% 2.03% 2.91% 2.47% 4.61%
Nguổn: Tổng hợp từ báo cáo thường niên của các ngân hàng
Nợ xấu có xu hướng tăng nhanh từ năm 2008 gây nhiều khó khăn cho hoạt động
của ngân hàng. Do sự tăng trưởng tín dụng nóng và sự dễ dãi trong cho vay của các ngân
hàng, nợ xấu ngày càng trở nên căng thẳng và không được giải quyết một cách triệt để.
Đa số các ngân hàng trong báo cáo có tỷ lệ nợ xấu được công bố ở mức an toàn để đáp
ứng quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong khi đó Ngân hàng SHB năm
2012 có tỷ lệ nợ xấu rất cao, lên tới 8,53% tương đương 4.844 tỷ đồng do nhà băng này
phải gánh thêm nợ xấu sau khi hợp nhất với Habubank.
Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
12
Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2.1.4.2 Tổng dư nợ/ Tổng tài sản
Bảng 1.4 Tổng dư nợ/ Tổng tài sản
2012 2011 2010 2009 2008 TB
Vietinbank
66.20
%
63.73
%
63.69
%
66.93
%
62.38
%
%
30.76
%
34.10
%
43.03
%
64.61
%
42.51
%
Techcomban
k
37.94
%
35.15
%
35.22
%
45.47
%
38.45
%
13
EIB
44.03
%
40.67
%
47.55
58.19
%
57.11
%
57.50
%
55.43
%
50.79
%
55.80
%
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của các ngân hàng
Các ngân hàng lớn như Vietinbank, BIDV, Vietcombank có tỷ lệ dư nợ so với tài
sản cao và ổn định so với các ngân hàng còn lại. Đây là các “ông lớn” trong ngành ngân
hàng tại Việt Nam, có uy tín khá tốt đối với các cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời rủi
ro thấp hơn các ngân hàng ngoài quốc doanh khác. Do vậy hoạt động cho vay chiếm quy
mô lớn hơn và ổn định hơn. Trong năm 2012, tỷ lệ dư nợ/ tổng tài sản trung bình của các
ngân hàng trên trong là 51.15%, tỷ lệ dư nợ/tổng tài sản trung bình của toàn hệ thống là
57% thấp hơn một số quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Bảng 1.5 Cơ cấu tài sản của ngân hàng trong khu vực châu Á Thái Bình Dương
Úc Trung
Quốc
Singapore Thái Lan Việt Nam
Cho vay và ứng
trước khánh hàng
75% 50% 61% 64% 57%
Tiền gửi tại và cho
vay các tổ chức tín
dụng khác
– 2010 vẫn là giai đoạn phát triển nhanh chóng của các ngân hàng, mở rộng về quy mô,
số lượng chi nhánh, tăng trưởng tài sản và doanh thu với tỷ lệ cao, tăng trưởng tin dụng
và huy động luôn ở mức cao trên 20% (theo Báo cáo ngành Ngân hàng Việt Nam của
Vietcombank Securities, tháng 9-2011). Tuy vậy, hiệu quả thực sự lại không cao. Tỷ suất
thu nhập so với tài sản và vốn chủ sở hữu cao nhưng không ổn định trong trường hợp
của Vietcombank, Eximbank, Vietinbank, Techcombank. Một số ngân hàng với quy mô
nhỏ hơn như SHB, HD Bank, VIB có tỷ suất thấp. Đồng thời như đã phân tích ở phần
15
2.2, các ngân hàng có chi phí hoạt động so với tổng thu từ hoạt động quá cao. Từ năm
2008 đến nay, chi phí hoạt động vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả cùng với sự đi xuống
của toàn hệ thông ngân hàng dẫn đến ROA và ROE của các ngân hàng giảm mạnh trong
năm 2011 và 2012. Sự tác động của nền kinh tế suy thoái đã bộc lộ nhiều hạn chế trong
hoạt động ngân hàng, một trong số đó là thiếu tính hiệu quả bền vững.
16
2.2 Phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng thông qua mô hình hồi quy tuyến
tính
2.2.1 Công thức mô hình và ước lượng hàm chi phí dạng logarit
Theo Hunter và Timme (1986), bài báo cáo sẽ sử dụng hàm chi phí dạng logarit
để ước lượng hàm chi phí cho thấy được nhiều kết quả khái quát hơn và ít hạn chế hơn
so với hàm Cobb-Douglas
(1)
Trong đó:
- TC là tổng chi phí
- Q là các khoản cho vay
- WL, WK và WD lần lượt là giá đầu vào của nhân viên, vốn và các khoản tiền
gửi
Các số liệu đầu vào được sử dụng bao gồm nhân công, vốn và tiền gửi.
Chi phí cho nhân viên bao gồm lương và các lợi ích khác. Chi phí vốn bao gồm
khấu hao trụ sở, đất đai, thiết bị, cộng với các khoản phải trả tiền thuê hằng năm trừ cho
các khoản chuyển nhượng. Chi phí lãi bằng tổng chi phí trả lãi tiền gửi hàng năm và các
18
chế về mặt dữ liệu, chỉ có 9 ngân hàng đáp ứng đủ các số liệu cho việc tính toán và ước
lượng, bao gồm các ngân hàng theo thứ tự sau:
1. Vietinbank
2. VIB Bank
3. SHB
4. MB Bank
5. Dong A Bank
6. Techcombank
7. Eximbank
8. ACB
9. Vietcombank
Số liệu tính toán các biến được trình bày trong phụ lục
Tiến hành ước lượng hàm hồi quy trên Eview ta được
19
Với giá trị X và Y là các biến phụ, ta ước lượng được các hệ số trong công thức như sau
Bảng 2.1 Ước lượng các hệ số
Hệ số Ước lượng t-satistic
-109.4734 -2.2992
12.73529 2.480781
-0.605029 -1.880979
7.969672 0.862670
-4.519899 -0.561822
5.873325 0.767273
0.326534 0.212978
-0.645473 -3.356511
1.400713 1.142282
-11.05600 -0.700713
0.185341 0.149915
-0.040389 -0.157679
0.3292989606*AM
Theo ước lượng hàm hồi quy, ROA nghịch biến với tổng tài sản và tỷ số hiệu quả hoạt
động, đồng biến với tỷ số quản lý tài sản. Điều này tương tự như kết quả nghiên cứu của
Ahmad Almazari (2011) đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, biến TA và OE có Prob > , do vậy
không phù hợp với mô hình. Mô hình có R-square = 0.2972, tức là các biến độc lập chỉ
giải thích được khoảng 29.72% sự thay đổi của ROA. Do đó, mô hình với ROA vẫn
chưa phải là mô hình tốt để phân tích hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt
Nam.
2.3 Một số kiến nghị về hoạt động của các ngân hàng thương mại
2.3.1 Đa dạng hóa các loại hình kinh doanh
Doanh thu của các ngân hàng Việt Nam phần lớn đến từ hoạt động cho vay.
Thu nhập từ dịch vụ chỉ chiếm phần nhỏ. Trên thực tế, dù hầu hết các ngân hàng
trong nước đều có các dịch vụ hiện đại, song chưa thu hút nhiều khách hàng tham
gia. Nguyên nhân là do các ngân hàng chưa tạo được thương hiệu, nhất là các ngân
22
hàng nhỏ như VIB, SHB, HD Bank Chất lượng dịch vụ còn thấp, điển hình là dịch
vụ tại các máy rút tiền ATM của các ngân hàng thương xuyên gây khó khăn cho phần
lớn khách hàng, khi mà số lượng các máy ATM không đủ đáp ứng nhu cầu, thu phí
bảo trì nhưng hiệu quả bảo trì kém hay hiện tượng thiếu hụt tiền vào các dịp lễ. Ngoài
ra còn có lý do khách quan từ nền kinh tế chưa đủ độ lớn, vẫn nặng tính thanh toán
bằng tiền mặt phần nào hạn chế sự phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Đa
dạng hóa các loại hình dịch vụ sẽ giúp đa dạng hóa các nguồn thu, giảm thiểu rủi ro
phụ thuộc vào hoạt động tín dụng. Để làm được điều này, các ngân hàng nên phát
triển các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại, đầu tư và nâng tầm chất lượng các
dịch vụ sẵn có như Internet Banking, Home Banking, SMS Banking, Mobile
Banking, ví điện tử , chú trọng các dịch vụ tiền tệ ngắn hạn trên thị trường liên ngân
hàng như chiết khấu, tái chiết khấu
Đa dạng hóa sản phẩm là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân
hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như tối đa hóa lợi nhuận ngân hàng. Điều
này đòi hỏi các ngân hàng phải tập trung vào những sản phẩm có hàm lượng công
như hiện nay, các ngân hàng đang tích cực cắt giảm các khoản chi phí bằng cách tiết
giảm tối đa các chi phí trong hoạt động, chi phí nhân sự, hạn chế chia cổ tức, lợi
nhuận Tuy nhiên, vấn đề cần được lưu tâm hơn nữa là việc nâng cao năng suất lao
động và chất lượng nhân viên, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thực sự của hệ
thống ngân hàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần xem xét quy mô hoạt động tương
xứng với khả năng quản trị và điều hành của mình, điều chỉnh số lượng các chi nhánh
và phòng giao dịch phù hợp với tình hình nền kinh tế và yêu cầu phát triển bền vững,
tránh tình trạng duy trì các hoạt động không hiệu quả, làm tăng các chi phí phát sinh,
tạo gánh nặng cho toàn hệ thống. Ngoài ra, các ngân hàng cũng nên thận trọng hơn
đối với các hoạt động kinh doanh khác ngoài tín dụng. Các khoản lỗ từ các hoạt động
này cũng làm tăng đáng kể chi phí qua các năm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân
hàng.
24
3 KẾT LUẬN
25