Chương I : TỔNG QUAN.
I . GIỚI THIỆU:
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong ngành
điện tử với những bước tiến vượt bậc về lónh vực vi xử lý và các vi mạch số đã
thực sự mang lại những hiệu qủa chính xác và gọn nhẹ trong quá trình điều
khiển, sản xuất. Do đó việc chế tạo robot để phục vụ cho con người trong lónh
vực sản xuất đối với chúng ta không còn là vấn đề quá xa vời. Tập đồ án này
trình bày những nghiên cứu và thiết kế một chiếc xe được điều khiển bởi chip vi
điều khiển 8051 để có thể di chuyển trong các nhà xưởng, xí nghiệp và thực
hiện một công việc nào đó thay cho con người.
II . GIỚI HẠN ĐỀ TÀI :
Với thời gian thực hiện đề tài, cũng như trình độ chuyên môn có
hạn, em đã cố gắng hết sức để hoàn thành tập luận văn này, nhưng chỉ
giải quyết được những vấn đề sau :
- Xe di chuyển theo những lộ trình đònh trước bằng cách kẽ sẵn
những đường vạch sáng dưới sàn có màu tối.
- Xe hoạt động trong khoảng thời gian từ 0 đến 99 phút.
- Tại mỗi điểm dừng xe chỉ bật đèn báo hiệu thay vì phải làm
một công việc tương ứng.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Mục đích trước hết khi thực hiện đề tài này là để hoàn tất
chương trình môn học để đủ điều kiện ra trường .
Cụ thể khi nghiên cứu thực hiện đề tài là chúng em muốn phát
huy những thành quả ứng dụng của vi điều khiển nhằm tạo ra những
sản phẩm, thiết bò tiên tiến và đạt hiệu quả cao trong sản xuất.
Ngoài ra quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài là một cơ hội để
chúng em tự kiểm tra lại những kiến thức đã được học ở trường, đồng
thời phát huy tính sáng tạo, khả năng giải quyết một vấn đề theo yêu
cầu đặt ra. Và đây cũng là dòp để chúng em tự khẳng đònh mình trước
khi ra trường để tham gia vào các hoạt động sản xuất của xã hội.
IV . KHÁI QUÁT VỀ ĐỀ TÀI:
4, 5 : Bộ phận cảm biến đặt dưới xe.
6 : Vạch màu trắng được kẻ sẵn dưới sàn có màu tối.
7 : Tín hiệu dừng xe trên đường di chuyển.
Hình 1.2: Mô tả quá trình chuyển động của xe.
Nguyên lý hoạt động của xe:
Sau khi thời gian vận hành (tính bằng phút) được nhập vào từ
bàn phím, để kích khởi cho xe hoạt động ta ấn phím Go/Stop. Lúc này,
bit trạng thái “Run” được thiết lập, 8051 sẽ đọc byte dữ liệu có chứa
thời gian vận hành để biết thời gian hoạt động của xe, sau đó điều
khiển hai motor kéo hai bánh xe (2) và (3) ở hai bên thành xe quay, xe
sẽ di chuyển về phía trước. Đồng thời bộ phận cảm biến (4) và (5) ở
dưới xe cũng hoạt động. Giả sử xe chạy lệch khỏi vạch trắng và bộ
phận cảm biến (4) đang ở phía trên vạch trắng thì bộ phận cảm biến
này sẽ gởi tín hiệu thông báo về cho chip 8051, để từ đó điều khiển cho
motor kéo bánh xe (3) quay vói tốc độ nhanh hơn đồng thời giảm tốc độ
quay của bánh xe (2) nhằm làm cho xe tiếp tục chuyển động đúng
hướng dọc theo vạch trắng đã kẻ dưới sàn. Nhờ đặc tính này mà ta có
thể cho xe chuyển động thẳng, quay phải hay trái tuỳ ý bằng cách kẻ
lên sàn những đường vạch trắng theo lộ trình đònh trước.
Đồng thời trong quá trình chuyển động của xe, bộ hiển thò led 7
đoạn sẽ hiển thò thời gian còn lại mà xe phải hoạt động theo từng phút
cho đến khi hết thời gian thì hiển thò tín hiệu stop và sẵn sàng để nhận
dữ liệu cho quá trình vân hành tiếp theo.
Trong quá trình vận hành của xe, nếu gặp phải tín hiệu dừng
trên đường đi, tín hiệu này là một vạch trắng được kẽ dưới sàn, thì xe
sẽ dừng lại trong một khoảng thời gian đồng thời bật đèn báo hiệu, ứng
với công việc mà xe phải làm tại mỗi điểm dừng, sau đó vượt qua tín
hiệu dừng này và tiếp tục di chuyển như trên.
Ngoài ra, nếu xe đang hoạt động mà ta ấn nút Go/Stop thì xe sẽ
dừng lại và bộ hiển thò tín hiệu stop.
mã lệnh, vùng nhớ dữ liệu và số bộ đònh thời. Sự khác nhau đó được mô
tả bằng bảng sau đây:
7
Vi điều khiển
Vùng mã lệnh
nội
Vùng dữ liệu
nội
Số bộ đònh thời
8051
8031
8751
8052
8032
8732
8752
4K ROM
0K
4K EPROM
8K ROM
0K
4K EPROM
8K EPROM
128 bytes
128 bytes
128 bytes
256 bytes
256 bytes
256 bytes
256 bytes
RST PSENCác thanh
ghi khác
128 byte
RAM
ROM
0K-8031/8032
4K-8051
8K-8052
Timer 1
Timer 0
Điều khiển
ngắt
Điều khiển
bus
CPU
Port nối
tiếp
Các port I/O
Mạch dao
động
INT1*
INT0*
TIMER 2
TIMER 1
TIMER 0
PORT nối tiếp
9
17
16
15
14
13
12
11
10
RD\
WR\
T1
T0
INT1
INT0
TXD
RXD
A15
A14
A13
A12
A11
A10
A9
A8
28
27
26
25
24
AD4
AD3
AD2
AD1
AD0
P1.7
P1.6
P1.5
P1.4
P1.3
P1.2
P1.1
P1.0
P2.7
P2.6
P2.5
P2.4
P2.3
P2.2
P2.1
P2.0
PSEN
ALE
EA
RST
20
Vss
30p
30p
Vcc
0.
P3.5 T1 Ngõ vào củaTIMER/COUNTER thứ
1.
P3.6 WR\ Tín hiệu ghi dữ liệu lên bộ nhớ ngoài
10
P3.7 RD\ Tín hiệu đọc bộ nhớ dữ liệu ngoài.
Bảng 1.2: Chức năng của các chân của port 3.
• Chân cho phép bộ nhớ chương trình PSEN\ (Program store enable):
Tín hiệu PSEN\ là tín hiệu ngõ ra ở chân 29 có tác dụng cho phép
truy xuất bộ nhớ chương trình mở rộng thường được nối đến chân OE\
(output enable) của EPROM cho phép đọc các byte mã lệnh.
Tín hiệu PSEN\ ở mức thấp trong thời gian Microcontroller 8051
tìm nạp lệnh. Các mã lệnh của chương trình được đọc từ EPROM qua
bus dữ liệu và được chốt vào thanh ghi lệnh IR bên trong 8051 để giải
mã lệnh. Khi 8051 thi hành chương trình trong EPROM nội PSEN\ sẽ ở
mức logic 1.
• Chân cho phép chốt đòa chỉ ALE (Address Latch Enable):
Khi 8051 truy xuất bộ nhớ bên ngoài, port 0 có chức năng là bus
đòa chỉ và bus dữ liệu đa hợp do đó phải tách các đường dữ liệu và đòa
chỉ. Tín hiệu ra ALE ở chân thứ 30 dùng làm tín hiệu điều khiển để giải
đa hợp các đường đòa chỉ và dữ liệu. Khi port 0 được sử dụng làm bus
đòa chỉ/dữ liệu đa hợp, chân ALE xuất tín hiệu để chốt đòa chỉ vào một
thanh ghi ngoài trong suốt ½ đầu của chu kỳ bộ nhớ. Sau khi điều này
đã được thực hiện, các chân của port 0 sẽ xuất nhập dữ liệu hợp lệ
trong suốt ½ thứ 2 của chu kỳ bộ nhớ.
Tín hiệu ALE có tần số bằng 1/6 lần tần số dao động trên chip và
có thể được dùng làm tín hiệu clock cho các phần khác của hệ thống.
Ngoại lệ duy nhất là trong thời gian thực thi lệnh MOVX, một xung
ALE sẽ bò bỏ qua. Chân ALE được dùng làm ngõ vào xung lập trình
cho EPROM trên chip đối với các phiên bản của 8051 có EPROM này.
và 3 là 4 tải vi mạchTTL loại Schottky công suất thấp (LS), còn của
port 0 là 8 tải loại LS. Lưu ý là điện trở kéo lên sẽ không có ở port 0
(trừ khi port này làm nhiệm vụ của bus đòa chỉ/dữ liệu đa hợp), do vậy
một điện trở kéo lên bên ngoài phải được cần đến.
12
Chân
Port
Ghi
chốt
Đọc
chốt
Đọc
chân
Bus nội của 8051
D Q
Chốt
Port
Vcc
Hình 2.3 Sơ đồ mạch bên trong của các port xuất nhập.
Việc đọc chốt được phân biệt làm hai, đó là đọc bộ chốt và đọc
chân port. Sự phân biệt này nhằm chống trường hợp chập mạch do quá
tải gây nên. Lệnh đọc một bit cổng sẽ đọc chân của cổng. Trong
trường hợp này, chốt phải được giữ ở mức cao, nếu không FET sẽ được
kích bảo hoà và ngõ ra xuống mức thấp. Tất cả các chốt của port đều
được set khi reset hệ thống. Như vậy các chân chốt đều được dùng như
ngõ vào mà không cần phải set chốt. Tuy nhiên, nếu đã xóa chốt không
thể đọc dữ liệu đúng từ chân port trừ khi set chốt trở lại.
4. Tổ chức bộ nhớ:
8051 có những vùng bộ nhớ riêng biệt cho chương trình và dữ
RD & WR
Bộ nhớ
ngoài
Hình 2.4: Tóm tắt các vùng nhớ của chip 8031(không có ROM nội).
Như ta đã thấy ở hình vẽ trên RAM bên trong 8051 được phân chia như
sau:
- Các bank thanh ghi có đòa chỉ từ 00H đến 1FH.
- RAM đòa chỉ hóa từng bit có đòa chỉ từ 20H đến 2FH.
- RAM đa dụng từ 30H đến 7FH.
- Các thanh ghi chức năng đặc biệt từ 80H đến FFH.
14
a. Vùng RAM đa mục đích:
Đòa chỉ đòa chỉ
byte đòa chỉ bit byte đòa chỉ bit
7F FF
F0 F7 F6 F5 F4 F3 F2 F1 F0 B
RAM đa dụng
E0 E7 E6 E5 E4 E3 E2 E1 E0 ACC
D0 D7 D6 D5 D4 D
3
D2 D1 D0 PSW
30 B8 - - - BC BB BA B9 B8 IP
2F 7F 7E 7D 7C 7B 7A 79 78
2E 77 76 75 74 73 72 71 70 B0 B7 B6 B5 B4 B3 B2 B1 B0 P.3
2D 6F 6E 6D 6C 6B 6A 69 68
2C 67 66 65 64 63 62 61 60 A8 AF AC AB AA A9 A8 IE
2B 5F 5E 5D 5C 5B 5A 59 58
2A 57 56 55 54 53 52 51 50 A0 A7 A6 A5 A4 A3 A2 A1 A0 P2
29 4F 4E 4D 4C 4B 4A 49 48
28 47 46 45 44 43 42 41 40 99 không được đòa chỉ hoá bit SBUF
Ý tưởng truy xuất từng bit bằng phần mềm là các đăëc tính mạnh
của hầu hết các bộ vi điều khiển. Các bit có thể được đặt, xóa, AND,
OR, … bằng một lệnh đơn. Đa số các microcontroller xử lý đòi hỏi một
chuỗi lệnh đọc-sửa- ghi để nhận được cùng một kết quả. Ngoài ra các
port cũng có thể truy xuất được từng bit.
8051 có 128 bit được đònh đòa chỉ và có nhiều mục đích ở các byte
có đòa chỉ từ 20H -2FH. Các đòa chỉ này được truy xuất như là các byte
hay các bit tuỳ thuộc vào lệnh được dùng.
c. Các dãy thanh ghi :
32 byte thấp nhất của bộ nhớ nội chứa các dãy thanh ghi. Các
lệnh của 8051 hổ trợ 8 thanh ghi từ R0 đến R7 thuộc dãy 0. Đây là dãy
mặc đònh sau khi reset hệ thống các thanh ghi này ở các đòa chỉ từ 00H
đến 07H.
Các lệnh dùng các thanh ghi từ R0 đến R7 thì sẽ ngắn hơn và
nhanh hơn các lệnh tương ứng nhưng dùng đòa chỉ trực tiếp. Các giá trò
dữ liệu được dùng thường xuyên nên dùng một trong các thanh ghi
này. Dãy thanh ghi tích cực có thể chuyển đổi bằng cách thay đổi các
bit chọn dãy thanh ghi trong từ trạng thái chương trình PSW.
Ý tưởng dùng “các dãy thanh ghi” cho phép “chuyển đổi ngữ
cảnh” chương trình nhanh và hiệu qủa ở những nơi mà các phần riêng
16
rẽõ của phần mềm sử dụng một tập thanh ghi riêng, độc lập với các
phần khác của phần mềm.
5 . Các thanh ghi có chức năng đặc biệt (SFR: Special Function
Register):
Các thanh ghi nội của 8051 được truy xuất rõ ràng bởi một tập
lệnh. Các thanh ghi trong 8051 được cấu hình như một phần của RAM
trên chip vì vậy mỗi thanh ghi sẽ có một đòa chỉ. Cũng như R0 đến R7,
8051 có 21 thanh ghi có chức năng đặc biệt SFR ở vùng trên của RAM
nội từ đòa chỉ 80H đến FFH. Dưới đây là một vài trong số các thanh ghi
- Gián tiếp.
- Tức thời.
- Tương đối.
- Tuyệt đối.
- Dài.
- Chỉ số.
2. Các loại lệnh của 8051:
Các lệnh của 8051 được chia làm 5 nhóm:
- Nhóm lệnh số học.
- Nhóm lệnh logic.
- Nhóm lệnh di chuyển dữ liệu.
- Nhóm lệnh xử lý bit.
- Nhóm lệnh rẽ nhánh.
III. HOẠT ĐỘNG ĐỊNH THỜI CỦA 8051:
1. Giới Thiệu:
Một bộ đònh thời là một chuỗi các flip flop với mỗi flip flop là một
mạch chia 2, nó nhận tín hiệu vào là một nguồn xung clock, xung clock
được đưa vào flip flop thứ nhất, flip flop này chia đôi tần số xung clock.
Ngõ ra của flip flop thứ nhất trở thành nguồn xung clock cho flip flop
thứ hai, và nó cũng chia tần số xung clock này cho 2, cứ tiếp tục như
vậy. Vì mỗi tầng kế tiếp nhau đều chia cho 2, nên bộ đònh thời có n
tầng phải chia tần số clock ngõ vào cho 2
n
.
18
Ngõ ra của tầng cuối cùng là xung clock của flip flop báo tràn bộ
đònh thời, cờ này được kiểm tra bởi phần mềm hoặc tạo ra một ngắt.
Giá trò nhò phân trong các flip flop của bộ đònh thời là số đếm của các
xung clock từ khi bộ đònh thời bắt đầu đếm.
Các bộ đònh thời được sử dụng trong hầu hết các ứng dụng hướng
a. Chế độ đònh thời 13-bit (chế độ 0) :
Chế độ 0 là chế độ đònh thời 13-bit, trong đó byte cao của bộ
đònh thời (Thx) được ghép cascade với 5 bit thấp của byte thấp của bộ
đònh thời (TLx) để tạo thành một bộ đònh thời 13 bit. 3 bit cao của TLx
không dùng.
b. Chế độ đònh thời 16-bit (chế độ 1) :
Chế độ 1 là chế độ đònh thời 16 bit, tương tự như chế độ 0 ngoại
trừ bộ đònh thời này hoạt động như một bộ đònh thời đầy đủ 16 bit,
xung clock được dùng với sự kết hợp các thanh ghi cao và thấp (TLx,
THx). Khi xung clock được nhận vào, bộ bộ đònh thời đếm lên: 0000H,
0001H, 0002H, . . ., và một sự tràn sẽ xuất hiện khi có sự chuyển số
đếm từ FFFH sang 0000H và sẽ set cờ tràn bằng 1, sau đó bộ đònh thời
đếm tiếp. Cờ tràn là bit TFx trong thanh ghi TCON mà nó sẽ được đọc
hoặc ghi bởi phần mềm.
c. Chế độ tự nạp lại 8-bit (chế độ 2):
Chế độ 2 là chế độ tự nạp lại 8 bit, byte thấp TLx của bộ đònh
thời hoạt động đònh thời 8 bit trong khi byte cao THx của bộ đònh thời
giữ giá trò nạp lại. Khi bộ đếm tràn từ FFH sang 00H, không chỉ cờ
tràn được set mà giá trò trong THx cũng được nạp vào TLx: bộ đếm
được tiếp tục từ giá trò này lên đến sự chuyển trạng thái từ FFH sang
00H kế tiếp và cứ thế tiếp tục.
d. Chế độ đònh thời chia xẻ (chế độ 3):
Chế độ 3 là chế độ đònh thời chia xẻ và có hoạt động khác nhau
cho từng bộ đònh thời. Chế độ 3 cung cấp 1 bộ đònh thời 8-bit nữa là bộ
đònh thời thứ ba của 8051. Khi bộ đònh thời 0 ở chế độ 3, bộ đònh thời 1
có thể hoạt động hoặc tắt bằng cách chuyển bộ đònh thời này ra khỏi
chế độ 3 hoặc vào chế độ 3.Bộ đònh thời 1 có thể được dùng bởi Port
20
nối tiếp như là một máy phát tốc độ Baud, hoặc nó có thể dùng trong
hướng nào đó mà không sử dụng ngắt.
thời được bắt đầu, được xóa, các thanh ghi đònh thời được đọc và cập
nhật theo yêu cầu của từng ứng dụng cụ thể.
TMOD là thanh ghi đầu tiên được khởi gán, bởi vì đặt chế độ
hoạt động cho các bộ đònh thời.
Cờ tràn TFx tự động được set bởi phần cứng sau mỗi sự tràn và
sẽ được xóa bởi phần mềm. Chính vì vậy ta có thể lập trình chờ sau
mỗi lần tràn ta sẽ xóa cờ TFx và quay vòng lặp khởi gán cho TLx/THx
để bộ đònh thời luôn luôn bắt đầu đếm từ giá trò khởi gán lên theo ý ta
mong muốn.
IV. HOẠT ĐỘNG CỦA PORT NỐI TIẾP:
1. Giới thiệu:
8051 có một port nối tiếp trong chip có thể hoạt động ở nhiều
chế độ trên một dãy tần số rộng. Chức năng chủ yếu là thực hiện
chuyển đổi song song sang nối tiếp với dữ liệu xuất và chuyển đổi nối
tiếp sang song song với dữ liệu nhập.
Port nối tiếp cho hoạt động song công (full duplex: thu và phát
đồng thời) và đệm thu (receiver buffering) cho phép một ký tự sẽ được
thu và được giữ trong khi ký tự thứ hai được nhận. Nếu CPU đọc ký tự
thứ nhất trước khi ký tự thứ hai được thu đầy đủ thì dữ liệu sẽ không bò
mất.
Hai thanh ghi chức năng đặc biệt cho phép phần mềm truy xuất
đến port nối tiếp là: SBUF và SCON. Bộ đệm port nối tiếp (SBUF) ở
điạ chỉ 99H nhận dữ liệu để thu hoặc phát. Thanh ghi điều khiển port
nối tiếp (SCON) ở điạ chỉ 98H là thanh ghi có điạ chỉ bit chứa các bit
trạng thái và các bit điều khiển. Các bit điều khiển đặt chế độ hoạt
động cho port nối tiếp, và các bit trạng thái Báo cáo kết thúc việc phát
hoặc thu ký tự . Các bit trạng thái có thể được kiểm tra bằng phần
mềm hoặc có thể lập trình để tạo ngắt.
2. Thanh ghi điều khiển port nối tiếp:
22
xen thêm bit kiểm tra chẵn lẻ giữa bit dữ liệu cuối cùng và bit stop.
23
Hoạt động chủ yếu của UART là chuyển đổi song song sang nối tiếp với
dữ liệu nhập.
Ở chế độ 1, 10 bit được phát trên TXD hoặc thu trên RXD.
Những bit đó là: 1 bit start (luôn luôn là 0), 8 bit dữ liệu (LSB đầu tiên)
và 1 bit stop (luôn luôn là 1). Với hoạt động thu, bit stop được đưa vào
RB8 trong SCON. Trong 8051 chế độ baud được đặt bằng tốc độ báo
tràn của bộ đònh thời1.
c. Chế độ 2 (UART 9 bit với tốc độ baud cố đònh):
Khi SM1 = 1 và SM0 = 0, cổng nối tiếp làm việc ở chế độ 2, như
một UART 9bit có tốc độ baud cố đònh, 11 bit sẽ được phát hoặc
thu:1bit start, 8 bit data, 1 bit data thứ 9 có thể được lập trình và 1 bit
stop. Khi phát bit thứ 9 là bất cứ gì đã được đưa vào TB8 trong SCON
(có thể là bit Parity) .Khi thu bit thứ 9 thu được sẽ ở trong RB8. Tốc độ
baud ở chế độ 2 là 1/32 hoặc 1/16 tần số dao động trên chip.
d. Chế độ 3 (UART 9 bit với tốc độ baud thay đổi):
Chế độ này giống như ở chế độ 2 ngoại trừ tốc độ baud có thể lập
trình được và được cung cấp bởi Timer.Thật ra các chế độ 1, 2, 3 rất
giống nhau. Cái khác biệt là ở tốc độ baud (cố đònh trong chế độ 2, thay
đổi trong chế độ 1 và 3) và ở số bit data (8 bit trong chế độ 1,9 trong
chế độ 2 và 3).
4. Khởi động và truy xuất các thanh ghi cổng nối tiếp:
Cho Phép Thu:
Bit cho phép bộ thu (REN = Receiver Enable) trong thanh ghi
SCON phải được đặt lên 1 bằng phần mềm để cho phép thu các ký tự
thông thường thực hiện việc này ở đầu chương trình khi khởi động
cổng nối tiếp, bộ đònh thời…
Bit dữ liệu thứ 9:
Bit dữ liệu thứ 9 cần phát trong các chế độ 2 và 3 phải được nạp
V. HOẠT ĐỘNG NGẮT:
1. Giới thiệu:
25
Ngắt là hoạt động ngừng tạm thời một chương trình này để thi
hành một chương trình khác. Các ngắt có một vai trò quan trọng trong
thiết kế và khả năng thực thi của vi điều khiển. Chúng cho phép hệ
thống đáp ứng không cùng lúc tới một công việc và giải quyết một
công việc đó trong khi một chương trình khác đang thực thi. Một hệ
thống được điều khiển bằng ngắt cho ảo giác là làm nhiều việc đồng
thời.
Dó nhiên CPU không thể thực thi nhiều hơn một lệnh ở một thời
điểm nhưng CPU có thể ngưng tạm thời việc thực thi một chương trình
để thực thi một chương trình khác, rồi quay về chương trình đầu khi có
yêu cầu ngắt. Chương trình xủ lý một ngắt được gọi là chương trình
phục vụ ngắt (ISR : Interrupt Sevice Reutine).
2. Tổ chức ngắt:
Có 5 nguyên nhân tạo ra ngắt đối với 8051: hai ngắt do bên
ngoài, hai ngắt do bộ đònh thời và một ngắt do port nối tiếp, tất cả các
nguồn ngắt bò cấm sau khi reset hệ thống và cho phép bởi phần mềm.
a. Cho phép và không cho phép ngắt:
Mỗi nguồn ngắt được cho phép hoặc không cho phép từng ngắt
một qua thanh ghi chức năng đặt biệt đònh đòa chỉ bit, thanh ghi cho
phép ngắt IE (Interrupt Enable) ở đòa chỉ 0A8H. Cũng như các bit cho
phép mỗi nguồn ngắt, có một bit cho phép hoặc cấm toàn bộ được xóa
để cấm tất cả các ngắt hoặc được đặt lên 1 để cho phép tất cả các
ngắt.
b. Ưu tiên ngắt:
Mỗi nguồn ngắt đïc lập trình riêng vào một trong hai mức ưu
tiên qua thanh ghi chức năng đặc biệt được đòa chỉ bit, thanh ghi ưu
tiên ngắt IP (Interrupt priority) ở đòa chỉ 0B8H.
Bộ đònh thời 1
Port nối tiếp
RST
IE0
TF0
IE1
TF1
TI hoặc RI
0000H
0003H
000BH
0013H
001BH
0023H
Bảng 2.1: Các vector ngắt.
27