khảo sát ảnh hưởng của việc bấm răng cho heo con lúc 1 ngày tuổi và 3 ngày tuổi tới sự sinh trưởng, tỷ lệ bệnh heo con từ lúc sơ sinh đến cai sữa - Pdf 13



iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng việc bấm răng heo con lúc 1 ngày tuổi và 3
ngày tuổi tới sự sinh trưởng, tỷ lệ bệnh trên heo con từ lúc sơ sinh đến cai sữa”.
Đề tài được thực hiện trên 120 heo con, được chia làm hai lô: bấm răng 1 ngày tuổi
và 3 ngày tuổi. Khảo sát trên một số chỉ tiêu: tăng trọng bình quân, tỷ lệ tiêu chảy, tỷ
lệ heo còi, tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa, số lần bú, thời gian bú, tỷ lệ bệnh
khác. Các kết quả được ghi nhận như sau:

- Trọng lượng cuối kỳ và tăng trọng tích lũy của lô II (410,5 kg;321,1 kg) cao
hơn lô I (374,6 kg; 284,8 kg).
- Mức tăng trọng trung bình của heo ở lô II (0,191 kg) cao hơn lô I (0,17 kg),
nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa với P > 0,05.
- Tỉ lệ tiêu chảy trên lô I (63,8%) cao hơn lô II (50%) nhưng không có ý nghĩa
P > 0,05.
- Tỉ lệ ngày con tiêu chảy ở lô I (9,73%) cao hơn lô II (7,14%), sự khác biệt này
có ý nghĩa với P < 0,05
- Tỉ lệ heo còi ở lô I (39,66%) cao hơn lô II (17,24%), sự khác biệt này có ý
nghĩa với P < 0,05.
- Tỉ lệ heo con chết ở 2 lô thí nghiệm đều là (3,45%).
- Thời gian bú ở lô II cao hơn lô I là 41,38%.
- Tỉ lệ xây sát trên heo con ở lô I là (8,33%) và ở lô II là (38,33%).
iv


2.5.1.2. Viêm vú - Kém sữa 8 v

2.5.1.3. Bại liệt 8
2.5.1.4. Sót nhau 9
2.5.2. Đối với heo con 9
2.6. Một số đặc điểm sinh lý ở cơ thể heo nái và heo con 10
2.6.1. Một số đặc điểm sinh lý heo nái nuôi con 10
2.6.1.1. Sản lượng sữa heo nái 10
2.6.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa 10
2.6.2. Đặc điểm heo con theo mẹ 11
2.6.2.1. Đặc điểm sinh lý cơ thể heo con theo mẹ 11
2.6.2.2. Đặc điểm hệ thống miễn dịch và sự hấp thu kháng thể trong sữa đầu trên heo
con 12
2.7. Bộ răng 14
2.7.1 Cấu tạo răng 14
2.7.2. Các loại răng 15
2.7.2.1. Răng cửa 15
2.7.2.2. Răng nanh 15
2.7.2.3. Răng tiền hàm và răng hàm 16
2.7.3. Một số nghiên cứu trước đây liên quan đế việc cắt răng trên heo con sơ sinh 16
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 17
3.1. Thời gian và địa điểm khảo sát 17
3.2. Đối tượng khảo sát 17
3.3. Dụng cụ và nội dung khảo sát 17
3.3.1. Dụng cụ 17
3.3.2. Nội dung 17
3.4. Phương pháp tiến hành 18
vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Trọng lượng cuối kỳ, tăng trọng tích lũy giữa 2 lô 23
Bảng 4.2. So sánh mức tăng trọng trung bình giữa 2 lô 24
Bảng 4.3. So sánh tỉ lệ tiêu chảy của 2 lô 27
Bảng 4.4. So sánh tỉ lệ ngày con tiêu chảy ở 2 lô 28
Bảng 4.5. So sánh tỉ lệ heo còi 30
Bảng 4.6. Tỉ lệ chết trên heo con 30
Bảng 4.7. So sánh tổng thời gian bú và tổng số lần bú trên 2 lô 31
Bảng 4.8. Số lần bú và thời gian bú trung bình trên mỗi heo con 31
Bảng 4.9. So sánh tỉ lệ trầy đầu giữa 2 lô 32
1

Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngành chăn nuôi heo ở nước ta hiện nay đang rất phát triển. Do đó ta cần phải
áp dụng những biện pháp khoa học kỹ thuật, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt nhất để tác
động đến sức khỏe và sự sinh trưởng của heo nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Trong đó, việc tác động đến heo trong giai đoạn từ lúc sơ sinh đến cai sữa là hết sức


3 Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan
2.1.1. Vị trí trại chăn nuôi
Ấp 1, xã Thường tân, Huyện Tân Uyên, Tỉnh Bình Dương

2.2.3. Chuồng sàn cai sữa
Chuồng sàn cai sữa được làm bằng sắt 1,9 m x 1,8 m, cao 0,4m, mỗi ô trung
bình là 10-12 con, có 1 máng ăn và 1 núm uống tự động.
- Ưu điểm
+ Chuồng luôn khô ráo.
+ Tiện cho việc vệ sinh và chăm sóc.
2.2.4. Chuồng heo thịt
Là chuồng nền nuôi theo kiểu tập thể. Nền được xây dốc 3 -5%, vách xây
tường. Mỗi ô trung bình là 12 con. Chuồng được bố trí 1 máng ăn và 1 núm uống tự
động.
- Ưu điểm
+ Ít tốn công cho ăn.
+ Thức ăn ít bị rơi.
+ Heo ăn, uống tự do.
2.3. Thức ăn, nguồn nước và xử lý chất thải.
2.3.1. Thức ăn
- Cám dùng cho heo con tập ăn: Hiro 551 của CP
+ Đạm tối thiểu : 14%
+ Protein thô : 20%
+ Xơ thô : 5%
+ Năng lượng trao đổi tối thiểu : 3300 kcal/kg
+ Ca (tối thiểu-tối đa) : 0,6-0,9%
+ P : 0,6%
+ NaCl (tối thiểu-tối đa) : 0,4-0,75% 5

+ Colistin tối đa : 88 mg/kg
- Cám cho heo cai sữa: Hiro 552S của CP


6

+ Ca (tối thiểu-tối đa) ; 0,5-0,8%
+ P : 0,5%
+ NaCl (tối thiểu-tối đa) : 0,3-0,7%
+ Methionine + Cystine : 0,45%
+ Lysine : 0,9%
+ Threonine : 0,5%
+ Aflatoxin : 200(ppb)
2.3.2. Nguồn nước
Trại sử dụng nước giếng, giếng nước được khoang sâu 40m, nước được chứa
trên bồn xây cao 6m và được phân phối xuống trại bằng hệ thống ống dẫn vào các dãy
chuồng dùng cho heo uống.
2.3.3.Xử lý chất thải
Do trại làm mô hình vườn – ao – chuồng nên tất cả phân hàng ngày đều được
đưa xuống ao qua hệ thống ống dẫn.
2.4. Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng
2.4.1. Đối với heo nái
Nái chửa trước khi sinh 7-10 ngày được chuyển từ chuồng nái khô và mang thai
sang lồng nái đẻ, nuôi con kèm theo thẻ nái và phiếu điều trị cho từng nái. Chuồng đẻ
trước đó phải rửa sạch và sát trùng bỏ trống 7 ngày.
Nái chửa sắp sinh được tắm mỗi ngày một lần, cho ăn từ 3,5-4 kg mỗi ngày, sau
đó giảm dần từ 2,5-3 kg hoặc 2 kg/con, mỗi ngày cho ăn hai bữa: sáng vào lúc 6h30,
chiều vào lúc 14h.
3 ngày trước khi sinh lượng thức ăn được giảm dần. sau đó tăng dần lên tùy
theo số lượng heo con theo mẹ.
Áp dụng công thức:
Nái nuôi con: 1,5 kg + (0,5*X)
X: số heo con theo mẹ.

2.5.1. Ở heo nái
Ở heo nái sau khi sinh thường xuất hiện một số bệnh như sau:
2.5.1.1. Viêm tử cung
Bệnh xuất hiện trên nái sau khi sinh, nhiệt độ cơ thể tăng lên 1,5 – 2
0
C, sốt cao, bỏ
ăn, có 2 dạng:
- Dạng nhờn: dịch chảy ra từ tử cung lỏng, trong, lợn cợn, có mùi tanh, đôi khi
đục. 8

Điều trị:
Bơm rữa tử cung bằng dung dịch thuốc tím (KMnO
4
1‰), 2 lần/ngày, liên tiếp
3 ngày.
Cấp vitamin C, kháng sinh và glucose 5%.
- Dạng mủ: mủ chảy ra có màu trắng đục, có khi màu vàng xanh dính trên mép
âm hộ, sền sệt, đọng vũng trên nền chuồng. Bệnh xuất hiện 12 – 36 giờ sau khi sinh.
Điều trị:
+ Thụt rữa tử cung bằng dung dịch thuốc tím (KMnO
4
1‰), 2 lần/ngày.
+ Tiêm Oxytetracyclin.
+ Cấp glucose 5%.
+ Cấp vitamin C, B12.
2.5.1.2. Viêm vú - Kém sữa
- Vú đỏ hồng, sưng nóng và có cảm giác đau khi sờ nắn, nái không cho bú hay nằm

xuống nền chuồng.
Biện pháp can thiệp:
Nếu phát hiện kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh thì khả năng điều trị khỏi rất
cao (80%). Khi công tác điều trị chưa dứt điểm để bệnh tái phát thì bệnh sẽ trầm
trọng hơn.
Khi bại liệt kết hợp chung với bệnh đẻ khó hay sa tử cung thì biện pháp can
thiệp sẽ khó khăn và kém hiệu quả.
Nếu do thần kinh xương chậu, cần sử dụng một số thuốc kích thích thần kinh.
Khi thú bại liệt do thiếu Calcium và Phospho, nên cung cấp các chất có
Calcium như các loại dược phẩm Gluconate calci, Calcium chloride.
2.5.1.4. Sót nhau
- Nguyên nhân:
Heo nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội
vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại, heo nái quá già, đẻ
nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém, không đẩy nhau ra được,….
- Biện pháp khắc phục:
Chăm sóc nuôi dưỡng heo nái đúng qui trình kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu chuồng
trại, vận động, thức ăn và dinh dưỡng, can thiệp kịp thời và đúng kỹ thuật,…. Tiêm
Oxytoxin để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết. Sau khi nhau ra hết, dùng
thuốc tím nồng độ 1‰ hoặc nước muối 9‰ để rửa tử cung trong 3 ngày liên tục. 10
2.5.2. Đối với heo con
Heo con trong giai đoạn theo mẹ thường thấy xuất hiện một số bệnh sau:
- Heo con còi, suy dinh dưỡng, xù lông, tiêu chảy. Heo con tiêu chảy do sữa mẹ
thiếu chất, heo lẻ bầy tiêu chảy khi mới nhập đàn,….
- Điều trị:
+ Cho uống:
Enzyme subtyl (men tiêu hoá)

Tro 6 6-10

2.6.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sữa
- Yếu tố di truyền.
- Số con nuôi.
- Tuổi và lứa đẻ.
- Dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc.
- Vị trí vú.
- Thời kì hết sữa trong chu kỳ và trong ngày.
- Bệnh tật.
- Chất dự trữ trong thời gian mang thai.
2.6.2. Đặc điểm heo con theo mẹ
2.6.2.1. Đặc điểm sinh lý cơ thể heo con theo mẹ
Heo con rất dễ bị tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, khí hậu,
điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.
Bộ máy tiêu hóa heo con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Trong quá
trình nuôi dưỡng thì mới hoàn thiện dần. Do đó khi thay đổi thức ăn cho heo mẹ ảnh
hưởng rất lớn đến heo con. Bộ máy tiêu hóa heo con có khả năng hấp thu chất béo cao
(béo chiếm 1/3 vật chất khô trong sữa), các chất bột đường, protein… được tiêu hóa
nhiều từ ngày 21 trở đi. Trong giai đoạn này, khả năng đề kháng kém. Do đó chăm sóc
nuôi dưỡng heo con theo mẹ tránh làm xao trộn đàn heo và vệ sinh tốt (Trần Thị Dân,
Dương Nguyên Khang, 2006). 12
Heo con đòi hỏi nhu cầu dinh dưỡng cao nên cần phải ăn nhiều bữa trong ngày.
Cơ chế điều hòa thân nhiệt kém, hệ thần kinh và cơ quan cảm thụ bên ngoài
kém. Do vậy, cơ chế điều hòa thân nhiệt không vững chắc. Cơ thể heo con phụ thuộc
nhiệt độ mội trường rất lớn dễ đưa đến nhiều bệnh lý.
Lớp mỡ dưới da heo sơ sinh rất ít, khả năng giữ thân nhiệt chống lạnh kém, mà

kháng thể mà những kháng thể đó có nguồn gốc từ các kháng thể được tạo ra bởi một
con vật khác và được truyền cho con vật đó qua sữa đầu hoặc kháng huyết thanh. Miễn
dịch chủ động đòi hỏi rằng hệ thống miễn dịch của con vật bị nhiễm trùng phải có
khoảng thời gian từ 7-10 ngày để khởi phát sản xuất kháng thể sau kích thích của
kháng nguyên. Các con vật vừa được sử dụng vaccine sẽ không có sức miễn dịch đầy
đủ cho đến khi quá trình miễn dịch được hoàn chỉnh. Trong khi đó kháng thể được
truyền một cách trực tiếp trong đáp ứng miễn dịch thu được bị động nên có đáp ứng
ngay lập tức.
Một sự khác biệt rất có ý nghĩa khác là miễn dịch thu được chủ động sau khi bị
nhiễm trùng hoặc sau khi dùng vaccine sẽ tồn tại trong một thời gian dài hơn nên sự
phòng hộ từ 4-6 tháng. Sự nhiễm lại bệnh hoặc tiêm phòng nhắc lại sẽ làm tăng mức
độ kháng thể (hoặc còn gọi là hiệu giá kháng thể) cao hơn hẳn so với lần phơi nhiễm
đầu tiên. Điều này được định nghĩa là phản ứng hồi ức (do trí nhớ miễn dịch) hoặc
phản ứng miễn dịch tăng cường.
Hiệu giá chỉ tồn tại từ 3-4 tuần đầu sau khi có được nhờ các biện pháp miễn dịch
thụ động. Vì thế heo con sau khi sinh trở nên mẫn cảm đối với các bệnh truyền nhiễm
khi mất dần khả năng miễn dịch có từ sữa đầu. Các kháng thể có trong sữa đầu có thể
ngăn cản hệ thống miễn dịch không phản ứng với kích thích ngay sau khi sử dụng
vaccine (Cary G. Pearl. Số tháng 9/2005. Quản lý và chăn nuôi lợn để đạt hiệu suất
cao tại Việt Nam. Hội thảo khoa học, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam).
Miễn dịch đặc hiệu nhờ sữa đầu:
Miễn dịch qua trung gian tế bào.
Sữa đầu của heo có chứa 10
7
tế bào bạch cầu/ml, trong đó có tới 26% là
Lymphocyte. Các tế bào Lympho này có thể hấp thu mà không bị hư hại, chúng còn có
khả năng vượt qua niêm mạc ruột vào hệ tuần hoàn bạch huyết, góp phần phòng vệ
cho cơ thể.
Miễn dịch dịch thể.
Heo con được sinh ra hầu như không có kháng thể trong huyết thanh. IgG, IgA,

Enzyme phân hủy protein trong tuyến tụy phát triển chưa đủ ở gia súc non.
Trong sữa đầu có anti-trypsin nên γ–globulin không bị tiêu hóa bởi trypsin.
Trong những ngày đầu sau khi sinh HCl, pepsinogen tiết ít do đó hoạt động của
pepsin ít nên γ–globulin dễ dàng hấp thu.
Nhờ những yếu tố này mà lượng kháng thể được hấp thu từ ruột trong 24 giờ sau
khi sinh giúp bảo vệ heo con chống nhiễm trùng và mầm bệnh trong những tuần đầu 15
cuộc sống. Ngoài ra kháng thể không được hấp thu từ sữa sẽ bảo vệ ống tiêu hóa
chống mầm bệnh.
Sau 36 giờ thì khả năng hấp thu giảm là do:
Bộ máy tiêu hóa thú non phát triển mạnh làm sự phân tiết enzyme tiêu hóa tăng do
đó hấp thu γ–globulin giảm.
Sự hiện diện của thể Deone trong sữa đầu đã ức chế hấp thu γ–globulin ở thời gian
sau.
2.7. Bộ răng
2.7.1 Cấu tạo răng
Theo Phan Quang Bá (2004), mỗi răng chia làm 3 phần:
-Vành răng là phần nhô lên mặt nướu.
-Chân răng là phần sâu trong ổ xương.
Ngoài ra, giữa vành răng và chân răng có một đoạn gắn chặt vào trong niêm nướu
gọi là phần cổ răng.
Vành răng được bao bọc bởi lớp men răng rất cứng, chân răng được bao bọc bởi
xương chân răng. Hai cấu trúc này gặp nhau ở cổ răng, phần trong của răng là cấu trúc
vôi hoá được gọi là ngà răng, giữa răng có một hốc gọi là tuỷ răng chứa mô liên kết
mềm, mạch máu và dây thần kinh.
Tuỷ răng kéo dài tận chân răng bởi ống chân răng thông với mô liên kết ngoài răng.
Răng được cố định chắc vào cổ xương răng nhờ các dây chằng nha chu.
2.7.2. Các loại răng

những gờ ngà răng nhô lên, đầu ngắn, có cổ, tròn, chân nhọn.
Răng hàm có 4 chân, những cặp chân phía trước cách xa nhau hơn.
Răng hàm là răng đơn, nhỏ và chỉ mọc 1 lần, 2 răng hàm kế tiếp thì lớn hơn, sát
nhau, hình quạt.
2.7.3. Một số nghiên cứu trước đây liên quan đế việc cắt răng trên heo con sơ sinh
Mục đích của việc cắt răng trên heo con nhằm làm giảm vết thương trên vú nái,
tránh viêm vú, heo mẹ đau dẫn tới giảm tiết sữa.
Một vài tác giả đã chứng minh được rằng việc cắt răng có ảnh hưởng đến sinh
trưởng và phát triển trên heo con từ sơ sinh đến cai sữa.
Theo Bùi Văn Trang, 2007 đã làm thí nghiệm trên 80 heo con trên 10 nái chia làm
2 nhóm: cắt răng 1 ngày tuổi và 3 ngày tuổi. Kết quả ghi nhận được như sau:
- Trọng lượng cuối kỳ của lô cắt răng 1 ngày tuổi thấp hơn lô 3 ngày tuổi.
- Tăng trọng tích lũy của lô cắt răng 1 ngày tuổi thấp hơn lô 3 ngày tuổi.
- Mức tăng trọng trung bình của lô 1 ngày tuổi cũng thấp hơn lô 3 ngày tuổi.
- Tỉ lệ tiêu chảy ở lô 1 ngày tuổi cao hơn lô 3 ngày tuổi. 17
Theo Gaelle Bataille, 2002 đã làm thí nghiệm trên 160 heo con thuộc 32 ổ đẻ chia
làm hai nhóm: đối chứng là không cắt răng và thí nghiệm là cắt răng.
Các kết quả ghi nhận được:
Trên nhóm heo đối chứng thì những vết thương trên vú mẹ chỉ bắt đầu xuất hiện
vào ngày thứ 7.
Quan sát bằng camera cho thấy nhóm thí nghiệm có thời gian mỗi lần bú ngắn hơn
lô đối chứng và trong 12 giờ đầu sau khi cắt răng các heo con có một số dấu hiệu
không ổn định (đau đớn, rên la).


- Tỷ lệ heo còi
- Tỷ lệ nuôi sống heo con sơ sinh đến cai sữa
- Tỷ lệ chết heo con
- Tình trạng bầu vú trên heo nái trong hai phương pháp bấm răng
- Số lần bú
- Thời gian bú
- Tỷ lệ bệnh khác 19
Các chỉ tiêu trên được so sánh trên 2 lô thí nghiệm bấm răng 1 ngày tuổi (lô I) và 3
ngày tuổi (lô II).
3.4. Phương pháp tiến hành
3.4.1. Cách bấm răng heo con
Heo con sinh ra trên mỗi hàm đã có sẵn 2 răng nanh và 2 răng cửa sữa góc
(răng cửa sữa thứ 3)
Trong lúc cắt răng 1 ngày tuổi, chúng tôi nhận thấy: răng heo con đã chuẩn bị
nụ những mầm răng cửa sữa số 1 và răng tiền hàm 3 hàm trên và hàm dưới, răng tiền
hàm số 4 hàm trên và hàm dưới.
Thao tác cắt răng: tay trái nắm ngang xương thái dương của đầu heo con sao
cho hai tai nằm vắt trên ngón út và áp út. Ngón cái và ngón áp út bóp nhẹ váo khóe da
miệng cho heo con há miệng ra. Tay phải dùng kiềm để bấm răng, sau đó sát trùng
bằng cồn iod. Chú ý: phải bấm sát chân răng và không sứt mép, bấm gãy gọn chứ
không bầm dập nát răng.

Hình 3.1. Thao tác cắt răng heo con20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status