thăm dò ảnh hưởng của chế phẩm supsolac trên sức sinh sản heo nái từ lứa 2 trở lên và chế phẩm supcreep trên sức sinh trưởng heo con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi - Pdf 13



iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Đề tài được tiến hành từ ngày 22/01/2008 đến 02/05/2008 tại trại chăn nuôi Hưng
Việt – tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Với mục đích: thăm dò ảnh hưởng của chế phẩm
Sup Solac trên sức sinh sản heo nái từ lứa 2 trở lên và chế phẩm Sup Creep trên sức
sinh trưởng heo con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi. Chúng tôi ghi nhận được kết quả sau:
Thăm dò ảnh hưởng chế phẩm Sup Solac trên sức sinh sản heo nái
 Trên heo nái
- Tỷ lệ viêm vú và viêm tử cung là 0% ở 2 lô thí nghiệm và đối chứng.
- Sản lượng sữa ở lô đối chứng là 122,85 kg/nái và thí nghiệm là 141,62 kg/nái.
Tăng khả năng tiết sữa là 18,77 kg/nái so với lô đối chứng.
- Khối lượng giảm trọng ở lô đối chứng là 12,06 kg/nái (giảm 6,18%) và thí
nghiệm là 10,19 kg/nái (giảm 5,52%). Giảm 1,78 kg/nái so với lô đối chứng.
- Không ảnh hưởng tới tỷ lệ lên giống lại sau cai sữa và thời gian lên giống.
 Trên heo con
- Tăng trọng lượng bình quân heo con lúc 21 ngày tuổi (tăng 0,33 kg/con so với
lô đối chứng).
- Tăng trọng lượng bình quân heo con lúc cai sữa (tăng 0,15 kg/con so với lô
đối chứng).
- Giảm có ý nghĩa tỷ lệ ngày con tiêu chảy (giảm 0,65% ở lô thí nghiệm,
P<0,01).
- Việc bổ sung chế phẩm đã không cải thiện được số con cai sữa, tỷ lệ nuôi
sống so với lô đối chứng.
Thăm dò ảnh hưởng chế phẩm Sup Creep trên sức sinh trưởng heo con
từ cai sữa đến 60 ngày tuổi
- Trọng lượng bình quân heo ở 60 ngày tuổi ở lô đối chứng và thí nghiệm lần
lượt là 19,68 kg/con và 19,90 kg/con ( P>0,05).
- Tăng trọng tuyệt đối chưa cải thiện ở cả 2 lô đối chứng và thí nghiệm (ĐC:


v

MỤC LỤC

Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt khóa luận iii
Mục lục v
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các biểu đồ x
Chương 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích 2
1.3. Yêu cầu 2
Chương 2. TỔNG QUAN 3
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1.1. Đặc điểm sinh lý heo nái giai đoạn nuôi con 3
2.1.2. Đặc điểm sinh lý heo con theo mẹ 4
2.1.3. Đặc điểm sinh lý heo con sau cai sữa 7
2.2. GIỚI THIỆU CHẾ PHẨM 7
2.2.1. Chế phẩm Sup Solac 8

3.3.1.2. Các chỉ tiêu khảo sát 25
3.3.2. Thí nghiệm bổ sung chế phẩm Sup Creep 27
3.3.2.1. Bố trí thí nghiệm 2 27
3.3.2.2. Các chỉ tiêu khảo sát 27
3.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 28
Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM BỔ SUNG CHẾ PHẨM SUP SOLAC 29
4.1.1. Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nái nuôi con 29
4.1.2. Kết quả các chỉ tiêu trên heo nái 30
4.1.2.1. Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú 30
4.1.2.2. Sản lượng sữa 30
4.1.2.3. Thời gian và tỷ lệ lên giống lại 32
4.1.2.4. Sự giảm trọng và tỷ lệ giảm trọng 33
4.1.3. Kết quả các chỉ tiêu trên heo con theo mẹ 34 vii
4.1.3.1. Số heo con sơ sinh trên ổ 34
4.1.3.2. Số heo con sơ sinh giao nuôi trên ổ 35
4.1.3.3. Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh giao nuôi 36
4.1.3.4. Số heo con bình quân trên ổ lúc cai sữa 36
4.1.3.5. Trọng lượng bình quân heo con 21 ngày 37
4.1.3.6. Trọng lượng bình quân heo con lúc cai sữa 38
4.1.3.7. Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 39
4.1.3.8. Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 40
4.1.4. Nhận xét chung về ảnh hưởng của chế phẩm Sup Solac 41
4.2. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM BỔ SUNG CHẾ PHẨM SUP CREEP 43
4.2.1. Chỉ tiêu tăng trọng 43
4.2.1.1. Trọng lượng trung bình lúc vào thí nghiệm 43
4.2.1.2. Trọng lượng trung bình lúc kết thúc thí nghiệm 44

P: xác suất sai
X
: trung bình
SD: Standard Deviation (độ lệch chuẩn)
FMD: Foot and Mouth Disease (bệnh lở mồm long móng)
Ig: Immunoglobulin (kháng thể)
ctv: cộng tác viên
ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang
Bảng 2.1: Thành phần chế phẩm Sup Solac 8
x

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Trang
Biểu đồ 4.1: Sản lượng sữa 31
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ lên giống 32
Biểu đồ 4.4: Khối lượng giảm trọng 33
Biểu đồ 4.5: Số heo con sơ sinh bình quân trên ổ 35
Biểu đồ 4.6: Số heo con sơ sinh giao nuôi trên ổ 35
Biểu đồ 4.7: Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh giao nuôi 36
Biểu đồ 4.8: Số heo con hình quân trên ổ lúc cai sữa 37
Biểu đồ 4.9: Trọng lượng bình quân heo con 21 ngày 38
Biểu đồ 4.10: Trọng lượng bình quân heo con lúc cai sữa 39
Biểu đồ 4.11: Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 40
Biểu đồ 4.12: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 41
Biểu đồ 4.13: Trọng lượng trung bình lúc vào thí nghiệm 43
Biểu đồ 4.14: Trọng lượng bình quân heo 60 ngày tuổi 44
Biểu đồ 4.15: Tăng trọng tuyệt đối 45
Biểu đồ 4.16: Tiêu thụ thức ăn (kg/con/ngày) 47
Biểu đồ 4.17: Hệ số chuyển hóa thức ăn 48
Biểu đồ 4.18: Tỷ lệ nuôi sống heo cai sữa 50
Biểu đồ 4.19: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 50
Biểu đồ 4.20: Tỷ lệ ngày con ho 51
Biểu đồ 4.21: Tỷ lệ viêm khớp 51

nghi nhanh chóng với thức ăn, tăng cường miễn dịch, sức đề kháng, kích thích heo
thèm ăn, tăng cân nhanh và đồng đều. 2

Được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm thành
phố Hồ Chí Minh với sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Nguyễn Văn Khanh và Ths.
Nguyễn Ngọc Côn. Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thăm dò ảnh hưởng của
chế phẩm Sup Solac trên sức sinh sản heo nái và chế phẩm Sup Creep trên
sức sinh trưởng heo con từ cai sữa đến 60 ngày tuổi tại trại heo Hưng Việt”.
1.2. Mục đích
Xác định tác dụng của chế phẩm Sup Solac trên khả năng sinh sản của heo
nái lứa 2 trở lên.
Xác định tác dụng của chế phẩm Sup Creep đến khả năng sinh trưởng và
khả năng sử dụng thức ăn của heo con cai sữa đến 60 ngày tuổi.
1.3. Yêu cầu
Theo dõi ảnh hưởng việc bổ sung chế phẩm Sup Solac trên heo nái từ lứa hai
trở lên qua việc ghi nhận các chỉ tiêu về sức sinh sản của nái và chỉ tiêu của đàn heo
con có và không có bổ sung chế phẩm Sup Solac.
Theo dõi ảnh hưởng việc bổ sung chế phẩm Sup Creep trên heo con cai sữa
qua việc ghi nhận mức độ tăng trọng, tăng trọng trên ngày, mức tiêu thụ thức ăn, hệ số
biến chuyển thức ăn và tỷ lệ tiêu chảy hay bệnh khác trên heo cai sữa có và không có
bổ sung chế phẩm Sup Creep.

chất, không hư, mốc, vón cục và đủ lượng xơ cần thiết. Nên tăng dần lượng thức ăn
trong thời kỳ đầu tiết sữa để kích thích nái ăn ngon miệng và huy động sớm các tổ
chức tế bào cơ thể: ngày đầu chỉ ăn ít đủ để duy trì cơ thể, ngày 2 tăng lên 50% khẩu
phần duy trì, ngày 3 tăng 100% và tăng 150% vào ngày thứ 4 (Patience , Thacker,
1994 – trích dẫn Bùi Đức Dũng, 2005).
Lượng sữa nái sản xuất bắt đầu tăng sau khi sinh và đạt đỉnh cao khi heo con
được 21 ngày tuổi và giảm dần sau đó. Heo là loài không có bể sữa, không thể vắt sữa
trực tiếp để đo nên người ta thường cân heo con ở 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng
tiết sữa của nái và tính theo công thức:
Sản lượng sữa (kg) = 3 x Tăng trọng của heo con (kg)
Sau khi sữa được hình thành và tích trữ ở các túi sữa, khi xuất hiện các triệu
chứng sắp đẻ hormone oxytoxin được tiết ra và tác động lên tuyến sữa để thải sữa ra
theo các ống đầu núm vú. Sau khi đẻ, heo con tìm vú mẹ và thúc bú kích thích heo mẹ
tiết sữa, sự tiết sữa này làm ngăn cản việc tiết hormone GnRH, vì vậy ức chế sự phát 4

triển của bao noãn. Quá trình phân tiết bị tác động mạnh bởi sự mút bú của heo con, quá
trình này hình thành nên 3 pha trong quá trình bú sữa của heo con. Tuy nhiên sau thời
gian này sự ức chế đó dần dần được giải phóng, mặc dầu sự phát triển đầy đủ của các
bao noãn trong thời kỳ rụng trứng không giống như trong giai đoạn tiết sữa của heo mẹ.
Ngay sau cai sữa và ngừng bú sữa, hoạt động của GnRH gia tăng và các bao noãn bắt
đầu phát triển. Điều này tương tự như giai đoạn bắt đầu của bao noãn trong chu kỳ sinh
sản heo nái. Vì vậy phần lớn sự động dục và rụng trứng của heo nái xảy ra trong khoảng
từ 5 – 7 ngày sau cai sữa heo con (Nguyễn Quang Linh và ctv, 2004).
Sữa heo gồm có hai loại đó là sữa đầu và sữa thường. So với sữa thường sữa
đầu có hàm lượng vật chất khô cao, giàu dinh dưỡng hơn (giàu protein, khoáng và
vitamin) (Nguyễn Quang Linh và cvt, 2004). Sữa đầu được tiết ra trong vòng 2 – 3
ngày sau sinh, có nhiều protein, chất béo, khoáng (đặc biệt là Mg) và vitamin nhưng ít

60 là ở mức thấp nhất. Nhu cầu dinh dưỡng của heo con ngày càng tăng, trong khi đó
sữa mẹ sau 3 tuần tuổi giảm đi rõ rệt, dẫn tới heo con thiếu dinh dưỡng nếu như không
có thức ăn bổ sung thêm (Nguyễn Quang Linh và ctv, 2004).
Khi còn trong bụng mẹ, mọi nhu cầu dinh dưỡng, trao đổi chất và thân nhiệt
heo con phụ thuộc hoàn toàn vào heo mẹ. Sau khi sinh ra, heo con phải thích ứng ngay
với hàng loạt các điều kiện khác với môi trường trong cơ thể mẹ nên ở trong tình trạng
stress, rất dễ bị tác động bởi các yếu tố bất lợi. Theo Nguyễn Thiện, Vũ Duy Giảng
(2006), thì heo con mới đẻ có 5 điểm yếu, đó là điều hoà thân nhiệt kém, dự trữ năng
lượng trong cơ thể rất ít, hệ thống enzyme, hệ thống miễn dịch chưa hoàn chỉnh và
thiếu sắt nghiêm trọng.
Khi mới sinh, thân nhiệt heo con đạt 38,5
o
C – 39
o
C (Nguyễn Thiện, Vũ Duy
Giảng, 2006), cơ thể chứa đến 82% nước (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996), lượng mỡ
dự trữ chỉ từ 1 – 2% và ít mô mỡ nâu (Trần Thị Dân, 2003). Theo Phạm Hữu Doanh và
Lưu Kỷ (1996), heo sơ sinh trao đổi năng lượng và trao đổi chất rất mạnh trong khi đó
nhiệt độ cơ thể lại giảm rất nhanh, sau 30 phút tỷ lệ nước ở heo giảm tới 1 – 2%, nhiệt
độ cơ thể giảm tới 5
o
C. Do mất nước và nhiệt nhanh, cơ thể bị lạnh, hoạt động của các
bộ máy chức năng trong cơ thể bị rối loạn. Khi thân nhiệt xuống dưới 32 – 33
o
C, heo
con mất khả năng điều hoà thân nhiệt và chết vì bị nhiệt nhược. Tỷ lệ tử vong là 12,1%
khi nhiệt độ chuồng nuôi vào khoảng 20 – 25
o
C so với 7,7% khi nhiệt độ chuồng nuôi
cao hơn 25

2004).
Khả năng tiêu hóa của heo con rất hạn chế. Theo A. V. Kavasnhixki dịch vị của
heo con dưới một tháng tuổi hoàn toàn không có acid HCl ở dạng tự do, vì lượng acid
này tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết với các niêm dịch. Ngoài sự thiếu HCl tự do
còn có sự giảm acid trong dịch vị thức ăn liền với HCl làm cho hàm lượng HCl tự do
rất ít hoặc hoàn toàn không có trong dạ dày của heo con bú sữa. Vì thiếu HCl tự do
trong dạ dày nên hệ vi sinh vật dễ lên men gây nên hiện tượng ỉa chảy ở heo con (trích
dẫn Nguyễn Quang Linh và ctv, 2004).
Ngoài ra, một đặc điểm quan trọng nữa mà người chăn nuôi cần quan tâm là sự
thiếu hụt sắt ở heo con sơ sinh. Dự trữ sắt ở heo con sơ sinh rất thấp (60 – 70 mg Fe
trong gan), sắt trong sữa mẹ lại nghèo (chỉ cung cấp được 1 mg/con/ngày) trong khi
nhu cầu sắt hàng ngày đến 10 mg. Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, sự hình thành hệ thống
miễn dịch chủ động kéo dài, heo dễ bị khủng hoảng gây tiêu chảy, viêm phổi, bỏ ăn và
chậm lớn (Nguyễn Thiện, Vũ Duy Giảng, 2006). Trong chăn nuôi, người chăn nuôi
thường bổ sung sắt bằng cách tiêm Fe Dextran ở 3 ngày tuổi với liều 200 mg/con. 7

2.1.3. Đặc điểm sinh lý heo con sau cai sữa
Sau khi cai sữa chế độ ăn của heo có sự thay đổi đột ngột từ nguồn sữa mẹ rất
giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa sang thức ăn thô khó tiêu hóa và kém ngon miệng hơn,
heo con dễ bị stress và có những rối loạn về tiêu hóa do thiếu một số enzyme cần thiết
(Trương Lăng, 2003).
Theo Hampson và Kidder (1986), màng nhày ruột non có những thay đổi khi
heo được cai sữa ở 3 – 4 tuần tuổi. So với trước khi cai sữa, nhung mao (để hấp thu
dinh dưỡng) ngắn đi 75% trong vòng 24 giờ cai sữa và tình trạng ngắn đi này vẫn tiếp
tục cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa (trích dẫn Trần Thị Dân, 2003). Mào ruột là nơi mà
tế bào của chúng sẽ di chuyển dần lên đỉnh nhung mao để trở thành tế bào ruột trưởng
thành với vi nhung mao hấp thu chất dinh dưỡng. Vài enzyme tiêu hóa (lactase,

Độ ẩm (max) 10 %
Beta – glucan (min) 10.000 mg
Mannan oligosaccharides (min) 10.000 mg
Alpha amylase (min) 100.000 UI
Protease (min) 50.000 UI
Cellulase (min) 60.000 UI
Sắt (min – max) 20.000 – 25.000 mg
Đồng (min – max) 4.000 – 6.000 mg
Kẽm (min – max) 25.000 – 30.000 mg
Iod (min – max) 40 – 50 mg
Selen (min – max) 50 – 70 mg
Sorbitol (max) 50.000 mg
Kháng sinh không có
Hormon không có
Chất mang vừa đủ 1.000 mg

Công dụng:
 Tối đa hóa đáp ứng miễn dịch cho nái lứa 2 trở lên và bầy heo con.
 Kích thích heo mẹ thèm ăn và ăn nhiều, điều hòa hệ biến dưỡng.
 Giúp hạn chế nái mẹ sụt giảm thể trạng nhằm lên giống lại tốt sau khi cai sữa.

9

2.2.2. Chế phẩm Sup Creep
10

là ngăn ngừa sự phân hủy tế bào do tăng hay giảm điều kiện thẩm thấu, tạo dạng của tế
bào, tạo màng cản thấm đối với các phân tử lớn và giúp nhận diện giữa các tế bào.
Ngoài ra, vách tế bào còn cung cấp chất nền cho nhiều enzyme để chúng tham gia vào
tiến trình thủy phân, lấy chất dinh dưỡng, bài tiết các sản phẩm biến dưỡng cuối cùng
và duy trì tế bào.
Những chất chính của vách tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae chiếm 15
– 30% trọng lượng khô của tế bào, gồm β(1,3) glucan và β(1,6) glucan, mannoprotein và
chitin (Moran, 2004 – trích Trần Thị Dân, 2005). Những thành phần này nối với nhau để
tạo những phức hợp đa phân tử và chúng gom lại để hình thành tế bào nguyên vẹn. Các
thành phần của vách tạo một lưới bao quanh tế bào, trong đó lớp sườn bên trong chứa
các phân tử β(1,3) glucan để tạo cầu nối hydro. Ở bên ngoài lớp sườn này, mannoprotein
nối với đầu không khử của β(1,3) glucan và chúng được kết nối bởi β(1,6) glucan. Sau
khi phân bào, lớp sườn trở nên vững chắc do bởi kết hợp với chuỗi chitin. Chuỗi chitin
nằm sát màng tế bào chất. Những chất này được ly trích sau khi tăng sinh nấm men
(Trần Thị Dân, 2005).
Bảng 2.3: Thành phần vách tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae
Thành phần Phân tử khối (kdal) Tỷ lệ so với tế bào (%)
β(1,3) glucan 240 30 – 50
β(1,6) glucan 24 10
Mannoprotein 100 – 200 25 – 50
Chitin 25 1 – 3

(Lipke và Ovalle, 1998 – trích dẫn Hồ Thị Nga, 2007)
Glucan thuộc nhóm thuốc ‘biến đổi đáp ứng sinh học’. Nó hoạt hóa đại thực
bào (macrophage) và các tế bào tham gia miễn dịch khác (Trần Thị Dân, 2005).
Tại châu Âu vào những năm của thập niên 40, một loại men thô ly trích từ vách

- Kháng thể ngăn chặn chức năng bình thường hoặc ngăn chặn sự phát triển của
vi sinh vật. Phản ứng điển hình bao gồm:
 Ngăn chặn sự bám dính;
 Opsonin hóa (thúc đẩy sự thực bào);
 Ngưng kết hoặc kết tủa (các tiểu phần hoặc phân tử) của mầm bệnh;
 Làm bất động mầm bệnh;
 Trung hòa độc tố, enzyme.
12

- Kháng thể hoạt hóa bổ thể: Sự hoạt hóa của hệ thống bổ thể sẽ dẫn đến sự giải
phóng một số chất trung gian gây viêm và thúc đẩy một loạt quá trình sinh học, bao gồm:
 Hóa hướng động các tế bào thực bào thông qua các thụ cảm quan bổ thể
trên bề mặt các tế bào thực bào;
 Opsonin hóa (tăng khả năng bắt kháng nguyên của các tế bào thực bào);
 Quá trình mất hạt của tế bào dưỡng bào;
 Dung giải màng tế bào có chứa lipid bao gồm tế bào của vật chủ và tế
bào lạ, các tế bào có mang kháng nguyên, các virus có vỏ và các vi khuẩn gram âm.
- Kháng thể tham gia trong phản ứng gây độc tế bào qua trung gian tế bào T
phụ thuộc kháng thể. Phản ứng được viết tắt là ADCC (Antibody – Dependent T –
Cell Mediated Cytotoxicity). Kháng thể bao phủ lấy tế bào đích làm tăng sự kết gắn
với tế bào gây độc (ví dụ tế bào NK) có mang các thụ cảm quan Fc của phân tử Ig. Kết
quả của phản ứng dẫn đến sự dung giải tế bào đích (Tô Long Thành, 2006).
Các chế phẩm dùng để gây miễn dịch thụ động nhân tạo như sử dụng huyết
thanh toàn phần, sử dụng kháng thể đơn dòng, sử dụng kháng thể đa dòng, sử dụng sữa
đầu, truyền miễn dịch nhân tạo qua trung gian tế bào.
2.2.3.3. Alpha amylase
Là enzyme tiêu hóa tinh bột, giúp sự thủy phân tinh bột thành dạng ngắn hơn

lượng phân tử nhỏ.
Protease có ở động vật gồm: peptin, trypsin, chymotrypsin, renin. Ở thực vật
gồm có: papain, bromelin, fixin,… và cũng có ở vi sinh vật như: nấm mốc, vi khuẩn,
xạ khuẩn.
2.2.3.5. Cellulase
Là enzyme có khả năng thủy phân cellulose
Cellulose là phân tử sinh học có nhiều nhất trên trái đất là thành phần quan
trọng trong cấu trúc vách tế bào thực vật (của các loại ngũ cốc), có giá trị dinh dưỡng
thấp đối với động vật dạ dày đơn. Riêng đối với heo, cellulose không được tiêu hóa
bởi enzyme nội sinh, kể cả heo trưởng thành. Cellulose cần cho cảm giác no của heo,
kích thích nhu động ruột, giúp heo không bị táo bón, các chất dinh dưỡng không bị
vón cục và dính vào thành ruột làm khó tiêu hóa và có thể làm viêm thành ruột. Tuy
nhiên, với tỷ lệ cellulose cao sẽ làm giảm khả năng tiêu hóa, các thành phần dưỡng
chất và năng lượng tiêu hóa cũng giảm.
Cellulose có cấu trúc theo kiểu 1 – 4 β – glucose với khoảng 8.000 phân tử
đường β – glucose liên kết lại. Động vật bậc cao không có men tiêu hóa này, chỉ có vi
sinh vật mới có men phân hủy cellulose thành β – glucose. Việc sử dụng cellulase có tác
dụng lên men cellulose giúp vật nuôi tiêu hóa tốt thức ăn, vừa hạn chế các tác hại của
cellulose gây ra, vừa phải giải phóng năng lượng, protein và các acid amin thặng dư.
2.2.3.6. Acid citric
Là một acid hữu cơ được sản xuất bằng con đường công nghệ sinh học và có
thể kết tinh để tạo ra dạng khô, bổ sung vào thức ăn rất tiện lợi. Acid này tạo pH dạ
dày và ruột thấp, vừa có tác dụng tốt trong tiêu hóa, vừa ức chế vi khuẩn lên men thối
ở ruột heo con. Khi lượng acid HCl trong dịch vị tiết ra nhiều, acid này có vị chua nhẹ
nên heo rất thích ăn, đặc biệt nếu kết hợp thêm vị ngọt của đường để tạo vị chua ngọt
thì càng hấp dẫn đối với heo con tập ăn. 14


trọng trong chuỗi men hô hấp của tế bào (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002).

15

2.2.3.9. Kẽm (Zn)
Kẽm tham gia trong cấu trúc trong nhiều loại enzyme có chứa nguyên tố kim
loại metalloenzyme như: phosphatase, alkaline phosphatase, aminpeptidase, carboxyl-
peptidase, carboxyanhydrase, glutamin dehydrogenase,…. Kẽm cũng có liên quan tới
hoạt động tuyến tụy với sự tổng hợp insulin.
Do có nhiều yếu tố hạn chế sự hấp thu lợi dụng kẽm trong thức ăn, nên để xác
định nhu cầu chính xác là công việc rất khó khăn. Không thể khuyến cáo liều kẽm bao
nhiêu cho đủ để bảo đảm năng suất tối đa cho thú, để tránh bệnh khô da, đặc biệt nhất
là ở heo (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002).
2.2.3.10. Iod (I)
Iod là nguyên tố vi lượng chiếm tỷ lệ thấp trong cơ thể. Iod tham gia cấu tạo
nên thyroxin, một loại kích tố giáp trạng có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi
chất, quá trình hô hấp tỏa nhiệt của tế bào (Dương Thanh Liêm và cộng tác viên,
2002). Hiện nay người ta cung cấp Iod cho thú dưới dạng hữu cơ, thường dùng nhất là
casein – iod.
2.2.3.11. Selenium (Se)
Selen rất cần thiết cho sự thu tinh và sự sinh trưỡng. Nhiều tác giả ghi nhân
trường hợp bệnh lý trên động vật thí nghiệm được nuôi bằng khẩu phần thiếu Selen
như hoại tử gan trên chuột, thoái hóa cơ và gan trên heo cũng như bệnh cơ trắng trên
bò. Các triệu chứng này được phòng ngừa và điều trị bằng các hợp chất chứa Selen.
Với hàm lượng dưới 3 ppm trong khẩu phần, Selen có tác dụng như một chất
kích thích sinh trưởng và tăng khả năng chống đỡ bệnh tật của động vật. Với hàm
lượng cao trên 5 ppm sẽ gây ngộ độc cho cơ thể (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002).

22
nuôi heo con cai sữa.
- Dãy A
3
và B
3
nuôi nái hậu bị, nái khô và nái mang thai.
- Dãy A
4
nuôi đực làm việc
- Dãy B
2
, A
51
, A
52
, A
6
, B
6
nuôi heo thịt.
Ngoài ra còn có chuồng để nuôi bò sữa và bê thịt.
Trại có tổng cộng 40 người phân theo trình độ gồm 1 Thạc sĩ, 3 Đại học, 1
trung cấp, còn lại là công nhân, bảo vệ và nhà bếp. Trong đó, riêng tổ chăn nuôi heo có
14 người:
- Quản lý chung: 1 người
- Nái nuôi con và heo con theo mẹ: 3 người
- Heo con cai sữa: 2 người
- Nái khô, chửa, nái hậu bị và đực làm việc: 3 người
- Heo thịt: 5 người

heo mẹ về khu chuồng nái khô và nái mang thai.
+ Chuồng heo con sau cai sữa: là hệ thống chuồng kín, mái đôi, chiều dài
40 m, rộng 12 m, được chia thành 2 dãy riêng biệt bằng tường xi măng. Xung
quanh chuồng được che bằng bạt trong, nóc chuồng cũng được che bạt kín. Cuối
chuồng có lắp hệ thống quạt hút, ở đầu chuồng có hệ thống phun sương. Bên trong
mỗi dãy chia làm 11 ô, mỗi ô chuồng kích thước 4 x 2,5 (m
2
), chiều cao 0,8 m,
riêng ở cuối chuồng dùng để nuôi heo con cai sữa sớm và heo còi. Lối đi cặp vách
ngoài có măng ăn. Ở mỗi đầu ô chuồng được lắp máng ăn bán tự động có lổ điều
chỉnh thức ăn rơi xuống. Mỗi ô có 2 núm uống đặt gần góc chuồng, một núm cao và
một núm thấp cách nhau 0,2 m, núm dưới cách sàn 0,2 m, luôn đảm bảo đủ nước
sạch cho heo con uống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status