BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ THĂM
DÒ
ẢNH HƯỞNG CỦA GA
3
LÊN SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN
CỦA CÂY MƯỚP ĐẮNG (MOMORDICA
CHARANTIA L.)
TRỒNG Ở PHƯỜNG KIM LONG, THÀNH PHỐ
HUẾ
Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌC
Mã số: 60 42 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN BÁ LỘC
i
Huế, Năm 2013
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung
thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được
công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Nhàn
iii
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.
1.1.1 Thành phần dinh dưỡng và hóa học của mướp đắng 8
1.1.2. Nguồn gốc và phân bố của mướp đắng 10
1.1.3. Yêu cầu của cây mướp đắng đối với điều kiện ngoại cảnh 11
1.1.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu mướp đắng trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.2. Tổng quan về chất điều hòa sinh trưởng 20
1.2.1. Lược sử nghiên cứu về Gibberellin 20
1.2.2. Vai trò sinh lý của Gibberellin 22
1.2.3. Ứng dụng của Gibberellin trong sản xuất nông nghiệp: 24
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.2. Thời gian nghiên cứu 26
2.3. Địa điểm nghiên cứu 26
2.4. Nội dung nghiên cứu 26
2.4.1. Nghiên cứu các đặc điểm sinh học của cây mướp đắng 26
2.4.2. Ảnh hưởng của GA3 đến sinh trưởng và phát triển của cây mướp đắng 27
2.5. Phương pháp nghiên cứu 28
2.5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin 28
2.5.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.5.3. Hóa chất và phương pháp xử lý 29
2.5.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 29
2.5.5. Phương pháp xử lý số liệu 31
CHƯƠNG III:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Đặc điểm sinh học của cây mướp đắng 32
3.1.1. Đặc điểm về hình thái của cây mướp đắng 32
3.1.2. Đặc điểm sinh trưởng 33
3.1.3. Đặc điểm sinh sản 34
3.1.3. Một số đặc điểm về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 35
1
Bảng 3.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của cây mướp đắng 33
Bảng 3.2. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của cây mướp đắng 35
Bảng 3.3. Kết quả nghiên cứu về năng suất và các yếu tố cấu thành
năng suất của cây mướp đắng 35
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của GA3 đến tỷ lên nảy mầm của hạt(%) 36
Bảng 3.5: Tốc độ nảy mầm của hạt mướp đắng 37
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của GA3 đến thời gian sinh trưởng
của cây mướp đắng (ngày) 41
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của GA3 đến thời gian ra hoa của cây mướp đắng (ngày) 42
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của GA3 đến chiều cao cây mướp đắng(cm) 44
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của GA3 đến tốc độ tăng trưởng của cây mướp đắng 46
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của GA3 đến sự tăng trưởng số lá
trên cây mướp đắng(lá) 48
Bảng 3.11.Ảnh hưởng của GA3 đến diện tích lá trên cây mướp đắng
ở giai đoạn hoa nở rộ(cm2) 49
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của GA3 đến tổng số hoa trên cây(hoa) 51
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của GA3 đến khối lượng tươi của cây mướp đắng (kg) 52
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của GA3 đến khối lượng khô của cây(g) 53
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của GA3 đến số lượng quả(quả/cây) 54
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của GA3 đến khối lượng của quả(gam) 55
Bảng 3.17.Ảnh hưởng của GA3 đến chiều dài quả mướp đắng(cm) 56
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của GA3 đến đường kính quả mướp đắng(cm) 57
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của GA3 đến độ dày lớp thịt quả mướp đắng(cm) 58
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của GA3 đến năng suất quả tươi(kg) 59
Bảng 3.21. Ảnh hưởng của GA3 đến hiệu quả kinh tế của cây mướp đắng 60
4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Ảnh hưởng của GA3 đến tỷ lệ này mầm 37
Biểu đồ 3.2. Ảnh hưởng của GA3 đến thời gian sinh trưởng
của cây mướp đắng (ngày) 42
Hoa, lá và rễ mướp đắng dùng để chữa bệnh lỵ nhất là lỵ amip.[8][16][34].
Chính vì vậy mà năm 1990, khi Liên Hợp Quốc phát hành bộ tem dược thảo,
mỗi con tem là một cây thuốc được Liên Hợp Quốc cho là có giá trị chữa
bệnh trên thế giới, mướp đắng được chọn là một trong 6 cây thuốc tiêu biểu.
Tem mướp đắng được phát hành khắp nước Áo.[40]
Mướp đắng dễ trồng, không kén đất, là cây ưa ẩm, sợ úng, ít sâu bệnh
và đặc biệt quả mướp đắng có hình dạng ngộ nghĩnh, bóng đẹp nên nó còn
được trồng làm cảnh, lấy bóng mát kết hợp với lấy quả ăn trong gia đình.
6
Mướp đắng có thể trồng trên diện tích lớn để cung cấp cho thị trường thực
phẩm, mỹ phẩm.
Ở nước ta mướp đắng là cây có giá trị hàng hóa nên đang được người
nông dân trồng với diện tích lớn và cho thu nhập cao. Tuy nhiên tốc độ tăng
năng suất của cây mướp đắng còn chậm, năng suất bình quân chưa cao và
thiếu ổn định.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì việc sản
xuất ra các chất điều hòa sinh trưởng với số lượng lớn và ứng dụng các chất
đó vào trong sản xuất và nghiên cứu đang dần phổ biến. Đặc biệt nước ta là
một nước nông nghiệp, việc sản xuất ra các sản phẩm không những phục vụ
nhu cầu của người dân trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng
thu ngoại tệ cho nền kinh tế nước nhà thì việc ứng dụng các chất điều hòa
sinh trưởng với mục đích tăng năng suất và phẩm chất cây trồng là nhu cầu
bức thiết hiện nay.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học và thăm dò ảnh hưởng của GA
3
lên sinh
trưởng và phát triển của cây mướp đắng (Momordica charantia L.) trồng ở
phường Kim Long- thành phố Huế”
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Jorge và cộng sự 1944 [25][26] đã phân tích quả mướp đắng và thấy
lượng chất có trong 100g phần ăn được là vitamin B
1
: 0,18mg, B
2
: 0,2mg,
C:13mg, PP:3,72 mẫu giống, E:18,7 mẫu giống,β-caroten: 0,56mg. Hợp chất
saponin trong vị đắng của mướp đắng có chứa chất Charantin và Alkaloid.
Trong muớp đắng người ta đã tìm ra rất nhiều dưỡng chất có lợi ích cho cơ
thể như: Alkaloic, Charantin, Charine, Cryptoxanthin, Cucurbitins,
Cucurbitacins, Diosgenin, Galacturonic acid, Gentisic acid, Goyaglycosides,
Goyasaponins, Gypsogenin, Lanosterol, Lauric acid, Linoleic acid,
Momorcharaside, Momorcharins, Momordenol, Momordicilin, Momordicins,
Momordicosides, Momordin, Oleanolic acid, Oxalic acid, Oleic axit,
Peptides, Petroseline acid, Polypeptides, Rubixanthin, chất đạm, chất sợi, các
sinh tố A, C, Folie acid.[22]
Năm 1998, nhà khoa học người Mỹ đã tìm ra thành phần hoạt tính sinh
học trong mướp đắng- nguyên tố thanh lọc mỡ.[35]. Hiện nay quả mướp đắng
được sử dụng như một loại rau cũng như được sử dụng như một loại dược liệu
8
cho việc điều trị tiểu đường và tẩy giun. Mướp đắng là một trong những cây
ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, phần ăn được của quả mướp đắng chiếm
95%.[8]. Thành phần dinh dưỡng có trong 100g phần ăn được của quả mướp
đắng được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng có trọng 100g phần ăn được của quả mướp
TT Thành phần dinh dưỡng Khối lượng
1 Nước 83-92g
2 Protein 1,5-2g
3 Lipit 0,2-1g
4 Cacbonhydrat 4-10,5g
prôtein hơn so với cùi.
Qủa mướp đắng có rất nhiều cách chế biến món ăn nhưng nhìn chung
món xào là chính, song ngoài ra có thể hầm, nấu canh, ăn sống, muối dưa
chua, dưa mặn hoặc sấy khô. Khi đời sống ngày càng được cải thiện, mướp
đắng đang dần được người tiêu dùng ưa thích bởi giá trị dinh dưỡng cũng như
giá trị dược liệu của nó. Thành phần prôtêin trong mướp đắng có công năng
miễn dịch cao, làm cho tế bào miễn dịch có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây
bệnh, do đó có thể coi là thực phẩm dùng để điều trị bệnh ung thư. Các nhà
khoa học Mỹ còn cho rằng có thể chiết xuất từ trong mướp đắng ra 3 loại
prôtêin tiêu diệt được vi khuẩn gây bệnh AIDS.
1.1.2. Nguồn gốc và phân bố của mướp đắng
Các nhà phân loại thực vật học cho rằng mướp đắng có nguồn gốc ở
vùng nhiệt đới Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á.
Ngoài ra mướp đắng còn bắt nguồn từ vùng Châu Phi và Châu Mỹ.
Mướp đắng là loài rau rất phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước Châu Á
khác như Ấn Độ, Philippin, Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung
Quốc, Úc, Châu Phi, Tây Á, Mỹ Latinh và vùng Caribe. Loài cây này đã được
coi là đã thuần hóa ở Châu Á như ở Bắc Ấn Độ hoặc Nam Trung Quốc bởi vì
những vùng giáp ranh người ta tìm thấy quần thể hoang dại hay quần thể tự
nhiên của mướp đắng. Sau này mướp đắng được giới thiệu sang Tân thế
giới(Nam Mỹ) thông qua việc buôn bán nô lệ và do sự phân tán hạt mướp
đắng của các loài chim, sau đó phát triển rộng rãi trên khắp các lục địa. Ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ Braxin đến Đông Nam nước Mỹ mướp
đắng cũng rất phát triển.
Ngày nay mướp đắng đã được phân bố khắp miền của vùng nhiệt đới,
cả dạng hoang dại và dạng trồng trọt, mướp đắng là cây rau phổ biến ở Ấn
10
Độ, Philippin, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Australia, Châu Phi và
Trung Đông, Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribe
1.1.3. Yêu cầu của cây mướp đắng đối với điều kiện ngoại cảnh
động trong khoảng (20-30)
0
C trong thời kì hình thành quả. Khi nhiệt độ lớn
hơn 30
0
C cây không hình thành quả được.[26]. Khung nhiệt độ tốt nhất cho
mướp đắng sinh trưởng và phát triển là khoảng từ 25-30
0
C.
1.1.3.2. Ánh sáng
Mướp đắng cũng như một số cây trong họ bầu bí là cây ưa ánh sáng
ngày ngắn và trung. Khi ánh sáng thiếu và yếu thì cây sinh trưởng, phát triển
kém, cây ra hoa cái muộn và dễ bị rụng, năng suất thấp, chất lượng giảm,
hương vị kém. Mướp đắng yêu cầu cường độ ánh sáng mạnh để sinh trưởng,
phát triển và tạo năng suất. Do vậy mướp đắng không nên trồng với mật độ
cao, cây thiếu ánh sáng thì sinh trưởng chậm và sâu bệnh phát triển. Trong
quá trình sinh trưởng biện pháp kĩ thuật như tỉa lá gốc, các lá mọc sát đất để
tạo độ thông thoáng cho giàn mướp là rất cần thiết.[22]
11
1.1.4.3. Đất và dinh dưỡng
Mướp đắng có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, song có thể cho
sinh trưởng phát triển tốt nhất, cho năng suất cao khi được trồng trên những
chân đất thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng, có tầng canh tác dày, thoát nước tốt. Yêu
cầu đất phải có độ PH trung bình 6.0-6.7 là thích hợp nhất cho sự sinh trưởng
và phát triển của mướp đắng. Song mướp đắng cũng có khả năng sinh trưởng
được trên đất kiềm có độ PH tới 8.0.[17]
Mướp đắng đòi hỏi lượng dinh dưỡng cân đối giữa phân bón hữu cơ và
phân vô cơ để sinh trưởng và phát triển tốt. Song tùy thuộc từng loại đất sẽ có
chế độ dinh dưỡng thích hợp khuyến cáo dành cho mướp đắng. Trên thực tế
vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng, phân bón cho mướp
điều kiện ngập úng, khi ruộng mướp đắng bị ngập úng 4 ngày, cây sẽ bị thay
đổi hình thái học của cây(Liao và Lin 1994). Để đảm bảo cho cây sinh trưởng,
phát triển tốt luôn luôn phải cung cấp đủ ẩm cho cây. Mướp đắng là cây ưa
ẩm, cây sinh trưởng tốt trong điều kiện ẩm độ 70-80%. Thời kì ra quả rộ và
quả phát triển yêu cầu độ ẩm cao 80-90% vì ở giai đoạn này hàm lượng nước
trong thân lá, quả của mướp đắng lên đến 90%.[21]. Tuy nhiên độ ẩm không
khí quá cao lại là điều kiện thích hợp cho sự phát triển bệnh như sương mai,
đốm lá, thối vi khuẩn gây hại cho mướp đắng.
1.1.4. Tình hình sản xuất và nghiên cứu mướp đắng trên thế giới và ở
Việt Nam
1.1.4.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu mướp đắng trên thế giới
Trên thế giới mướp đắng được gieo trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Châu Phi, các nước Trung Đông
và vùng Caribê, các loại giống gieo trồng gồm giống hoang dại và trồng trọt.
Tuy được trồng ở nhiều vùng trên thế giới nhưng mướp đắng được trồng
nhiều nhất ở các nước Đông Nam Châu Á và Ấn Độ. Một số nước sản xuất
nhiều mướp đắng với sản lượng cao như: Philippin đạt 18.000 tấn(năm 1992),
Malaysia đạt 19.000tấn(1994), Đài Loan đạt 35.000 tấn(năm 1993), Thái Lan
đạt 17.749 tấn(1994), Trung Quốc là nước sản xuất nhiều mướp đắng nhưng
chủ yếu là dùng làm dược liệu.
Năm 2007, trung tâm rau màu Châu Á đã thống kê diện tích trồng
mướp đắng ở một số nước Đông Nam Á như sau: Philippin 12.000ha, Thái
Lan 3.000 ha, Indonesia 8.000 ha.[27]
Bình thường mướp đắng cho thu hoạch với năng suất trung bình là 8-10
tấn/ha, nhưng khi trồng giống tốt và có kĩ thuật chăm sóc tốt thì năng suất của
mướp đắng có thể lên tới 20-30 tấn/ha. Đặc biệt năng suất của các giống F1
có thể đạt tới 40tấn/ha. Tại Xri Lanka mướp đắng được dùng và sử dụng như
13
một loại rau. Mướp đắng có thể được trồng ở độ cao 1.200m so với mực nước
biển. Nó cũng có thể được trồng tại các vùng đất thấp hoặc trung bình trong
Chi phí lao
động
(RS/ha)
Gía trị
nguyên liệu
(RS/ha)
Tổng giá trị
(RS/ha)
Chuẩn bị đất 28.92 4338 3813 8151
Làm giàn 39.73 5959 4177 10136
Hạt 19.74 2961 2663 5624
Bón phân 15.58 2337 2831 5168
Nhổ cỏ thủ công 34.82 5223 5223
Vật gây hại và dịch bệnh 35.71 5357 11700 17057
Thu hoạch 77.61 11642 11642
Tổng cộng 252.11 37817 25184 63000
Đài Loan cũng là nước trồng nhiều mướp đắng, kết quả thống kê về
diện tích, năng suất và sản lượng từ năm 1996-2005 như sau:
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lượng mướp đắng ở Đài Loan từ
năm 1996-2005
Năm
Diện tích
trồng
Diện tích thu
hoạch
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
1996 2374 2374 16330 38771
muốn như tỷ lệ giới tính, ngày thu quả đầu, chiều dài và chiều rộng của quả,
năng suất. Còn tổ hợp lai giữa DBGY 201x Priya cho ưu thế lai cao về chiều
dài quả, trọng lượng quả và năng suất quả.
Các cây thuộc họ bầu bí đã được nghiên cứu cho thấy có sự biến động
lớn về các dạng hoa từ lưỡng tính đến đơn tính cùng gốc(Robinson và
Decker-Walters 1999). Dạng hoa cái đơn tính cùng gốc hiện đã được khai
thác, sử dụng rộng rãi trong chương trình chọn tạo giống họ bầu bí.
More(2002) cũng đã chứng minh tiềm năng về việc phát triển giống lai dưa
chuột khi sử dụng dạng hoa cái đơn tính cùng gốc ở vùng nhiệt đới trên cây
dưa chuột. Trong quá trình sảm xuất trước đây chủ yếu sử dụng các giống
mướp đắng thụ phấn tự do(giống OP), ngày nay người nông dân đã sử dụng
cả giống lai và giống thụ phấn tự do. Các nước như Ấn Độ, Đài Loan và
Trung Quốc hiện đang sản xuất chủ yếu là các giống lai F1.[25]
Kết quả nghiên cứu của Bela Berenyi, Crilla Kleinheincz(Hungary) cho
thấy sự phát triển của hoa và quả mướp đắng không bị phụ thuộc vào thời
gian chiếu sáng trong ngày, do đó có thể sản xuất mướp đắng ở trong nhà
kính hoặc nhà lưới.[28]. Hiện nay ở Đài Loan đã áp dụng thành công phương
16
pháp ghép mướp đắng lên gốc mướp ta (Luffa spp) để tăng khả năng chịu
bệnh Furarium, ngập úng và tăng năng suất của mướp đắng rất rõ rệt.
Ở Trung Quốc, do cây mướp đắng là cây ưa nóng không ưa lạnh, vì thế
nên hạn chế những thất thu khi trồng mướp đắng trong điều kiện thời tiết lạnh
người ta đã tiến hành ghép cây mướp đắng lên cây bí đỏ. Ở đây chọn giống
mướp đắng Lam Sơn Đại Bạch. Trước khi gieo phải xử lý hạt giống mướp
đắng và hạt giống bí đỏ, ngâm trong nước 6-8 tiếng, nhiệt độ nảy mầm là 25-
30
0
C. Bí đỏ gieo chậm hơn mướp đắng 1-2 ngày. Khi hạt bí đỏ nứt nanh thì
đem gieo. Khi xuất hiện lá mầm bí đỏ, mướp đắng ra một lá thật thì tiến hành
ghép. Dùng phương pháp ghép sát vào nhau, sau khi ghép phải che đậy, giữ
dân nếu trồng khổ qua để thu hạt cho thu nhập cao hơn trồng khổ qua thu quả
xanh.[39].
Ở tỉnh Bình Dương hiện có khoảng 2.449 ha đất trồng hoa màu, trong
đó có khoảng 5.000m
2
diện tích được dùng chuyên trồng khổ qua sạch với mô
hình trồng phủ bạt. Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật IPM trong sản
xuất, mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp nhiều hộ nông dân trong
vùng khá lên rõ rệt. Để cây thu hoạch được lâu cũng như năng suất tăng,
người dân đã tiến hành cắt bỏ lá gốc khi thấy lá chuyển sang màu vàng và đặc
biệt dùng một đoạn chân hương cắm vào giữa thân gốc để kích thích cây ra
nhiều quả hơn. Nếu trồng bình thường thì thu hoạch khoảng 2-3 tuần, sau 30
ngày thì tàn, còn với cách làm như trên thì cây mướp đắng cho thu hoạch
khoảng 60 ngày, năng suất tăng gấp đôi.[33].
1.1.5.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam mướp đắng được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam.
Trong những năm gần đây mướp đắng cũng được trồng nhiều ở các tỉnh phía
Bắc như: Bắc Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Hòa Bình Rất nhiều
nghiên cứu về y dược về tác dụng chữa bệnh của mướp đắng như tác dụng hạ
đường huyết Đây là kết luận của chương trình:” Góp phần nghiên cứu thành
phần hóa học của trái mướp đắng và hạt mướp đắng” do Viện Công nghệ hóa
18
học tiến hành. Theo tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hạnh thì viện này cũng nghiên cứu
thành công quy trình công nghệ chiết xuất dịch quả mướp đắng để sử dụng
trong y học. Do vậy ngày nay cây mướp đắng ở Việt Nam đã ngày càng được
phát triển mạnh. Nhằm tác động các biện pháp kĩ thuật tăng năng suất, phẩm
chất mướp đắng, các nhà nghiên cứu về dinh dưỡng học, nông hóa thổ
nhưỡng cũng có những công trình nghiên cứu trên cây mướp đắng. Theo GS-
TS Bùi Đình Dinh 1994 cho rằng: để đảm bảo năng suất cây trồng cao và ổn
định, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây không chỉ dựa vào phân khoáng mà
Các giống này có tính thích nghi rộng, thích hợp với nhiều vùng sinh thái. So
với các giống nhập nội hay giống có nguồn gốc ở nước ngoài thì khổ qua của
giống Sao Cao Nguyên có nhiều tính trội về thời gian chín sớm, năng suất,
chất lượng và thời gian cho thu hoạch. Điều đặc biệt là do nghiên cứu và sản
xuất trong nước nên giá cả phù hợp với người nông dân. Giống khổ qua lai F1
Sao số 1 sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt, thích nghi rộng dễ đậu quả,
trồng được quanh năm, thu quả sau 37-38 ngày tính từ khi gieo, thời gian thu
kéo dài 1-2 tháng, quả dài 17-18 cm, gai lớn, da bóng, đường gai nhiều, màu
xanh trung bình, thịt quả dày, cứng, chịu vận chuyển xa và bảo quản lâu, năng
suất trung bình 30-35 tấn/ha. Giống khổ qua lai F1 Sao Số 2 sinh trưởng
mạnh, chống chịu bệnh tốt, dễ đậu quả, phân cành nhiều, trồng được quanh
năm, thu quả sau 37-38 ngày kể từ khi gieo, thời gian thu kéo dài 1-2 tháng,
quả dài 20-22cm, gai nở, màu xanh trung bình, thịt quả dày, cứng, vận chuyển
và bảo quản lâu, năng suất trung bình 30-35 tấn/ha.[32].
1.2. Tổng quan về chất điều hòa sinh trưởng
1.2.1. Lược sử nghiên cứu về Gibberellin
Từ lâu người nông dân Nhật Bản đã thấy hiện tượng cây lúa cao hơn
bình thường. Họ nghĩ rằng đó là sự sinh trưởng tốt và sẽ có một mùa bội thu.
Tuy nhiên, khi vụ mùa đến thì những cây này trở nên lỏng thỏng, bất thụ, hột
lép. Thay vì một mùa bội thu, 40% năng suất đã bị mất đi hàng năm do triệu
20
chứng này. Bệnh này đã được người nông dân Nhận Bản gọi nhiều tên dựa
theo triệu chứng quan sát được, vài tên thông dụng là bakanae (mạ ngu),
ahonae (mạ khùng), yrei (ma), somennae …Thuật ngữ quen thuộc được dùng
là mạ bakanae. Ở Việt Nam, triệu chứng này cũng rất dễ thấy ở lúa mùa. Vào
năm 1898, Hori là người đầu tiên cho rằng bệnh Bakanae gây ra bởi sự xâm
nhiễm của một loài nấm thuộc chi Fusarium (Hori, 1898). Sawada (1912) cho
rằng sự vươn dài của lóng là do chất kích thích từ sợi nấm. Kurosawa (1926)
chứng minh rằng chính chất được tiết ra bởi nấm Bakanae gây ra sự vươn dài.
Có một loạt tranh luận về việc định danh nấm Bakanae vì người ta có thể thấy