PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là món ăn không thể thiếu được trong bữa ăn của người Việt Nam.
Màu xanh của lá, vị ngọt mát của rau không chỉ giúp chúng ta ngon miệng mà rau
xanh còn là nguồn cung cấp chất khoáng, chất đạm và các vitamin cho cơ thể. Bởi
vậy, mà dân gian đã có câu: “Cơm không rau như đau không thuốc”.
Trong thế giới rau xanh phong phú đó có hàng trăm cây rau được dùng làm gia
vị. Rau gia vị là những cây rau có mùi vị đặc biệt có thể làm cho các món ăn thơm
hơn, ngon hơn. Món canh cá sẽ kém hấp dẫn nếu thiếu vài nhánh thìa là, một bữa
cơm sẽ kém ngon nếu không có vị cay nồng của ớt…
Trong số các loại rau gia vị đang được gieo trồng ở nước ta, cây ớt là cây rau
có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu đứng vị trí số một. Thành phần quả ớt có 3,7%
protein, 0,6% chất béo, 4,8% gluxit, 0,5% axit hữu cơ, 0,17mg% caroten, 103mg%
vitamin C và 292mg% vitamin A [2], [47]. Gần đây cây ớt trở thành một mặt hàng
có giá trị vì ớt không chỉ dùng để ăn tươi trong bữa ăn mà còn được chế biến thành
nhiều sản phẩm hàng hoá, nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.
Ngoài ra, ớt còn là dược liệu để bào chế các loại thuốc trị ngoại khoa như phong
thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như: thương hàn, cảm do hợp chất
capsaicine chứa trong trái ớt [19].
Ớt là cây dễ trồng, không kén đất, thích hợp với nhiều vùng sinh thái do vậy
tiềm năng phát triển cây ớt ở nước ta rất lớn. Ở Việt Nam vùng trồng ớt chuyên
canh tập trung chủ yếu ở khu vực miền trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên
Huế [22]. Tuy nhiên tốc độ tăng năng suất của cây ớt còn chậm, năng suất bình
quân chưa cao và thiếu ổn định.
Để tăng năng suất và phẩm chất cho cây trồng nói chung và cây ớt nói riêng,
ngoài việc nắm vững một số đặc tính sinh học của giống và nhu cầu cơ bản về vùng
sinh thái, mùa vụ cũng như kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc thích hợp thì việc ứng
dụng chất điều hòa sinh trưởng với mục đích tăng năng suất và phẩm chất cây trồng
là việc làm rất cần thiết hiện nay.
1
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài:
1.1. Tổng quan về cây ớt
1.1.1. Nguồn gốc, phân loại cây ớt
Cây ớt thuộc họ cà (Solanaceae), có khoảng 30 loài nhưng chỉ có 5 loài được
trồng là: C.pendulum, C. pubescens, C. annum, C. frutescens, và C. chinensis, trong
đó hai loài C. pendulum và C. pubescens được trồng hạn chế ở Trung và Nam Mỹ,
loài C. chinensis được trồng ở khu vực Amazon và Châu Phi, hai loài C. annum và
C. frutescens được trồng khắp nơi trên thế giới.[35]
Theo các nhà nghiên cứu phân loại thực vật học thì cây ớt có nguồn gốc từ
Mehico và nguồn gốc thứ hai là ở Guatemala. Theo Vavilop, nguồn gốc thứ hai
không phải ở Guatemala mà ở Evraz. Hiện nay ớt được trồng phổ biến ở các nước
nhiệt đới và á nhiệt đới [35].
Tuy nhiên ở nước ta việc trồng ớt chưa phát triển lắm. Tại nhiều nước như
Nhật Bản, Indonexia, Ấn Độ, nhất là Hungari người ta trồng hàng nghìn hecta, mỗi
năm xuất cảng từ 2500-3000 tấn ớt khô. Hiện nay, Ấn Độ là nước sản xuất ớt lớn
nhất thế giới với khoảng 1 triệu tấn mỗi năm. [48]
Ở Việt Nam người ta phân loại ớt thành các loại sau [55]:
- Ớt Capsicum chinense - hay ớt kiểng nhiều màu sắc thường dùng trang trí,
không cay. Thường có rất nhiều màu, trái to, nhỏ, hay tròn như cà hay hình giọt
nước.
- Ớt hiểm - Ớt Thái Lan - Ớt Chili - Ớt Capsicum frutescens : Được xem là ớt
cay, có 3 màu; trắng, đỏ và vàng trên cùng một cây.
- Ớt Đà Lạt, còn gọi là ớt tây hay ớt trái. Chỉ lấy vỏ, không ăn hạt
- Ớt sừng trâu: Là loại phổ biến nhất hiện nay được sử dụng trong hầu hết cách
chế biến.
1.1.2. Giá trị của cây ớt
Ớt được chia thành hai nhóm ớt cay và ớt ngọt dựa vào hàm lượng capsaicin
chứa trong quả. Trong cây ớt cay hàm lượng capsaicin (C
18
H
27
chiếm tỷ lệ từ 0,01-0,1%. Capsaicin có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất
endorphin, một chất morphin nội sinh, có đặc tính như những thuốc giảm đau, đặc
biệt có ích cho những bệnh nhân bị viêm khớp mạn tính và các bệnh ung thư.
Ngoài ra, ớt còn giúp ngăn ngừa bệnh tim do chứa một số hoạt chất giúp máu
lưu thông tốt, tránh được tình trạng đông vón tiểu cầu dễ gây tai biến tim mạch. Ớt
còn có tác dụng ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng cao. Một số nghiên cứu cho
thấy, những loại ớt vỏ xanh, trái nhỏ có hàm lượng capsaicin nhiều hơn. Ngoài ra,
4
trong quả ớt còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin C, B1, B2, acid citric, acid
malic, beta caroten…[53].
Theo tạp chí "Khoa học và tương lai" của Pháp (1997) thì người Thái Lan ít bị
bệnh huyết khối và viêm tĩnh mạch do họ hay ăn nhiều ớt, mà ớt lại có hoạt
chất capsaicin phòng được sự hình thành các cục máu đông, làm giảm đau trong
nhiều chứng viêm do ức chế được yếu tố P2 trong cơ thể. Ðồng thời cho biết thêm
gần đây, người ta còn chứng minh ớt ngăn cản các chất gây ung thư thường gắn vào
ADN trong tế bào dẫn đến sự hình thành ung thư [54].
1.1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới.
Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao, cây ớt đã giữ một vị trí
quan trọng trong nền nông nghiệp hàng hóa, đặc biệt là các nước có điều kiện khí
hậu, đất trồng thích hợp. Ớt được trồng nhiều ở các nước Châu Mỹ, Châu Âu, Châu
Phi và một số nước Châu Á như: Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Mai-lai-xi-a, Ấn Độ,
Thái Lan… Ngoài làm gia vị, ớt còn được dùng như một loại rau xanh hoặc để trộn
salad (món ăn gồm các loại rau quả tươi nhồi với thịt). Diện tích và sản lượng ớt
trên thế giới ngày càng tăng. Ở các nước tiên tiến, có quá trình công nghệ sau thu
hoạch phát triển, người ta đã nghiên cứu chế biến ớt quả chín tươi thành các sản
phẩm dưới dạng tương ớt, ớt bột khô, tinh dầu ớt
Bang New Mexico ở Mỹ sản xuất ớt nhiều nhất. Công ty Mellhenry ở
Lousiana (Mỹ) xuất khẩu mỗi năm trên 100 triệu lọ ớt cay Tobaco đến hơn 100
quốc gia… Tuy các nước có khối lượng sản xuất ớt lớn như vậy nhưng vẫn chưa
9. Mỹ
10. Hunggari
11. Indonesia
890
148
80
18
492
152
142
68
28
20
47
53
40
17
22
18
104
7,50
6,97
9,50
8,61
5,22
14,32
9,44
9,12
19,18
24,3
Bảng 1.2. Diện tích và sản lượng cây ớt của một số nước châu Á năm 2006
6
Ớt tươi Ớt khô, ớt bột
Nước Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Nước Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Thế giới 1,726,03
8
25,866,864 Thế giới 1,982,061 2,747,003
Trung Quốc 632,800 13,031,000 Ấn Độ 954,717 1,193,025
Inđônêxia 173,817 871,080 Băngladesh 154,812 185,635
Thổ Nhĩ Kỳ 88,000 1,842,175 Việt Nam 50,793 81,007
Hàn Quốc 67,032 395,293 Trung Quốc 38,000 245,000
Nguồn FAO, 2007
Ấn Độ là nước có tập quán trồng ớt từ lâu đời, là nước đứng đầu thế giới về
diện tích và sản lượng ớt khô, năm 2006 diện tích ớt khô của Ấn Độ chiếm 48,2%
và chiếm 43,4% sản lượng ớt khô toàn thế giới. Năm 2008. diện tích trồng ớt khô
nước này là 805.000 ha, sản lượng ớt khô Ấn Độ năm 2008 ở mức 1.297.000 tấn và
năm 2009 đạt 1.167.000 tấn (bảng 1.3).
Trong khẩu phần ăn hàng ngày của người Hàn Quốc, ớt là thành phần không
thể thiếu. Ước tính trung bình 1 người dân Hàn Quốc tiêu thụ 3,8 kg ớt/năm. Ớt là
loại rau chủ lực ở nước này. Diện tích trồng ớt tươi của Hàn Quốc đứng thứ 8 trong
tốp 10 nước đứng đầu về diện tích trồng trọt. Năm 2006 sản lượng ớt tươi Hàn
Quốc đạt 395,295 tấn, ớt khô là 116,915 tấn, năng suất ớt xanh của nước này rất cao
đạt được 42,11 tấn/ha [27].
Thừa Thiên Huế. Diện tích ớt còn có thể mở ra ở Đồng bằng Bắc bộ, Đồng bằng
sông Cửu Long và Miền Tây Nam bộ”. Đây là vừng ớt hàng hóa, diện tích sản
lượng phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ. Từ năm 1980-1989 rau chiếm khoảng 3.0-
3.5% tổng sản phẩm nông nghiệp [32], [33] trong đó ớt là một trong những mặt
hàng xuất khẩu chủ yếu. Năm 1990 cho đến nay, thị trường xuất khẩu rau – gia vị
có biến động nhiều do thị trường ở Đông Âu bị mất, nhưng ớt cay vẫn là một trong
những mặt hàng xuất khẩu chính. Theo Trần Thế Tục, 1996 [37] diện tích trồng ớt
cay ở các vùng tập trung vào khoảng 3000 ha, năng suất khoảng 10-12 tấn quả
tươi/ha. Sản lượng trung bình 30.000 tấn quả tươi/năm. Năm 1996 diện tích trồng ớt
cao nhất lên tới 5.700 ha trên tổng diện tích trồng rau là 392.000ha. Ở vùng chuyên
canh Bình - Trị - Thiên, mỗi tỉnh có diện tích hàng ngàn ha. Trong 5 năm (1986-
1990), Tổng công ty Rau quả Việt Nam đã xuất sang thị trường Liên Xô (cũ) 22.290
tấn ớt bột, trung bình mỗi năm có 4.500 tấn. Riêng Thừa Thiên Huế, năm 1994-
1996 có diện tích trồng ớt 600ha, năng suất trung bình 10.600kg/ha quả tươi, sản
lượng trung bình hàng năm 6.000-6.500 tấn [3],[4] và xuất khẩu mỗi năm khoảng
400 tấn -600 tấn/năm (Công ty Rau quả T.T-Huế, 1996), ngoài ra ớt còn được xuất
khẩu bằng con đường tiểu ngạch hàng trăm tấn/năm.
Theo số liệu thống kê (Tổng cục thống kê, 2009) [34]: năm 2008 diện tích
trồng ớt của nước ta là 6.532 ha, sản lượng là 62.993 tấn, tăng 37% về diện tích và
35% về sản lượng so với năm 2007. Năng suất trung bình là 9,6 tấn/ha năm 2008
đạt ở mức thấp so với năng suất trung bình của toàn thế giới 14,5 tấn/ha.
Một số địa phương trồng ớt xuất khẩu truyền thống có diện tích lớn như Hải
Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Bình… Năm 2008 diện tích trồng ớt Hải Dương
cao nhất chiếm 12% diện tích và 18% sản lượng so với cả nước (bảng 1.4)
8
Theo thứ tự xếp hạng của FAO, 2006: Việt Nam đứng thứ 5 trên toàn thế giới
về diện tích trồng và chế biến ớt khô, ớt bột và đứng thứ 7 về sản lượng. Sản phẩm
ớt bột ở nước ta hiện nay đang đứng đầu trong các mặt hàng gia vị xuất khẩu, với
thị trường tiêu thụ khá ổn định ở các nước như: Nhật Bản, Hồng Kông, Singapo ớt
bột xuất sang các nước Liên Xô (cũ), Tiệp Khắc, Hunggari, Bungari v.v đem lại
tương ớt… Điển hình là Công ty chế biến nông sản Hải Dương. Công ty GOC Bắc
Giang, Công ty chế biến xuất nhập khẩu Rau quả Thanh Hóa hàng năm xuất khẩu
hàng nghìn tấn ớt cay đông lạnh và muối.
1.1.4. Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch ớt
* Thời vụ [2], [11]
Ớt được trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các
thời vụ sau:
- Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12 dương
lịch và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không
ngập nước khi trời mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, nhưng đất phải thoát nước
9
tốt, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy
nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.
- Vụ Đông xuân (vụ chính): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu
hoạch tháng 2-3 dương lịch năm sau. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất
cao, ít sâu bệnh.
- Vụ Hè thu: Gieo tháng 4-5 dương lịch, trồng tháng 5-6, thu hoạch 8-9
dương lịch. Vụ này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn
giống kháng bệnh thán thư.
* Chuẩn bị cây con
Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m
2
từ 15-25 gram (150-160 hột/g).
Diện tích gieo ươm cây con là 250 m
2
. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất
0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm
rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc
phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên luống ươm. Hạt
ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy
bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc
hơi do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa.
- Bón phân thúc:
Lần 1: 20-25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giống
cao cây). Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg NPK 16-16-8 + 2 kg Calcium
nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ
màng phủ giữa 2 gốc.
Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg NPK 16-16-8 + 2 kg
Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa
2 gốc cà.
Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.
Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg NPK 16-16-8 + 3 kg
Calcium nitrat. Lật màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2
gốc.
Lần 4: Khi cây 100-110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng
dài ngày).
Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg NPK 16-16-8 + 3 kg
Calcium nitrat. Lật màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc.
Chú ý:
Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy
đủ trước khi trồng hoặc bón đủ Calcium nitrat nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung
phân Clorua canxi (CaCl
2
) định kỳ 7-10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để
ngừa bệnh thối đuôi trái.
Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để
hạn chế mất phân.
Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có
thể dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle,
nhanh phục hồi cây.
Bệnh thán
thư
Thối lá hàng loạt, xảy ra mạnh
vào mùa mưa, nếu bị nặng còn
gây hại cả trái xanh,làm rụng
trái. Ban đầu là vết lõm nhỏ, sau
đó lan rộng cỡ 3-4cm, màu vàng
tới da cam
- Luân canh cây trồng.
- Gom trái đem thiêu huỷ.
- Dùng một số thuốc như:
Copperzin, Man Cozeb, Benlat C,
Tilt phun 7-10 ngày/lần
Bệnh héo rũ Bị nặng vào mùa mưa, nấm tấn
công rễ, cây héo từng phần, sau
đó héo cả cây
- Phơi ải đất, luân canh cây trồng.
- Phun Copper B, Benlat C,
Topsin
Bệnh sương
mai
- Phá hại tất cả các bộ phận của
cây ớt.
- Thân chuyển màu đen, gốc lở
cổ rễ và cây bị héo, còn gây chết
rạp cây con.
- Lá xuất hiện các vết đốm, thân
và trái bị thối.
- Lên liếp cao, tránh ngập úng.
cho biết: “Người ta đã thí nghiệm trên giống ớt trong 2 năm với 2 điều kiện khác
nhau (điều kiện lý tưởng cho giao phấn và điều kiện không lý tưởng cho giao phấn),
kết quả cho thấy: ớt là cây tự giao (autogamous) nhưng tỷ lệ lai tạp tự nhiên có thể
chiếm 1 – 46% tùy thuộc vào điều kiện môi trường (ong, bướm, gió, nhiệt độ…).
Trong điều kiện giao phấn lý tưởng, tỷ lệ giao phấn biến động từ 15-46%, không lý
tưởng là 1- 14%. Điều này cho thấy điều kiện khác nhau, giống khác nhau và thời
gian khác nhau thì tỷ lệ giao phấn khác nhau”… Vì vậy trong công tác thuần giống,
phải chú ý cách ly giữa các dòng giống, để đảm bảo độ thuần cao.
Vấn đề bảo quan hạt giống ớt cũng được đặt ra: bảo quản như thế nào để chất
lượng hạt giống và thời gian sử dụng hạt giống kéo dài. Thông thường khi hạt giống
được đưa vào bảo quản phải đạt độ khô 94 – 95%, vỏ hạt có màu vàng rơm (hạt ớt
phải phơi ở nhiệt độ 30-32
0
C trong vòng 7-10 ngày), chất lượng hạt sau bảo quản
tốt hay xấu phụ thuộc vào điều kiện bảo quản. Thí nghiệm cho thấy ở nhiệt độ 20
0
C,
ẩm độ 70% sau 3 tháng tỷ lệ nãy mầm giảm 50% và sẽ chết hoàn toàn sau 6 tháng
14
cũng bảo quản ở nhiệt độ trên. Thí nghiệm cũng thấy rằng ẩm độ của môi trường
ảnh hưởng tới hàm lượng nước trong hạt, do đó ảnh hưởng tới tỷ lệ nẩy mầm so với
nhiệt độ. Nếu bảo quản ở 25 – 35
0
C ẩm độ môi trường 20% sau 24 tháng bảo quản,
tỷ lệ nãy mầm giảm 95 – 84%. Nếu bảo quản ở 25 – 35
0
C ẩm độ 70% hạt sẽ chết
hoàn toàn sau 5 tháng. Biết rõ vấn đề này trong công tác bảo quản hạt giống ớt
chúng ta sẽ đạt được những kết quả tốt hơn [14]
1.1.5.2. Ở Việt Nam
cũng đã nghiên cứu sản xuất các chế phẩm tăng năng suất rau đậu, ớt… và đã triển
khai phun cho ớt trên nhiều địa bàn trồng ớt có kết quả tốt. Năm 1983, 1984. Sở
Nông Nghiệp Bình – Trị - Thiên đã kết hợp với nhiều địa phương phun một số chế
phẩm qua lá lên các giai đoạn phát triển của ớt đã có nhận xét: Khi phun các chế
phẩm từ 2 đến 3 lần vào lúc ớt ra hoa ở diện tích đại trà làm tăng tỷ lệ đậu quả 7 –
10% so với đối chứng (Hoàng Minh Đạt, 1985[6]). Từ năm 1990 trở lại đây nông
dân đã sử dụng một số chế phẩm tăng năng suất cho ớt như Komix 301, Atonic,
Superzin, SG – HQ và các loại phân bón lá khác. Các nguyên tố đa lượng NPK
được chú ý nhiều: Đào Thị Gọn, Trần Đức Dục, 1992[9] đã nghiên cứu nhiều năm
về tập quán canh tác, công thức luân canh, dinh dưỡng NPK và hiệu quả kinh tế của
việc bón NPK trên đất cát biển đối với các loại cây trồng và cây ớt, đã kết luận đất
cát biển T.T.Huế có độ phì thấp, mạch nước ngầm phân bố khá cao. Việc đầu tư
phân bón cho các loại cây trồng trên đất cát biển còn quá thấp, thâm canh chưa
đúng mức nên năng suất thấp. Ở những nơi bố trí cây trồng hợp lý, giống thích hợp,
thâm canh đúng kỹ thuật đã cho năng suất cao đáng kể. Trên đất trồng ớt ở Thừa
Thiên Huế (chủ yếu đất cát biển và đất phù sa nghèo dinh dưỡng) bón phân đa
lượng NPK cho ớt là hết sức cần thiết, có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng phát
triển,làm tăng năng suất của ớt. Tỷ lệ bón NPK thích hợp cho năng suất cao nhất là
tỷ lệ 150N : 175P : 50K. Công thức bón NPK vừa cho năng suất cao, vừa cho hiệu
quả kinh tế lớn và có tác dụng cải tạo đất là 150N : 75P : 50K.
Về bảo vệ thực vật trên ớt, đã có công trình của Lê Ngọc Anh, Nguyễn Văn
Đàn và cộng sự, 1990 [1], nghiên cứu bệnh thối quả ớt và các biện pháp phòng trừ.
Kết quả cho thấy nguyên nhân gây bệnh thối quả ớt là do loại nấm ký sinh
Colletotricum nigrum, từ đó xác định một số biện pháp phòng trừ là bón N:P:K cân
đối theo công thức 1:1:0.5 thì có khả năng hạn chế bệnh tốt nhất, sử dụng 6 loại
thuốc thí nghiệm đều hạn chế tỷ lệ bệnh, cũng như thời vụ trồng ớt cực sớm (có quả
16
từ tháng 2 – tháng 4) thu hoạch xong có thể tránh thời gian nhiễm bệnh. Nguyễn
Như Đối và cộng sự, 1985 [8], nghiên cứu các loại nấm gây bệnh thối trái ớt
(Antracnose) đã nhận xét rằng tác nhân gây bệnh thối trái là 2 loài nấm Fusarium
trình sinh trưởng của tế bào, cơ quan và toàn cây.
- AIA kích thích sự sinh trưởng dãn dài của tế bào
Sự tác dụng của AIA lên tế bào đã được chứng minh bằng nhiều công trình
nghiên cứu khoa học. Qua đó người ta nhận thấy auxin có tác dụng kích thích tế bào
sinh trưởng dãn dài theo chiều ngang làm tế bào phình to ra.
Hiệu quả đặc trưng của auxin là tác động lên sự dãn của thành tế bào. AIA làm
giảm pH trong thành tế bào, hoạt hóa enzim phân hủy các liên kết hydro giữa các
sợi xenluloz, làm cho chúng lỏng lẻo tạo điều kiện cho thành tế bào dãn ra dưới tác
dụng của áp suất thẩm thấu của không bào trung tâm
- AIA có tác dụng điều chỉnh tính hướng động của cây
Tính hướng của cây là một trong những đặc tính vốn có của thực vật. Cây có
thể hướng về tác nhân kích thích bên ngoài tạo nên tính hướng của cây, bao gồm
hướng sáng, hướng đất, hướng thủy và hướng hóa Tính hướng của thực vật có ý
nghĩa quan trong đối với sự sinh trưởng và tồn tại của thực vật. Qua nghiên cứu,
người ta nhận thấy auxin có tác dụng mạnh và rõ rệt lên tính hướng quang và hướng
đất của cây.
18
Bằng việc sử dụng nguyên tử đánh dấu, đã phát hiện ra sự phân bố của AIA
phóng xạ không đều ở hai phía của cơ quan. AIA phân bố nhiều hơn ở phần khuất
ánh sáng cũng như bộ phận nằm ngang của cây. Kết quả là tạo nên sự sinh trưởng
không đều ở hai phía của cơ quan.
Có nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích sự phân bố không đều auxin ở
hai phía của cơ quan. Trong đó người ta cho rằng có hai nguyên nhân chính:
Nguyên nhân thứ nhất là khi bị kích thích thì sự vận chuyển phân cực AIA bị ức
chế; nguyên nhân thứ 2 là có sự tồn tại một điện thế trong các cơ quan đó. AIA
trong cây thường bị ion hóa thành AIA
và do đó phân bố về phía điện dương nhiều
hơn.
- AIA điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn.
trước khi thụ phấn, thụ tinh sẽ thay thế được nguồn auxin nội sinh mà không cần có
quá trình thụ phấn, thụ tinh.
Auxin xử lý sẽ khuếch tán vào bầu nhụy giống auxin nội sinh và kích thích
bầu lớn lên thành quả không qua thụ tinh, có nghĩa là quả không có hạt. Đó chính là
cơ sở khoa học của những ứng dụng tạo quả không hạt trong nông nghiệp.
- AIA kìm hãm sự rụng của hoa, lá, quả
Sự rụng của lá, hoa, quả là do sự hình thành tầng rời ở cuống của các cơ quan
Auxin có tác dụng ức chế sự hình thành tầng rời. Do đó mà nó có thể kìm hãm sự
rụng của lá, hoa và đặc biệt là kìm hãm sự rụng của quả.
Ngoài ra auxin còn có tác dụng điều chỉnh sự chín của quả. Quá trình chín của
quả có sự kích thích của ethilen, nhưng tác dụng đối kháng thuộc về auxin. Auxin
kìm hãm, làm chậm sự chín của quả.
Như vậy, cân bằng auxin/etylen quyết định trạng thái chín của quả. Trong
trường hợp muốn quả chậm chín thì có thể xử lí auxin cho quả xanh trên cây hoặc
sau khi thu hoạch.
1.2.2. Vai trò của Auxin với cây ớt
Auxin là một hormon thực vật được phát hiện đầu tiên vào năm 1934. Đó là
IAA (Axit β - indol axetic). Việc phát hiện ra Auxin là công lao của nhiều nhà khoa
học làm việc liên tục trong nhiều năm và đã chứng minh rằng Auxin là một hormon
thực vật (phytohormon) quan trọng trong toàn thế giới thực vật. Theo Hoàng Minh
Tấn và Nguyễn Quang Thạch, 1993 [24]: Bằng con đường tổng hợp hóa học, hàng
loạt các chất có bản chất Auxin lần lượt ra đời và có ý nghĩa quan trọng trong việc
20
điều khiển sự sinh trưởng, phát triển của cây.
α
-NAA là một Auxin tổng hợp được
sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất với hoạt tính của Auxin”. Ngoài tác dụng nhiều
mặt của Auxin lên quá trình sinh trưởng phát triển của cây thì vai trò của nó đối với
sự kết quả, sự đậu quả, sự tạo quả và sinh trưởng của quả có một ý nghĩa quan trọng
và được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất [16].
sẽ bị tổn thương, màng tế bào giảm tính bền, phức hệ lipoproteit bị phá hủy làm
biến dạng ty lạp thể gây giảm sút quang hợp và hô hấp, tích lũy các sản phẩm độc
hại trong cơ thể; từ đó làm giảm sút quá trình sinh trưởng phát triển, sinh lý hóa
sinh, năng suất và phẩm chất [26].
Theo hướng nghiên cứu sử dụng các biện pháp can thiệp giúp cây sinh trưởng
phát triển thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ cao, một số giải pháp đã được đề ra như
rèn luyện hạt giống, bón bổ sung các chất khoáng và hóa chất [39]. Trên cơ sở
vai trò tích cực của các chất kích thích sinh trưởng trong sự tác động trực tiếp lên
chất nguyên sinh của tế bào, Leopol và Went (1952) đã sử dụng phytohoocmon
ngoại sinh xử lý cho cây và thu được kết quả tốt. Nguyễn Bá Lộc (1993) đã dùng
auxin và gibberellin tác động vào giai đoạn nảy mầm của hạt đậu phộng và hạt đậu
Cowpea, làm giảm tác hại của nhiệt độ cao đối với cây, làm tăng tỷ lệ đậu quả/cây
[17].
Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch 1993[24] đã kết luận rằng: Sự đậu
quả phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện nội tại và ngoại cảnh. Hàm lượng Auxin
và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa
nở. Để tăng cường quá trình đậu quả, người ta bổ sung Auxin và gibberellin cho hoa
và quả non. Auxin và gibberellin sẽ là nguồn bổ sung thêm cho nguồn phytohormon
có trong phôi hạt vốn không đủ. Chính vì thế mà sự sinh trưởng của cây được tăng
cường và quả không rụng ngay được.
Để cung cấp thêm một phần chất dinh dưỡng và một số yếu tố cần thiết, người
ta thường bổ sung một số nguyên tố dinh dưỡng vi lượng và đa lượng. Theo
Nguyễn Bá Lộc, Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2009) [18] bón vi lượng Mn và chất
điều hòa sinh trưởng GA
3
đều có ảnh hưởng tốt đến năng suất và phẩm chất giống
ngô rau LVN
23
. Các công thức có xử lý đã làm tăng năng suất ngô rau lên từ 1% -
31,63% so với đối chứng.
Về sự nẩy mầm của hạt ớt, Desai V.G.P; Patil M.M và Aniarkar M.V (Ấn Độ),
1987 [41] đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sự nảy mầm
của hạt giống ớt ngọt (C, annuum var. grossum). Với giống ớt Brahat, hạt giống đã
được ngâm 24 giờ trong các dung dịch
α
NAA 10 – 20ppm. Sự nảy mầm đã được
tăng nhanh ở điều kiện ngoài đồng và trong phòng thí nghiệm. Số liệu đã được xếp
thành bảng, với những hạt giống được thí nghiệm
α
NAA ở nồng độ 10ppm cho
kết quả tốt:
α
NAA làm tăng tỷ lệ nấy mầm 95.
Patil U.B, Sangle. P.B, Desai B.B, 1985 [45] nghiên cứu ảnh hưởng của NAA,
GA đến năng suất và thành phần hóa học của quả ớt (với 9 giống) đã kết luận: Nồng
độ xử lý NAA tốt nhất cho ớt là 20 ppm sau trồng 20 ngày, GA 10 ppm (phun một
lần) làm tăng số qủa trên cây, kích thước quả và hàm lượng capsisin (chất gây cay),
Cacbohydrate (HC) và Vitamin C, Protein và chất béo của quả ớt.
23
Patil U.B; Sangale P.B; Desai B.B, 1985[45] tiến hành một thí nghiệm trong
nhà kính, với 9 hạt giống ớt được xử lý NAA, GA. Kết quả cho thấy đã có ảnh
hưởng rõ nhất về tăng năng suất, số quả/cây, kích thước quả và hàm lượng
Capsicin, axit ascorbic, cacbohydrate, protein và chất béo của ớt.
Theo Lê Thị Khánh, 1999 [14] Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều
hòa sinh trưởng (α-NAA, GA
3
) và nguyên tố vi lượng (B, Zn) đến sinh trưởng, phát
triển, năng suất và phẩm chất ớt cay (Capsicum anuuml.) ở Thừa Thiên Huế. Kết
qủa cho thấy nồng độ xử lý tối thích của α-NAA đối với ớt là 20ppm và thời gian
xử lý thích hợp là lúc phân cành đến ra hoa đầu. Nồng độ tối thích của GA
+ Phía Bắc giáp Xã Linh Hải
+ Phía Nam giáp xã Cam Hiếu
+ Phía Đông giáp xã Cam Thanh
24
+ Phía Tây giáp xã Cam Tuyền
- Địa hình, khí hậu
Xã Cam Thủy có vị trí khá thuận lợi với tuyến đường xuyên Á từ Quốc Lộ 1A
chạy qua – giáp đường Hồ Chí Minh và tuyến đường liên xã từ Cam Hiếu qua Cam
Thủy. Dân cư ở ven bờ Sông Hiếu chiều dài khoảng 2 km, cả 2 tuyến đương này
đều nằm trên địa bàn xã nên đã tạo điều kiện cho xã Cam Thủy nhiều lợi thế về giao
thông, để giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội, cũng như việc tiếp thu các thành tựu
khoa học Công Nghệ và tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức trong va
ngoài huyện, tạo đà thúc đẩy xã phát triển một nền kinh tế đa dạng Thương mại
dịch vụ, Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp.
+ Địa hình:
- Xã Cam Thủy có khoảng 40% diện tích là dạng địa hình tương đối bằng
phẳng tập trung ở phía Nam của xã còn lại 60% diện tích có dạng địa hình đồi núi
bát úp tập trung ở phía Bắc của xã, độ cao so với mặt nước biển là 30m có nơi cao
nhất là 50m, nơi thấp nhất là 2,5m, độ dốc trung bình 10 – 15 độ. Hướng dốc
nghiêng từ Tây sang Đông do đó việc bố trí, tổ chức sản xuất cây trồng hàng năm
cũng như việc phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi ở một số khu vực còn gặp
nhiều khó khăn.
+ Khí hậu:
- Xã Cam Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, chia làm
2 mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến
tháng 3 năm sau.
- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm từ 24-25
0
C nhiệt độ cao tuyệt đối 40
0