bản tin tâm lý học đông tây số 3 - tâm lý học nhân cách - Pdf 13

class="bi x0 y0 w1 h1"
Tâm Lý Học Đông Tây là bản tin điện tử do WE Link phát hành với mục tiêu xây dựng
một diễn đàn nơi độc giả cùng chia sẻ những góc nhìn khác nhau về tâm lý học. Đó có
thể là góc nhìn khoa học, góc nhìn từ cuộc sống, từ chính kinh nghiệm hành nghề tâm
lý, hay góc nhìn của một người quan tâm đến tâm lý học như một công cụ để nâng cao
chất lượng cuộc sống.
Bản tin Tâm Lý Học Đông Tây sẽ ra mắt độc giả trong tuần đầu tiên của mỗi tháng và
mỗi kỳ phát hành sẽ xoay quanh một chủ đề nhất định. Chủ đề của tháng 8 là Tâm lý
học nhân cách.
Mỗi bản tin sẽ bao gồm các chuyên mục sau:
- Tin tức & Sự kiện Chuyên mục dành đăng các tin bài đáng chú ý về các sự kiện hoặc
các nhân vật liên quan đến tâm lý học với mục tiêu cung cấp cho độc giả những tin thời
sự quan trọng trong lĩnh vực tâm lý học trong nước và quốc tế.
- Khoa học tâm lý Nơi chia sẻ những bài viết tổng luận và các kết quả nghiên cứu khoa
học của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu và thực hành tâm lý. Các bài
nghiên cứu được trình bày theo đúng chuẩn quốc tế của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ
(American Psychological Association) về định dạng bài viết và cách thức trích dẫn.
- Chuyện ngành, chuyện nghề là nơi chia sẻ tâm tư và trải nghiệm của chính những
người trong ngành.Từ đó, độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc sống của các nhà
tâm lý học cũng như đam mê của họ với ngành nghề và khát vọng phát triển tâm lý học
để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người Việt.
- Psych Café Nơi độc giả sẽ khám phá nhiều góc nhìn, nhiều luồng quan điểm khác nhau
về các đề tài tâm lý học mang tính thời sự. Độc giả được khuyến khích đóng góp ý kiến
để làm cho cuộc tranh luận phong phú, sôi nổi hơn với mục tiêu cuối cùng là chia sẻ kiến
thức và kinh nghiệm sống.
- Ai? Chuyện gì? Ở đâu? Giới thiệu thông tin về các tổ chức, cá nhân, hoặc sự kiện có liên
quan đến tâm lý học tại Việt Nam và trên thế giới.
- Tôi là ai? Ai là tôi? Đăng tải các bài viết thú vị và các trắc nghiệm giúp độc giả khám
phá bản thân và những người xung quanh.
- Tâm lý học cho cuộc sống với các bài viết ứng dụng tâm lý vào những sinh hoạt và những
mối quan hệ xã hội thường nhật mong muốn đem khoa học tâm lý đến với mọi người

Trương ị Kim Oanh
Lê Ngọc anh ủy
Trần ị Mai Trang
Chịu trách nhiệm nội dung:
Ngô Minh Uy
iết kế: Nguyễn Văn Toàn
NỘI DUNG
- Tin tức và sự kiện 1
- Khoa học tâm lý 2
- Ai? Chuyện gì? Ở đâu? 9
- Tâm lý học cho cuộc sống 13
- Tôi là ai? Ai là tôi? 15
- Trên kệ sách 17

- Nghiên cứu mới 20
Chân thành cảm ơn những bài viết,
góp ý của chuyên gia và độc giả nhằm
giúp Bản tin Tâm Lý Học Đông Tây
ngày càng phong phú và hữu ích.
Bản tin tâm lý học Đông Tây 1
TIN TỨC & SỰ KIỆN
TIN THẾ GIỚI
THÊM 3 VỞ DIỄN BROADWAY ĐƯỢC GHI NHẬN THÂN THIỆN VỚI TỰ KỶ
11/07/2013, AP
New York – Những buổi nhạc kịch thân thiện với trẻ tự kỉ mang tên “Độc ác”, “Người nhện: Dập Tắt bóng tối”, và “Vua
sư tử” sẽ được biểu diễn vào cuối năm nay và năm sau.
Quỹ phát triển sân khấu, một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp những buổi trình diễn trên sân khấu, đã cho biết lịch trình
chiếu sẽ là: “Vua sư tử” vào 29 tháng 09, “Người nhện” vào ngày 16 tháng 11, và “Độc ác” vào ngày 02 tháng 03. Quỹ đã
mua tất cả vé của các buổi diễn buổi chiều và sẽ cung cấp chúng cho các trẻ em và người lớn mắc hội chứng tự kỷ với
một mức giảm giá nhất định.

Khoa học tâm lý
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 2
KHOA HỌC TÂM LÝ
LÒNG
TỰ
TRỌNG
Lâm Lai Hưng
(Cử nhân Tâm lý học)
1. Định nghĩa về lòng tự trọng.
2. Hai kiểu mẫu về lòng tự trọng
3. Nguyên nhân dẫn đến lòng tự trọng thấp
4. Kết luận
Tài liệu tham khảo
1.ĐỊNH NGHĨA VỀ LÒNG TỰ TRỌNG
Lòng tự trọng là một yếu tố trong nhân cách có ảnh hưởng lớn đến nhận
thức, cảm xúc và hành vi của mỗi cá nhân. Lòng tự trọng được hiểu như là
cách mà chúng ta cảm nhận về mình trong thế giới này.
Có nhiều định nghĩa đã được các tác giả đề cập đến trong những năm qua,
mỗi tác giả đều tiếp cận theo một khía cạnh riêng của mình. Tuy nhiên trên
căn bản có hai kiểu định nghĩa về lòng tự trọng. Đó là kiểu định nghĩa lòng tự
trọng như là năng lực, và định nghĩa lòng tự trọng như là sự xứng đáng.
Đối với định nghĩa lòng tự trọng như là năng lực, một trong những định
nghĩa sớm nhất và thường được cho là một hướng tiếp cận hữu ích để có thể
can thiệp vào lòng tự trọng là định nghĩa của William James
Sự tự cảm nhận của chúng ta trong thế giới này hoàn toàn phụ thuộc vào
những gì chúng ta có được và làm được. Nó được xác định bằng tỷ lệ của
những khả năng thực tế của chúng ta với mẫu số là những kỳ vọng của chúng
ta và tử số là những thành công của chúng ta, như vậy một phân số có thể được
tăng lên bằng cách giảm mẫu số và tăng tử số. (1890/1983, trang 296)


với chính mình, định nghĩa này mang tính trung gian giữa định nghĩa lòng tự trọng như là năng lực và sự xứng đáng.
Như định nghĩa của Guindon:
“Lòng tự trọng là thái độ đánh giá các thành phần của bản thân, phán đoán về tình cảm được đặt trên khái niệm về bản
thân bao gồm cảm giác về giá trị và sự chấp nhận mà chúng ta được phát triển và duy trì như là một hệ quả của sự nhận
thức về năng lực và thông tin phản hồi từ thế giới bên ngoài” (2002, trang 207)
Tuy nhiên, lòng tự trọng không phải chỉ là một cấu trúc đơn mà có vẻ nó giống như là một hệ thống mà theo Guindon
nó có hai thành phần, là thành phần lòng tự trọng toàn thể và thành phần lòng tự trọng chọn lọc:
Lòng tự trọng toàn thể: là một ước tính mang tính tổng thể nói chung về giá trị bản thân, một mức độ tự chấp nhận hay
tôn trọng chính mình, một đặc điểm hoặc xu hướng tương đối ổn định và lâu dài trên toàn thể, bao gồm tất cả các đặc
điểm trực thuộc và đặc tính bên trong bản thân (self)
Lòng tự trọng chọn lọc : là một sự đánh giá các thành phần và đặc điểm cụ thể hoặc phẩm chất bản thân, vào những thời
gian hoàn cảnh khác nhau và mang tính tạm thời, mà đó là sự lượng định và kết hợp thành một đánh giá tổng thể của
bản thân, hoặc lòng tự trọng toàn thể. (2002, trang 207)
uyết hai yếu tố về lòng tự trọng được Tafarodi và Swann Jr trình bày vào năm 1995. eo Mruk thì:
Bằng cách này sự hiểu biết về lòng tự trọng được toàn diện hơn so với những quan điểm khác, có nghĩa là nó có thể cung
cấp các khả năng khác nhau hoặc thậm chí tích hợp các tài liệu khác của lĩnh vực này […] nó là ý tưởng mà năng lực và
sự xứng đáng làm việc cùng nhau để tạo nên lòng tự trọng (2006, trang 24).
eo thuyết này, lòng tự trọng được định nghĩa theo một cách khác:
Lòng tự trọng là tình trạng sống của một người có năng lực trong việc giải quyết những thách thức của cuộc sống một cách
xứng đáng theo thời gian. (Mruk, 2006, trang 28).
eo Mruk (2006), cấu trúc cuộc sống của lòng tự trọng bao gồm năm yếu tố chính:
• Trạng thái, là từ được lựa chọn để đại diện cho khía cạnh này của lòng tự trọng bởi vì trạng thái ngụ ý rằng đó là một
cái gì đó ổn định, hợp lý trong khi vẫn mang tính mở cho những thay đổi trong những điều kiện nhất định. Ví dụ như tình
hình kinh tế, tình trạng hôn nhân của một người… Trong ý nghĩa này, mỗi người chúng ta có xu hướng sống ở một mức
độ ổn định tương đối, đối với cả mức độ lòng tự trọng đặc trưng của chúng ta.
• Năng lực, là tập hợp cụ thể đặc điểm về thể chất, nhận thức và kỹ năng xã hội hoặc kỹ năng của một cá nhân, cũng như
các điểm yếu trong các lĩnh vực này. Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng năng lực là một quá trình, cần có thời gian học và thực
hành để tìm hiểu làm thế nào để làm chủ các nhiệm vụ trong cuộc sống. Năng lực được kết nối với lòng tự trọng vì các cá
nhân đối phó với những thách thức khác nhau của cuộc sống trên cơ sở của những kỹ năng cụ thể có sẵn.
• Sự xứng đáng, được gắn với giá trị hoặc chất lượng hành động của chúng ta. Hành vi có năng lực thường có xu hướng

thấy nó là bằng chứng đúng khi tôi không tin tưởng vào tâm trí của mình. (1994, trang 4)
ông thường đối với lòng tự trọng, các tác giả thường phân chia thành lòng tự trọng thấp hoặc lòng tự trọng cao. Có
một sự khác biệt rõ ràng về cách thức mà những người mang lòng tự trọng cao hay thấp này quyết định hoặc hành động.
Với lòng tự trọng cao, một người có nhiều khả năng tồn tại trong khi đối mặt với khó khăn. Với người có lòng tự trọng
thấp, họ có khả năng bỏ cuộc hoặc thông qua việc cố gắng hành động mà những hành động đó không thực sự là lựa chọn
tốt nhất cho họ. Những người có lòng tự trọng cao sẽ kéo dài một nhiệm vụ lâu hơn một cách đáng kể so với người có
lòng tự trọng thấp (Branden, 1994, trang 5). Người có lòng tự trọng cao dường như tự định hướng và độc lập nhiều hơn
so với người có lòng tự trọng thấp. Người có lòng tự trọng cao thường đón nhận thông tin phản hồi và có thể nhận thức
được nhiều tình huống thực tế, người lòng tự trọng thấp có xu hướng thận trọng hơn, tự bảo vệ mình và bảo thủ hơn
người có lòng tự trọng cao (Guindon, 2010, trang 18). Người có lòng tự trọng không ổn định rất nhạy cảm với những
thông tin phản hồi, khi một người có lòng tự trọng không ổn định nhận được phản hồi tiêu cực, lòng tự trọng của họ
giảm phản ứng với những thông tin phản hồi này hơn đối với những người có lòng tự trọng ổn định (như trích dẫn của
Guindon, 2010, trang 18)
eo Rosenberg và Owens năm 2001:
Những người có lòng tự trọng thấp nhạy cảm hơn người khác đối với những kinh nghiệm có nguy cơ gây thiệt hại đến lòng
tự trọng của họ. Họ có nhiều khó khăn đối với những lời chỉ trích và phản ứng cảm xúc nghiêm trọng hơn đối với sự thất
bại. Ngoài ra, họ có nhiều khả năng để phóng đại các sự kiện tiêu cực hoặc nhận thấy những nhận xét vốn dĩ không quan
trọng là quan trọng. Những người có lòng tự trọng thấp thường cảm thấy ám sợ xã hội nhiều hơn những người khác […].
Những người có lòng tự trọng thấp thiếu sự tự tin khi ở trong mối quan hệ tương tác với người khác. Họ thường cảm thấy
ngượng ngùng, nhút nhát, lộ liễu, và không thể thể hiện được bản thân một cách đầy đủ khi tương tác với người khác.
Branden (1994) mô tả sự khác biệt về cách nghĩ của người có lòng tự trọng cao và thấp:
Những người có lòng tự trọng cao tìm kiếm những thách thức và kích thích có giá trị và đòi hỏi một mục tiêu. Việc đạt
được mục tiêu như vậy chính là nguồn nuôi dưỡng tốt cho lòng tự trọng. Đối với những người có lòng tự trọng thấp thì
họ tìm kiếm sự an toàn trong sự quen thuộc và không đặt ra các yêu cầu. Nhốt bản thân trong sự quen thuộc và không
đặt ra các yêu cầu góp phần làm suy yếu lòng tự trọng. Với lòng tự trọng cao hơn, chúng ta cởi mở hơn, trung thực hơn và
giao tiếp phù hợp với con người của chúng ta, bởi vì chúng ta tin rằng suy nghĩ của chúng ta có giá trị và do đó chúng ta
hoan nghênh nó nhiều hơn là sợ hãi nó. Với lòng tự trọng thấp hơn thì chúng ta khập khiễng, lảng tránh, sự giao tiếp của
chúng ta không được phù hợp với con người của chúng ta, bởi vì chúng ta không chắc chắn về những suy nghĩ, cảm xúc
và/ hoặc lo lắng về phản ứng của người nghe. (trang 6)
Trong quyển You can read anyone của tiến sĩ David J. Lieberman (2007) tổng hợp và phân biệt khá rõ ràng và ngắn gọn

• Có giá trị và lòng tin cao và vững chắc. • Có giá trị, lòng tin thấp và không vững, dễ mất lòng
tin.
• Dù đã bỏ nhiều công sức vào một việc nhưng họ
vẫn có thể dứt khoát từ bỏ được khi cảm thấy đó là
việc làm đúng.
• Khi đã bỏ nhiều công sức vào một việc nào đó thì
sẽ khó dứt bỏ được nó và thường viện đủ lí do để bào
chữa cho việc họ không bỏ được.
• Ít bị ảnh hưởng bởi tâm trạng. • Bị ảnh hưởng nhiều tới tâm trạng.
• Nếu sai hay thất bại họ có thể chấp nhận nó. • Nếu sai hay thất bại họ không thể chấp nhận và
dùng mọi cách để bào chữa, biện hộ hay hợp lý hóa
những sai lầm của mình.
Bảng 3
Tuy nhiên theo thuyết hai yếu tố mà Christopher J.Mruk đã trình bày trong tác phẩm của mình năm 2006 thì các kiểu
mẫu của lòng tự trọng có thể phân thành 4 kiểu được phân theo cấu trúc của một biểu đồ ma trận như sau (bảng 4):
Lòng tự trọng
dựa vào sự xứng đáng
Lòng tự trọng cao
Lòng tự trọng thấp Lòng tự trọng
dựa vào năng lực
0
Năng lực
Sự xứng đáng
+10
+10
-10
-10
Bảng 4
Khoa học tâm lý
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 6

Trung bình
(Medium)
Hoài nghi
(Negativistic)
Tập trung
vào thành tích
(Achievement
Centered)
0
Năng lực
Sự xứng đáng
+10
+10-10
-10
+5,+5-5,+5
-5,-5
+5,-5
Ái kỷ (Narcissistic)
Lòng tự trọng thấp
(Classical Low)
Chống đối xã hội
(Antisocial)
Chân thực (Authentic)
Lòng tự trọng
dựa vào sự xứng đáng
Lòng tự trọng cao
Lòng tự trọng
dựa vào năng lực
Lòng tự trọng thấp
Bảng 5

Mức độ:
a.Hoài nghi: nói chung đây là phong cách thận trọng, tự
điều chỉnh, tập trung vào việc bảo vệ mức độ lòng tự trọng
hiện nay và tránh làm mất nó.
b.Lòng tự trọng thấp: chức năng bị suy giảm do ý thức kém
về khả năng và giá trị. Dễ bị trầm cảm, buông bỏ.
Mô tả chung : lòng tự trọng mong manh hoặc không ổn
định, được đặc trưng bởi mức ý thức về sự xứng đáng
thấp và bù đấp bằng cách tập trung vào năng lực.
Mức độ:
a.Tìm kiếm sự thành công: phụ thuộc vào những
thành công hoặc thành tựu đạt được, lo lắng và nhạy
cảm với sự thất bại.
b.Chống đối xã hội: nhu cầu quá mức về thành công
và quyền lực. Dể bị tổn thương, phóng ngoại (acting
out) một cách mạnh mẽ.
Bảng 6
3. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LÒNG TỰ TRỌNG THẤP
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lòng tự trọng thấp mà nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra, tuy nhiên không nhất định có
một nguyên nhân cụ thể duy nhất nào dẫn đến lòng tự trọng thấp.
eo tác giả McKay (2000) thì các nghiên cứu về trẻ em thể hiện rõ rằng, phong cách nuôi dưỡng của cha mẹ trong ba
hoặc bốn năm đầu đời sẽ xác định mức độ lòng tự trọng, dựa vào đó đứa trẻ bắt đầu cuộc đời (trang 2). Bởi vì sự tự nhận
thức của chúng ta bị ảnh hưởng nhiều bởi cách thức mà chúng ta giải thích “thông tin phản hồi từ người khác” - cách mà
chúng ta nhận thức về phản ứng của họ về những gì chúng ta đã làm và nói – và quá trình này bắt đầu từ những tương
tác đầu tiên từ khi là trẻ sơ sinh. (Plummer, 2005, trang 13)
Và khi chúng ta tưởng chừng như đã là người trưởng thành thì chúng ta vẫn như những đứa trẻ, chúng ta chủ yếu dựa
vào các thông tin bên ngoài để xác nhận giá trị và năng lực của bản thân. Chúng ta nhìn vào những người quan trọng
đối với cuộc sống của chúng ta (cha mẹ, ông bà, thầy cô…) để chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta được yêu thương hay
chấp nhận đến mức nào. (Plummer, 2005, trang 14)
Tuy nhiên, trên thực tế lòng tự trọng và hoàn cảnh chỉ liên quan gián tiếp với nhau. Một yếu tố can thiệp để xác định lòng

3. Nathaniel Branden. (1992). e Power of Self-Esteem. Florida: Health Communications.
4. Matthew McKay & Patrick Fanning. (2000). Self – Esteem: A proven program of cognitive techniques for assessing, improving & main-
taining your self-esteem (3rd ed.). Canada: New Harbinger Publication.
5. Christopher J.Mruk (2006). Self-Esteem reasearch, theory, and practice: toward a positive psychology of self-esteem (3rd ed.). New
York: Springer Publishing company.
6. Sharon L.Johnson (2004). erapist’s Guide to Clinical Intervention – the 1 – 2 – 3’s of Treatment Planning (2nd ed.). California:
Academic Press.
7. Timothy J.Owens & Sheldon Stryker & Norman Goodman (Eds.). (2006). Extending Self-Esteem eory and Research, Sociological
and Psychological Currents. New York: Cambridge University Press.
8. Marilyn J. Sorensen. (2006). Breaking the Chain of Low Self-Esteem (2nd ed.). Sherwood: Wolf Publishing Co.
9. Deborah Plummer. (2005). Helping Adolescents and Adults to Build Self-Esteem. Philadelphia: Jessica Kingsley Publishers.
10. Mary H. Guindon (Ed.). (2010). Self-esteem across the lifespan: issues and interventions. New York : Taylor and Francis Group.
TIN THẾ GIỚi
AI?
CHUYỆN GÌ?
Ở ĐÂU?
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 9
TRƯỜNG CHUYÊN BIỆT BIM BIM
Trường Chuyên biệt Bim Bim ra đời với mong muốn chung tay góp sức một phần
vào xã hội trong việc giúp đỡ các em có những khó khăn trong phát triển tâm vận
động như: trẻ chậm nói, chậm phát triển trí tuệ, tự kỷ, Asperger, trẻ có vấn đề về
hành vi, nhận thức, giao tiếp, cảm xúc,…
1. Hoạt động
1.1. am vấn và trị liệu trẻ em.
Trẻ chậm nói, chậm phát triển tâm vận động, tự kỷ, khó khăn trong học tập,
khó khăn về giao tiếp, trẻ có ý nghĩ và hành vi khác thường…
1.2. Giải đáp thắc mắc về tâm lý, tham vấn và trị liệu tâm lý cho người lớn
1.3. Huấn luyện chuyên môn cho giáo viên và phụ huynh.
2. ang đánh giá
Test Denver II (đánh giá sự phát triển tâm vận động), thang CARS (đánh giá

Psych Café 34
Mối quan hệ trị liệu: Từ sự quyến rũ đến
lạm dụng quyền lực
ời gian: 9h – 12h, Chủ Nhật 18/08/2013
Báo cáo viên: .s Lê Hoàng ế Huy (giảng viên bộ
môn Tâm lý học – ĐH KHXH&NV)
**Nội dung Psych Café 34 chỉ phù hợp với những người đã và đang học
tập, giảng dạy, giám sát, hành nghề tâm lý học nói chung và tham vấn -
trị liệu nói riêng.
.s Lê Hoàng ế Huy
Psych Café 35
Những điều cần lưu ý khi làm việc với
thân chủ có vấn đề về nhân cách
ời gian: : 9h – 12h, Chủ Nhật 25/08/2013
Báo cáo viên: Bs. Phan iệu Xuân Giang (giảng viên
Tâm lý thần kinh, Tâm bệnh học phát triển)
Địa điểm: Phòng tập huấn - Trụ sở công ty We Link
64 Hồ Hảo Hớn, P. Cô Giang, Q.1 (lầu 2)
Vui lòng đăng ký tham dự (tên, số điện thoại, email, công tác) qua
Email:
Điện thoại: 0916 909 023
Bs. Phan iệu Xuân Giang
www.facebook.com/Psychcafe
Ai? Chuyện gì? Ở đâu?
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 11
KHÓA ĐÀO TẠO LÝ THUYẾT VÀ KỸ THUẬT THAM VẤN
TÂM LÝ (KHAI GIẢNG NGÀY 04/09/2013)
Với sứ mạng Hỗ trợ và thăng tiến sức khỏe tâm lý người Việt Nam, và Góp phần thúc đẩy sự phát triển chuyên nghiệp
của ngành tâm lý học tại Việt Nam, Trung tâm Đào tạo Tâm lý học Ứng dụng (APTC) thuộc Công ty TNHH Dịch vụ
Tư vấn và Giáo dục WE Link đã xây dựng và đề xuất một chương trình huấn luyện về Lý thuyết và kỹ thuật tham vấn

Chủ đề 3: Những khó khăn tâm lý thường gặp/10 giờ
Chủ đề 4: Hình thức và tiến trình tham vấn tâm lý/ 10 giờ
Chủ đề 5: Lý thuyết và Kỹ thuật am vấn tâm lý căn bản/
15 giờ
Chủ đề 6: Can thiệp khủng hoảng tâm lý và các tình huống
khẩn cấp/ 10 giờ
Chủ đề 7: ực hành có giám sát/ 30 giờ
Học phí: 5.900.000 VNĐ/học viên/khóa
(Bao gồm: chứng nhận, tài liệu, teabreak, phiếu giảm 10%
cho 1 khóa học tự chọn ở We Link).

Học viên cũng có thể đăng ký học từng nội dung chính sau:
- 06 giờ nền tảng tâm lý học: 400.000 VNĐ/ học viên
- 60 giờ lý thuyết và thực hành tại lớp: 4.000.000 VNĐ/ học
viên
- 30 giờ giám sát (quan sát, quản lý trường hợp, và tham vấn
trực tiếp có hỗ trợ của tham vấn viên: 2.000.000 VNĐ/ học
viên)
* ĐẶC BIỆT*
1. Giảm 20% cho học viên từng học các khóa dài hạn
ở WE Link
2. Giảm 10% cho học viên từng tham dự Workshop
hoặc 05 lần Psych Café tại WE Link
3. Giảm 10% cho học viên đăng ký trước ngày
15/08/2013.
THÔNG TIN LIÊN HỆ VÀ ĐĂNG KÝ KHÓA HỌC

Số điện thoại văn phòng: (08) 6291 2900
Di động: 0902 442 983
E-mail: hoặc

CON CÁI THUỘC TUỔI THANH THIẾU NIÊN CỦA MÌNH
Ngày nay, hầu hết các bậc cha mẹ thế kỉ 21 đã dán nhãn lứa tuổi thanh thiếu niên là vô lý, ích kỷ, cố chấp và không đáng
tin cậy. Nếu điều này là sự thật thì ai là người chịu trách nhiệm? Cha mẹ, môi trường xã hội hay chính bản thân các thanh
thiếu niên? Các nghiên cứu mới cho thấy những bậc cha mẹ nào với con cái, có quan điểm cởi mở, dành thời gian và tập
trung thực hiện những nỗ lực nhằm công nhận những điểm mạnh của thanh thiếu niên thì họ có thể định hình nhân
cách của con em mình.
eo tiến sỹ Richard Lerner tại trường Đại học Tus, tất cả các thanh thiếu niên không phân biệt thành phần xã hội và
kinh tế đều có tiềm năng phát triển tích cực thành công như nhau. Những củng cố xác thực giúp hỗ trợ cho các đặc điểm
tích cực không chỉ nâng cao và định hình nhân cách của thanh thiếu niên mà còn có thể ngăn chặn chúng vướng phải các
vấn đề về hành vi tiêu cực khi trưởng thành. Tiến sĩ Lerner nhấn mạnh đến 5C, cụ thể là năng lực (competence), sự tự
tin (condence), kết nối (connection), tính cách (character) và sự quan tâm (caring). Tất cả 5 điều trên đều có thể được
các bậc cha mẹ bồi dưỡng và thúc đẩy phát triển tại nhà cũng như trong cộng đồng.
Bản tin tâm lý học Đông Tây 13
TÂM LÝ HỌC
CHO CUỘC SỐNG
NĂNG LỰC
Năng lực là sự kết hợp giữa khả năng thiên bẩm và những thứ tích lũy được trong quá
trình sống. Tuy nhiên, học tập tốt hay tham gia tích cực trong các hoạt động ngoại khóa
không nhất thiết thể hiện được năng lực của một người nằm ở mức độ nào. Các yếu tố
như khả năng suy nghĩ sáng suốt và hành động dứt khoát khi gặp khủng hoảng, khả
năng thể hiện được những quyết định hợp lý nhờ vào kinh nghiệm từng trải trong cuộc
sống, sự thành thạo nghệ thuật đàm phán và có kiến thức tổng quát về các vấn đề hiện
tại đều có thể gây ảnh hưởng. Cha mẹ có thể tạo dựng và duy trì năng lực của con mình
trong một môi trường gia đình thương yêu và tích cực.
Đồng thời, có một điều quan trọng mà các bậc cha mẹ cần ghi nhớ là không đứa trẻ nào
có thể có hết các năng lực trong tất cả các lĩnh vực. Bằng cách quan tâm đến tất cả mục
đích của thanh thiếu niên, tán thưởng các thành tích của con trẻ, và cho chúng vô số
cơ hội, cha mẹ có thể góp phần không nhỏ trong việc định hình nhân cách của thanh
thiếu niên.
SỰ TỰ TIN

Đặc điểm này đóng vai trò quan trọng cũng như việc chuyển tiếp từ thanh thiếu niên lên tuổi trưởng thành, khi chúng
được yêu cầu xây dựng và duy trì mối quan hệ với những cá nhân khác nhau tại nơi làm việc và trong môi trường xã
hội.

Các bậc cha mẹ có thể đưa ra lời chỉ dẫn đúng đắn cho thanh thiếu niên bằng việc nêu lên các ví dụ điển hình và chính
bản thân họ cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc. Họ có thể thể hiện việc quan tâm chăm sóc bằng hành vi tại nhà và
bằng việc thể hiện thái độ lịch sự tương tự tới gia đình, họ hàng, bạn bè và cộng đồng gần gũi.
hình nhân cách khỏe mạnh. anh thiếu niên cần phải trau dồi thói quen quan tâm chăm sóc, cần phải có lòng trắc ẩn
và quan tâm đến người khác. Đặc điểm này đóng vai trò quan trọng cũng như việc chuyến tiếp từ thanh thiếu niên lên
tuổi trưởng thành, khi chúng được yêu cầu xây dựng và duy trì mối quan hệ với những cá nhân khác nhau tại nơi làm
việc và trong môi trường xã hội.

Các bậc cha mẹ có thể đưa ra lời chỉ dẫn đúng đắn cho thanh thiếu niên bằng việc nêu lên các ví dụ điển hình và chính
bản thân họ cũng thể hiện sự quan tâm chăm sóc. Họ có thể thể hiện việc quan tâm chăm sóc bằng hành vi tại nhà và
bằng việc thể hiện thái độ lịch sự tương tự tới gia đình, họ hàng, bạn bè và cộng đồng gần gũi.
KẾT LUẬN
Mặc dù có thể có một vài trường hợp ngoại lệ nhưng hầu hết các thanh thiếu niên là những cá nhân tốt muốn cân bằng
mối quan hệ lành mạnh giữa cha mẹ và bạn bè. Các bậc cha mẹ tham gia một cách tích cực vào việc dành nhiều thời gian
cho con trẻ cũng như đảm bảo là tất cả những đặc điểm được đề cập ở trên đều được phát huy thì họ sẽ thành công trong
việc định hình nhân cách của con trẻ.
Một điểm cần nhớ là cha mẹ, những người suy nghĩ điều tốt nhất cho con trẻ, hiếm khi thất bại. Bởi vì hầu hết những
nhu cầu của các bậc làm cha làm mẹ là thúc đẩy sự phát triển tích cực cho mỗi thanh thiếu niên. Nhờ đó mà mỗi cá nhân
thanh thiếu niên có thể có được thành quả tốt đẹp cho bản thân, gia đình, đất nước và toàn thế giới.
Nguồn: - Sách “anh thiếu niên tốt” (e good teen) (tác giả: tiến sĩ Richard M.Lerner)
- Sách “Nuôi dạy con cái tuổi thanh thiếu niên với tình yêu thương và sự hợp lý” (Parenting Teens with love and logic)
( tác giả: Foster Cline và Jim Fay)
Bản tin Tâm lý học Đông Tây
Tôi là ai? Ai là tôi?
15
TÔI LÀ AI?

1 2 3 4 5
11 Tôi luôn thực hiện những điều mà mình chủ trương. 1 2 3 4 5
12 Về cơ bản thì tôi rất giỏi trong việc thực hiện sát sao các kế hoạch của mình. 1 2 3 4 5
13 Tôi không bao giờ nói điều gì trái ý mình. 1 2 3 4 5
14 Tôi có nguyên tắc riêng về hành vi của bản thân và tôi thực hiện chúng một cách
nghiêm ngặt.
1 2 3 4 5
15 Mọi hành vi của một người nên được hướng đến một số ít nhất định các mục tiêu cá
nhân rõ ràng.
1 2 3 4 5
16
“Nói đúng sự thật” luôn là cách xử sự tốt nhất.
1 2 3 4 5
17
Tôi có thể ứng khẩu ngay với những chủ đề mà tôi hầu như chẳng có thông
tin nào.
1 2 3 4 5
18
Tôi chắc chắn sẽ là một diễn viên giỏi vì tôi có thể đóng bất cứ vai gì.
1 2 3 4 5
19
Tôi gặp rất ít rắc rối khi thay đổi hành vi của mình cho hợp với người khác và
những hoàn cảnh khác.
1 2 3 4 5
Tôi là ai? Ai là tôi?
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 16
20 Trong những buổi bàn luận thân mật thì tôi thường nói lời ủng hộ cho những người
không được yêu thích để mọi người suy nghĩ kĩ hơn về những gì họ đang nói.
1 2 3 4 5
21 Tôi chỉ tranh luận cho những ý tưởng mà tôi có tâm huyết mãnh liệt với nó. 1 2 3 4 5

tương ứng với mỗi thang đo. Ví dụ khi bạn đạt được 26 điểm
ở thang Pr, điều đó có nghĩa là số điểm của bạn cao hơn 85%
số người đã làm bài trắc nghiệm này ở thang đo Pr. Nếu bạn
đạt được 13 điểm ở thang đo LC thì có nghĩa là số điểm của
bạn cao hơn 50% số người đã làm bài trắc nghiệm này ở
thang đo LC. Điều đó có nghĩa là bạn có khả năng dự đoán
hành vi (thang Pr) cao hơn so với 85% số người trả lời bài
trắc nghiệm này, và mức độ linh hoạt của bạn cao hơn 50%
số người trả lời trắc nghiệm này.
Mẫu nghiên cứu của bài trắc nghiệm được khảo sát trên sinh viên hoặc những người trưởng thành không có bất kì vấn
đề tâm lý nào được biết trước đó.
Bài trắc nghiệm không có chức năng về mặt chẩn đoán, vì vậy số điểm trong bài kiểm tra này sẽ không thể dùng để kết
luận rằng bạn có vấn đề về tâm lý. Đúng là nó thực sự có thể có đủ điều kiện để chẩn đoán, nhưng cách duy nhất bạn
có thể biết chính xác đó là hãy tham khảo ý kiến của một chuyên gia sức khỏe tâm thần.
BÀN VỀ BẢNG TÓM TẮT HÀNH VI CÁ NHÂN
Khuynh-Hướng-Khác (OD). Những người có điểm cao trong thang điểm này cảm thấy áp lực khi phải sống sao cho
hợp với trông đợi của người khác. Lòng tự tôn thấp của họ khiến họ trải nghiệm lo âu khi họ nghĩ về việc nói hay làm
một điều gì đó có thể làm phật ý những người xung quanh họ. Kết quả là, họ cảm thấy hơi bất lực để kiểm soát hướng
đi của cuộc đời mình.
ID : Khuynh – Hướng – Bên – Trong, những người có điểm cao trong thang điểm này có một kế hoạch ngầm hay một
sự cân bằng tâm lý. Những người đó có một cảm nhận rõ rệt về phương hướng mà họ muốn cho cuộc đời của mình và
họ tin rằng họ có nguồn lực để đi đến được đó.
LC : iếu sự kiềm chế là chiều kích thứ ba. Những người có điểm cao trong thang này có thể được mô tả là có tinh thần
tự do và sáng tạo, tuy nhiên với số điểm quá cao thì lại là những kẻ cơ hội có ít cảm nhận hay ít sự quan tâm về điều gì
là thích hợp hoặc không thích hợp. Vì vậy, điểm số nằm trong khoảng 50 tới 70 phần trăm là tốt nhất. Điều quan trọng
Bản tin Tâm lý học Đông Tây
Tôi là ai? Ai là tôi?
17
là cần phải có khả năng uyển chuyển để thích nghi với hoàn cảnh khác nhau, nhưng một sự cân bằng về tâm lý cũng rất
quan trọng.

đoán, phong cách lãnh đạo yếu kém, tính cầu toàn, tính kiêu ngạo, hành động
ngông cuồng, tính kiểu cách, sự phản bội, tính vô tổ chức, và sự lo lắng thái quá.
Dựa trên hàng loạt những nghiên cứu khoa học, cuốn sách đem đến sự tiến bộ về một học thuyết khoa học nguyên bản
về những nhu cầu, giá trị, đặc điểm nhân cách tâm lý. Reiss chỉ ra những đặc điểm khác nhau về ARCS (ARCS Motiva-
tion Model – Lý thuyết động lực ARCS với A – Attention (Sự tập trung), R – Relevance (Tính thích hợp), C – Condence
(Sự tự tin), S - Satisfaction (Sự thỏa mãn) so với những đặc điểm và giá trị nhân cách. Tác giả cũng chỉ ra làm thế nào mà
kiến thức về nhu cầu và giá trị tâm lý có thể được ứng dụng trong tư vấn cho những cá nhân và các cặp vợ chồng. Đồng
thời, tác giả cũng miêu tả những phương pháp mới và hiệu quả trong việc tiếp cận và tiên đoán hành động có động lực
trong những môi trường tự nhiên, bao gồm các công ty, trường học và những mối quan hệ.
Giới thiệu về tác giả:
Giáo sư Steven Reiss là giám đốc điều hành của World Society of Motivation Scientists and Professionals. Ông là người
đã tạo ra mô hình khoa học có ảnh hưởng liên quan đến lo âu có tên gọi là Anxiety Sensitivity (AS) nhằm tạo điều kiện
để xác định sớm những người có nguy cơ đối với các loại lo âu khác nhau và những rối loạn có liên quan đến stress.
AS đã tạo ra những cơ hội mới cho những dự án nghiên cứu (được hỗ trợ bởi Quỹ NIH (National Institudes of Health)
– Viện Sức khỏe quốc gia) đang được tiến hành nhằm nghiên cứu về phương pháp tiêm chủng dành cho rối loạn căng
thẳng sau sang chấn và nghiên cứu tâm lý mới về đau mãn tính và lạm dụng thuốc. Ông là người đã xây dựng Reiss
Prole, một công cụ đánh giá để xác định điều gì thúc đẩy mỗi người trong cuộc sống cũng như công bố bảng phân loại
hợp lệ đầu tiên về những động lực cuộc sống (nhu cầu tâm lý).
TRÊN
KỆ SÁCH
Personality Disorders in Modern Life
(Tạm dịch: Những rối loạn nhân cách trong cuộc sống hiện đại)
Tác giả: eodore Millon và Seth Grossman, Carrie Millon, Sarah Me
agher, Rowena Ramnath.
Personality Disorders in Modern Life (tái bản lần thứ hai) với sự khám phá liên
tục từ những đặc điểm nhân cách khỏe mạnh để chẩn đoán và điều trị những
trường hợp nghiêm trọng của những rối loạn nhân cách. Chính sự khám phá
liên tục đó đã mang đến những nét độc đáo trong phạm vi nghiên cứu bao quát
bao gồm những nhân vật lịch sử quan trọng và những nhà lý luận đương thời
trong lĩnh vực này.

Tiến sỹ Tâm lý học Seth Grossman là người đồng sáng lập một vài bản tóm tắt đánh giá nhân cách và là đồng tác giả của
rất nhiều lý thuyết, nghiên cứu và những bài báo lâm sàng cùng với Tiến sỹ Millon.
Tiến sỹ Carrie Millon nguyên là hiệu trưởng của Đại học Miami và hiện tại là Giám đốc liên kết của Viện Nghiên cứu
cấp cao về Nhân cách và Tâm bệnh học (IASPP).
Tiến sỹ Sarah Meagher là một bác sỹ nghiên cứu thực hành sức khỏe tâm lý lâm sàng thuộc các chương trình y học về
hành vi của dịch vụ sức khỏe tâm thần Kaiser Permanente tại California.
Tiến sỹ Tâm lý học Rowena Ramnath là nhà nghiên cứu tại IASPP chuyên nghiên cứu về Tâm lý pháp lý và nghiện
Internet.
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 18
Trên kệ sách
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 19
Trên kệ sách
Personality and Intelligence at Work: Exploring and Explaining
Individual Dierences at Work
(Tạm dịch: Nhân cách và trí thông minh trong công việc: Khám phá và giải
thích sự khác biệt cá nhân trong công việc)
Tác giả: Adrian Furnham
Personality and Intelligence at Work xem xét vai trò ngày càng gây tranh cãi
của sự khác biệt giữa các cá nhân trong việc tiên đoán và xác định thái độ trong
công việc. Cuốn sách kết hợp những hướng tiếp cận từ Tâm lý học tổ chức
(Organization Psychology) và học thuyết nhân cách nhằm xem xét những khía
cạnh về thể chất, tâm lý học và phân tâm học trong sự khác nhau giữa các cá
nhân, và những khía cạnh trên ảnh hưởng đến công việc ra sao.
Những chủ đề được đề cập đến trong cuốn sách bao gồm vai trò của chỉ số
thông minh – IQ trong công việc, vốn được xem như là “nhà dự báo” chính xác
nhất cho sự thành công, nhưng bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cập đến tầm
quan trọng ngày càng đáng được công nhận, đó là trí thông minh xã hội, đơn
cử là trí thông minh cảm xúc – EQ. Tầm quan trọng của những đặc điểm nhân
cách và sự ảnh hưởng của khí chất lên thành quả công việc, cũng như những
phương pháp được sử dụng để đánh giá thái độ trong công việc và khả năng làm

THƯỜNG SỐNG LÂU HƠN.
Tác giả: Lang, Frieder R.; Weiss, David; Gerstorf, Denis; Wagner, Gert G. Psychology
and Aging, Vol 28(1), tháng 3- 2013, 249-261.
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 20
eo một nghiên cứu đến từ trường
đại học Erlangen, Nuremburg, Đức,
những người có ít kỳ vọng về một
tương lai tốt đẹp sẽ ít gặp bệnh tật và
sống thọ hơn so với những người luôn
đặt kỳ vọng quá cao cho tương lai của
họ.
Các nhà khoa học tiến hành nghiên
cứu cho rằng: việc dự đoán tương
lai của một ai đó là khả năng chỉ có
ở con người, và có đóng góp đáng kể
đối với khả năng thích ứng cũng như
tình trạng sức khỏe của người trưởng
thành và người cao tuổi. Sử dụng các
mẫu nghiên cứu về sự phát triển của
con người theo thời gian từ một thống
kê kinh tế - xã hội cấp quốc gia của
Đức được tiến hành trên hơn 10.000
người trong độ tuổi từ 18 đến 96; họ
đã nghiên cứu tính ổn định, các mối
liên hệ và mức độ chính xác của việc
dự đoán mức độ hài lòng với cuộc
sống trong tương lai của các cá nhân
ở những độ tuổi khác nhau trong vòng
6 khoảng thời gian liên tiếp trong cuộc
đời họ, mỗi khoảng thời gian kéo dài

thậm chí sau khi các yếu tố khác như
tuổi tác, giới tính, học vấn, thu nhập,
tự đánh giá sức khỏe của các cá nhân
đã được tính đến.
Nghiên cứu kết luận: những người
trưởng thành lớn tuổi thường có mức
độ hài lòng thấp về cuộc sống trong
tương lai của họ, và chính điều đó lại
dẫn đến những kết quả tích cực về
tình trạng sức khỏe của họ; bởi vì việc
có cái nhìn bi quan về tương lai có thể
khuyến khích mọi người có nhiều kế
hoạch dự phòng hơn cho sức khỏe và
sự an toàn của họ.
Nguồn:
TỪ MỘT NGHIÊN CỨU ĐƯỢC TIẾN HÀNH TRÊN CHUỘT, CÓ THỂ CHỨNG MINH
ĐƯỢC CÁC BÉ GÁI PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG NGÔN NGỮ SỚM HƠN CÁC BÉ TRAI NHỜ
MỘT LOẠI PROTEIN ĐẶC BIỆT TRÊN NÃO.
Tác giả: J. Michael Bowers, Miguel Perez-Pouchoulen, N. Shalon Edwards, và Margaret M. McCarthy
Nghiên cứu đến từ trường đại học
Maryland. Trong giai đoạn đầu, các
nhà khoa học đã phân tích nước mắt
của những con chuột mới sinh và phát
hiện ra rằng những con chuột phát ra
tiếng kêu thường xuyên – những con
chuột đực – có nhiều protein FOXP2
trong não hơn những con chuột cái.
FOXP2 là loại gen để phát triển lời
nói và ngôn ngữ ở con người, đồng
thời nhờ nó mà các loài chim và động

chuột con đực).
Kết quả nghiên cứu cho thấy protein
FOXP2 là một thành phần sinh học
thần kinh cơ bản có liên quan đến sự
khác nhau về giới tính trong giao tiếp
bằng âm thanh của các động vật có vú.
Các nhà khoa học sau đó tiến hành
đo lượng protein FOXP2 trong các
mô não của 10 bé trai và bé gái 4-5
tuổi đã chết do tai nạn, và phát hiện
ra rằng các bé gái có lượng protein
FOXP2 nhiều hơn các bé trai lên đến
30%. Nghiên cứu này có thể phần nào
giúp giải thích rõ hơn những dữ liệu
nghiên cứu trước đây cho rằng các bé
gái thường có khả năng ngôn ngữ tốt
hơn các bé trai ở cùng độ tuổi.
Nguồn:
Nghiên cứu mới
Bản tin Tâm lý học Đông Tây 21
CÁC BÀ MẸ SAU KHI SINH THƯỜNG CÓ XU HƯỚNG MẮC PHẢI RỐI LOẠN ÁM ẢNH
CƯỠNG CHẾ NHIỀU HƠN 4 LẦN SO VỚI NHỮNG NGƯỜI BÌNH THƯỜNG
Tác giả: Emily S. Miller, M.D., M.P.H., Christine Chu, B.A., Jacqueline Gollan, Ph.D., và Dana R. Gossett, M.D.
Journal of Reproductive Medicine, 20-02- 2013, Vol 70, No. 4
NHỮNG HẬU QUẢ VỀ TÂM THẦN KHI TRƯỞNG THÀNH CỦA VIỆC BỊ CÁC BẠN ĐỒNG
TRANG LỨA BẮT NẠT TẠI TRƯỜNG TRONG GIAI ĐOẠN THANH THIẾU NIÊN
Tác giả: William E. Copeland, PhD; Dieter Wolke, PhD; Adrian Angold, MRCPsych; E. Jane Costello, PhD
JAMA Psychiatry. 2013;70(4):419-426. Đăng tải ngày 20 – 02- 2013
Những đứa trẻ hay bị bắt nạt ở trường
có thể có khả năng mắc phải lo âu,

nạt, hoặc là nạn nhân hoặc là cả hai
hoặc không thuộc hai loại trên.
Các vấn đề về tâm thần bao gồm trầm
cảm, lo âu, rối loạn nhân cách theo xu
hướng chống đối xã hội, rối loạn lạm
dụng chất và có ý định tự tử (bao gồm
cả những suy nghĩ về cái chết, ý tưởng
tự tử hay một lần cố gắng tự tử) của
những người trưởng thành trẻ tuổi
(19, 21 và từ 24 đến 26 tuổi) đã được
đánh giá thông qua các cuộc phỏng
vấn chẩn đoán cấu trúc. Kết quả cho
thấy những người từng là nạn nhân
hoặc vừa là kẻ bắt nạt vừa là nạn nhân
có tỉ lệ mắc phải rối loạn tâm thần cao
khi trưởng thành, nhưng đồng thời
cũng có tỉ lệ mắc phải rối loạn tâm
thần hoặc gặp phải khó khăn trong
gia đình khi còn nhỏ cao. Sau khi xem
xét đến các rối loạn tâm thần và khó
khăn trong gia đình khi còn nhỏ, các
nhà khoa học nhận thấy rằng các nạn
nhân này tiếp tục có tỉ lệ cao trong
việc mắc phải các hội chứng sợ đám
đông, lo âu tổng quát và rối loạn hoảng
sợ; và những người vừa là nạn nhân
vừa là kẻ bắt nạt có nguy cơ gia tăng
mức độ trầm cảm, rối loạn hoảng sợ,
hội chứng sợ đám đông và các ý muốn
tự tử khi trưởng thành. Những người

tin về nhân khẩu, tâm thần và phụ
sản. Bệnh nhân được liên lạc để tham
gia nghiên cứu trong vòng 2 tuần và
6 tháng sau khi sinh; đồng thời hoàn
thành các tests chẩn đoán về lo âu,
trầm cảm và OCD. Kết quả cho thấy:
11% trong số các bà mẹ có kết quả
dương tính với triệu chứng rối loạn
ám ảnh cưỡng chế OCD (chẳng hạn
như lo lắng thái quá về bụi bẩn và vi
trùng) vào khoảng thời gian thuộc
tuần thứ 2 sau khi sinh. Vào tháng thứ
6 sau khi sinh, gần một nửa trong số
họ vẫn tiếp tục tình trạng này, ngoài
ra5,4% còn phát triển các triệu chứng
OCD mới hơn. Các kết quả dương
tính với lo âu và trầm cảm xảy ra đồng
thời chính là những yếu tố giúp ích
cho việc dự đoán sự phát triển của các
triệu chứng OCD.
Kết luận: các nghiên cứu trước đây
dự đoán mức độ phổ biến của OCD
vào khoảng 2-3% trên tổng dân số.
Tuy nhiên, đối với nghiên cứu này,
tỉ lệ mắc phải hội chứng OCD ở phụ
nữ trong thời kỳ hậu sản cao hơn rất
nhiều, đây là giai đoạn có nhiều nguy
cơ để phát triển các triệu chứng OCD.
Các triệu chứng này có khả năng được
kéo dài ít nhất trong vòng 6 tháng.

Nghiên cứu thứ nhất, được tiến hành
trên 357 trẻ, cho thấy những người
thường dành cho những trẻ thiếu tự
tin những lời khen ngợi thiên về phẩm
chất cá nhân nhiều hơn là cách hành
xử của chúng; tuy nhiên điều này có
thể gây phản tác dụng.
Nghiên cứu thứ hai, được tiến hành
trên 313 trẻ em ở độ tuổi từ 8 đến 13;
các em được chia thành 3 nhóm và
được yêu cầu cùng tham gia một trò
chơi trên mạng với các học sinh ở
trường khác. Các nhà nghiên cứu nói
với trẻ rằng sẽ có một người theo dõi
chúng trong suốt quá trình chơi và
ghi nhận lại kết quả, nhưng thực chất
người ta dùng máy vi tính để đánh giá
kết quả trò chơi và quyết định ai sẽ
là người thắng hay thua cuộc. Nhóm
trẻ đầu tiên nhận được lời khen rằng:
“Em giỏi lắm”, nhóm thứ hai được
khen: “Em làm tốt lắm”, và nhóm thứ
ba không nhận được lời khen nào cả.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng
những đứa trẻ thua cuộc trong trò
chơi ở nhóm thứ nhất cảm thấy xấu
hổ hơn khi chúng nhận được lời khen
về phẩm chất cá nhân, thay vì được
khen ngợi về nỗ lực của mình, đặc
biệt là đối với những em thiếu tự tin.

thập được của 260 cựu chiến binh từ
nghiên cứu cấp quốc gia về khả năng
thích nghi của các cựu chiến binh
đã từng tham gia cuộc chiến tranh
tại Việt Nam. Họ phát hiện ra rằng
những cá nhân nhỏ hơn 25 tuổi khi
tham gia cuộc chiến có khả năng mắc
phải PTSD cao hơn những người có
độ tuổi từ 30 đến 40 tới 7 lần.
Các yếu tố: tham gia chiến đấu, tổn
thương tâm lý trước khi tham chiến,
và việc tham gia sát hại thường dân và
tù nhân đều được đưa ra xem xét; và
chỉ có yếu tố tham gia chiến đấu được
chứng minh là cần thiết để gây ra rối
loạn. Mặc dù các yếu tố này đều không
được chứng minh một cách rõ ràng,
nhưng ước tính ban đầu vẫn đạt 97%
độ chính xác đối với các cựu chiến binh
có đủ cả 3 yếu tố ở mức cao, trong đó
việc tham gia sát hại thường dân và tù
binh có ảnh hưởng lớn nhất. (Lúc đầu,
tính chất khốc liệt của việc tham gia
chiến đấu cho thấy mức độ quan trọng
nhiều hơn so với những tổn thương
tâm lý diễn ra trước khi tham chiến;
những tổn thương về tâm lý diễn ra
trước khi tham gia chiến đấu được cho
là yếu tố ít quan trọng nhất trong việc
kiên trì tham gia chiến đấu. )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status