LỜI MỞ ĐẦU
……“Ngày nay,trong đời sống xã hội và giao lưu quốc tế,chất lượng sản
phẩm hàng hóa,dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành
thách thức to lớn đối với tất cả các nước - nhất là các nước đang phát triển
trên con đường hội nhập vào nền kinh tế thị trường quốc tế…”
Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình
( Trong bài phát biểu tại hội nghị chất lượng
toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Nội T8/1995 )
Thế kỉ XXI không chỉ được coi là thế kỉ của điện tử tin học mà còn là
một kỉ nguyên mới về chất lượng.Các phương thức cạnh tranh về số lượng và
giá cả không còn được coi là điều kiện tiên quyết trong việc mua bán hàng
hóa,sản phẩm,dịch vụ.Thay vào đó là “chất lượng”.Chất lượng là chìa khóa
của sự thành công trong kinh doanh trên thương trường.Vì vậy,cần coi chất
lượng là phương thức cạnh tranh mới,tạo cơ hội kinh doanh,giữ vững và
chiếm lĩnh thị trường.
Tuy nhiên,không phải bất cứ một tổ chức,doanh nghiệp nào cũng làm ra
một sản phẩm có chất lượng tuyệt hảo,thỏa mãn mọi yêu cầu của người tiêu
dùng. Để có được một sản phẩm có chất lượng tốt,không chỉ cần sự khéo léo
của người công nhân,sự chính xác của máy móc mà còn cần đến sự quản lý
nhạy bén của bộ máy quản lý doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh rất khốc liệt như hiện nay,ngành
dệt may Việt Nam hiện nay càng phải nỗ lực nhiều hơn nữa để cạnh tranh
được với những sản phẩm nhập khẩu từ thị trường ngoại địa.Thực tế cho thấy
đây là khó khăn không chỉ đối với ngành dệt may nói chung mà là một khó
khăn lớn đối với công ty May 10 nói riêng. Để thích ứng kịp thời với tình
hình này công ty May 10 đã và đang thực hiện chiến lược sản phẩm kinh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
doanh và năng động đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản
phẩm và năng lực sản xuất của mình để dần chiếm lĩnh thị trường,phấn đấu
trở thành một trong những doang nghiệp có doanh thu xuất khẩu lớn nhất toàn
ngành.
tiêu thiết kế hay những quy định riêng cho sản phẩm ấy".
- Khuynh hướng thoả mãn nhu cầu: "Chất lượng của sản phẩm là
năng lực mà sản phẩm ấy thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng".
- Theo TCVN 5814 - 94:" Chất lượng là đặc tính của một thực thể,
đối tượng tạo cho thực thể đối tượng đó có khả năng thoả mãn nhu cầu đã
nêu ra hoặc tiềm ẩn"
Như vây chất lượng của một sản phẩm là trình độ mà sản phẩm ấy thể
hiện được những yêu cầu (tiêu chuẩn- kinh tế - kỹ thuật) về chế tạo quy định
cho nó, đó là chất lượng trong phạm vi sản xuất, chế tạo ra sản phẩm, mức độ
thoả mãn tiêu dùng.
" Chất lượng của sản phẩm là tổng hợp những tính chất, đặc trưng
của sản phẩm tạo nên giá trị sử dụng, thể hiện khả năng, mức độ thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng với hiệu quả cao trong điều kiện sản xuất- kỹ thuật- kinh
tế - xã hội nhất định".
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Những tính chất đặc trưng đó thường được xác định bằng những chỉ
tiêu, những thông số về kinh tế- kỹ thuật- thẩm mỹ...có thể cân, đo, tính toán
được, đánh giá được. Như vậy chất lượng của sản phẩm là thước đo của giá
trị sử dụng. Cùng một giá trị sử dụng, sản phẩm có thể có mức độ hữu ích
khác nhau, mức chất lượng khác nhau.
Một sản phẩm có chất lượng cao là một sản phẩm có độ bền chắc, độ
tin cậy cao, dễ gia công, tiện sử dụng, đẹp, có chi phí sản xuất, chi phí sử
dụng và chi phí bảo dưỡng hợp lí, tiêu thụ nhanh trên thị trường, đạt hiệu quả
cao.
Như vậy, chất lượng sản phẩm không những chỉ là tập hợp các thuộc
tính mà còn là mức độ các thuộc tính ấy thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong
những điều kiện cụ thể.
Quan niệm chất lượng sản phẩm hàng hoá nêu trên thể hiện một lập
luận khoa học toàn diện về vấn đề khảo sát chất lượng, thể hiện chức năng
của sản phẩm trong mối quan hệ: " sản phẩm - xã hội - con người"
đòi hỏi của khách hàng đến mức độ nào?
-Hai là: Doanh nghiệp thực hiện việc cung cấp hàng hóa dịch vụ có hiệu
quả đến đâu?
Quản lý chất lượng được triển khai thực hiện thông qua một hệ
thống các biện pháp kinh tế,công nghệ,tổ chức,quản trị hành chính và xã
hội.Chỉ khi nào toàn bộ các biện pháp trên được xem xét đầy đủ trong mối
quan hệ thống nhất,ràng buộc với nhau trong quản lý chất lượng mới có cơ sở
để nói rằng chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo.
Quản lý chất lượng phải được thực hiện thông qua một cơ chế nhất
định bao gồm hệ thống các chỉ tiêu,tiêu chuẩn đặc trưng về kinh tế-kỹ thuật
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
biểu thị mức độ thỏa mãn nhu cầu thị trường,một hệ thống tổ chức điều
khiển,một hệ thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng và quy
trình,trách nhiệm.
Quản lý chất lượng thực hiện trong suốt chu kì sống của sản phẩm
từ thiết kế,chế tạo đến sử dụng. Trách nhiệm của nhà sản xuất không chỉ dừng
lại ở khâu bán sản phẩm mà họ còn có trách nhiệm cũng không kém phần
quan trọng với khâu sau bán hàng- khi mà người tiêu dùng cuối cùng đang sử
dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
Quản lý chất lượng là một quá trình liên tục mang tính hệ thống thể
hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa bên trong với bên ngoài. Quản lý chất lượng chịu
tác động tổng hợp của sự thay đổi nhu cầu ,hành vi của khách hàng, tình hình
cạnh tranh và chiến lược cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường,
của hệ thống luật pháp, chế độ chính sách của Nhà nước về quản lý kinh tế và
quản lý chất lượng, trình độ dân trí, mức sống, điều kiện lịch sử văn hóa của
mỗi nước.
Quản lý chất lượng là trách nhiệm của mỗi thành viên trong doanh
nghiệp. Quản lý chất lượng phải được thực hiện ở mọi cấp, mọi khâu, mọi quá
trình. Nó vừa có ý nghĩa chiến lược vừa mang tính tác nghiệp. Ở cấp cao nhất
của doanh nghiệp thực hiện quản lý chiến lược chất lượng. Cấp phân xưởng
Hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới là chấp nhận sự cạnh tranh,
chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh.Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy
để các doanh nghiệp tiến lên đà phát triển, hoà nhập với thị trường khu vực và
trên thế giới, nhưng đồng thời cũng là sức ép lớn đối với mỗi doanh nghiệp.
Trong quản trị kinh doanh, nếu không lấy chất lượng làm mục tiêu phấn đấu
trước tiên, nếu chạy theo lợi nhuận trước mắt , rõ ràng doanh nghiệp sẽ bị đẩy
ra ngoài vòng quay của thị trường và dẫn đến thua lỗ , phá sản.Chính vì vậy,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mà cạnh tranh không phải là thực tế đơn giản, nó là kết quả tổng hợp của toàn
bộ các nỗ lực trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Chất lượng sản phẩm chính là một trong những phương thức doanh
nghiệp tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lợi trong sự cạnh tranh gay
gắt ấy trên thương trường, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp .Nâng cao chất lượng sản phẩm,doanh nghiệp ngày càng củng cố về
mở rộng vị thế của mình.Uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp sẽ thu hút được
khách hàng, tăng doanh thu, phát triển sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho
cải tiến, đổi mới sản phẩm và cơ cấu sản phẩm, làm cho sản phẩm thỏa mãn
được nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu nhất. Đó là cơ sở của sự phát
triển lâu dài.
Nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp hữu hiệu nhất kết hợp
thống nhất các loại lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng, xã hội và người
lao động. Từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ cho phát triển của doanh nghiệp
trong tương lai.
Tăng chất lượng sản phẩm tương đương với tăng năng suất lao động xã
hội.Do đó tăng giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế- xã hội trên một đơn vị chi
phí đầu vào, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng, tiết kiệm tài nguyên, giảm
những vấn đề ô nhiễm môi trường.
Nâng cao chất lượng sẽ giảm chi phí do giảm phế phẩm, sử dụng
nguyên vật liệu tốt hơn,tránh sai hỏng dẫn đến lãng phí thời gian sửa. Sử dụng
máy móc tốt hơn,nâng cao năng suất, mở rộng thị trường nhờ chất lượng cao
lượng của sản phẩm thì yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị lại có tầm quan
trọng đặc biệt, có tác dụng quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong quá trình sản xuất hàng hoá, người ta sử dụng và phối trộn nhiều
nguyên vật liệu khác nhau về thành phần, về tính chất, công dụng. Nắm vững
được đặc tính của của nguyên vật liệu để thiết kế sản phẩm là điều cần thiết,
song trong quá trình chế tạo, việc theo dõi khảo sát chất lượng sản phẩm theo
tỷ lệ phối trộn là điều quan trọng để mở rộng mặt hàng, thay thế nguyên vật
liệu, xác định đúng đắn các chế độ gia công để không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm.
Nhìn chung các sản phẩm hiện đại phải có kết cấu gọn nhẹ, thanh nhã,
đơn giản, đảm bảo thoả mãn toàn diện các yêu cầu sử dụng.
Công nghệ: quá trình công nghệ có ảnh hưởng lớn quyết định chất
lượng sản phẩm. Đây là quá trình phức tạp, vừa làm thay đổi ít nhiều, hoặc bổ
sung, cải thiện nhiều tính chất ban đầu của nguyên vật liệu theo hướng sao
cho phù hợp với công dụng của sản phẩm.
Bằng nhiều dạng gia công khác nhau: gia công cơ, nhiệt, lý, hoá ..vừa
tạo hình dáng kích thước, khối lượng, hoặc có thể cải thiện tính chất của
nguyên vật liệu để đảm bảo chất lượng sản phẩm theo mẫu thiết kế.
Ngoài yếu tố kỹ thuật- công nghệ cần chú ý đến việc lựa chọn thiết bị.
Kinh nghiệm cho thấy kỹ thuật và công nghệ hiện đại và được đổi mới, nhưng
thiết bị cũ kỹ thì không thể nào nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nhóm yếu tố kỹ thuật - công nghệ - thiết bị có mối quan hệ tương hỗ
khá chặt chẽ không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà
còn tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hoá chủng
loại, nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng
cao, giá thành hạ.
Nhóm yếu tố phương pháp quản lý
Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật - công nghệ - thiết bị hiện đại,
nhưng không biết tổ chức quản lý lao động, tổ chức sản xuất, tổ chức thực
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
viên... Như vậy, chất lượng của sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng hiện
thực của toàn bộ nền kinh tế.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão trên toàn thế
giới. Cuộc cách mạng này đang thâm nhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực
hoạt động của xã hội loài người. Chất lượng của bất kỳ một sản phẩm nào
cũng gắn liền với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật hiện đại, chu kỳ công
nghệ của sản phẩm được rút ngắn, công dụng của sản phẩm ngày càng phong
phú, đa dạng nhưng cũng chính vì vậy mà không bao giờ thoả mãn với mức
chất lượng hiện tại, mà phải thường xuyên theo dõi những biến động của thị
trường về sự đổi mới của khoa học kỹ thuật liên quan đến nguyên vật liệu kỹ
thuật, công nghệ, thiết bị... để điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm, phát triển doanh nghiệp.
Hiệu lực của cơ chế quản lý
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, sự quản lý
ấy thể hiện bằng nhiều biện pháp: kinh tế - kỹ thuật- hành chính xã hội ...cụ
thể hoá bằng nhiều chính sách nhằm ổn định sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm, hướng dẫn tiêu dùng, tiết kiệm ngoại tệ, đầu tư vốn, chính sách giá,
chính sách thuế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích của Nhà nước đối với các
doanh nghiệp .
Hiệu lực của cơ chế quản lý là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý
chất lượng sản phẩm, đảm bảo sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy
tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Mặt khác, hiệu lực cơ
chế quản lý còn đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh đối với các
doanh nghiệp trong nước, giữa khu vực quốc doanh, khu vực tập thể, khu vực
tư nhân, giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.
Các yếu tố về phong tục, tập quán, thói quen tiêu dùng
Ngoài các yếu tố mang tính khách quan vừa nêu trên, nhu cầu của nền
• Giá trị cao nhất có thể được chấp nhận đối với biến số đó (giới hạn
trên)?
• Giá trị thấp nhất có thể được chấp nhận đối với biến số đó (giới hạn
dưới)?
1.2.1.1 Tại sao Biểu đồ kiểm soát có ý nghĩa?
Biểu đồ kiểm soát cho phép kiểm soát các vấn đề và xác minh lại những
hành động khắc phục có mang lại kết quả mong đợi hay không. Bản thân Biểu
đồ kiểm soát không phải là giải pháp, ta vẫn cần nó để thực hiện những cái ta
học hỏi được.
Nó cũng là một công cụ phòng ngừa hữu ích khi sử dụng đối với các tham số
có tính quyết định trong hoạt động sản xuất mà có thể gây ra những vấn đề
lớn nếu vượt ra ngoài các yêu cầu kỹ thuật (giới hạn). Vì thế, việc theo dõi
chúng sẽ cho thấy xu hướng và các hành động phòng ngừa có thể thực hiện
nhằm ngăn chặn những tham số này vượt ra ngoài giá trị giới hạn kiểm soát
của chúng.
1.2.1.2 Biểu đồ kiểm soát hỗ trợ gì?
Biểu đồ kiểm soát cung cấp thông tin theo thời gian về các tham số có
tính quyết định đối với hoạt động của tổ chức . Vì thế, Biểu đồ kiểm soát như
là phương tiện giám sát những biến động của quá trình sản xuất - nó cho biết
các quá trình có đang hoạt động tốt không hay có cần chú ý không.
1.2.1.3 Biểu đồ kiểm soát được áp dụng tại đâu?
Biểu đồ kiểm soát được áp dụng cho mọi tham số để nâng cao hiệu quả
(ví dụ: sản phẩm/giờ), hoặc phòng ngừa các vấn đề xảy ra (như: hầu hết vòng
bi bị vỡ phát hiện được trong quá trình bảo dưỡng phòng ngừa).
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.1.4 Khi nào Biểu đồ kiểm soát có ý nghĩa ?
Biểu đồ kiểm soát có ý nghĩa khi cần kiểm soát sát sao các tham số (biến
số) của quá trình để ngăn ngừa việc gây ra tác động không mong muốn
1.2.1.5 Biểu đồ kiểm soát đem lại lợi ích cho ai?
Bộ phận quản lý chất lượng sẽ được lợi khi sử dụng Biểu đồ kiểm soát vì
quyết định về quá trình.Tác dụng chủ yếu của biểu đồ kiểm tra này là báo
động để đề ra biện pháp xử lý nhằm khôi phục quá trình về trạng thái chấp
nhận được hay giữ quá trình ở trạng thái mới có lợi hơn.
Tuy nhiên trong mọi trường hợp,cần thấy rằng hiệu quả của biểu đồ
kiểm tra không chỉ phụ thuộc vào cách vận dụng các phương pháp thống kê
mà chủ yếu là do người theo dõi có quan tâm đến sản phẩm hay quá trình sản
phẩm sản xuất hay không và có tận dụng được thông tin ghi được để sử dụng
hay không.
Biểu đồ kiểm tra cần gắn với máy móc,người thao tác,ca kíp hay các đơn
vị sản xuất cụ thể và cần đánh dấu theo cách nào đó để có thể nhận ra các yếu
tố đã gây nên biến động.
1.2.5 Cơ sở lập biểu đồ kiểm soát
Nói chung khi lập biểu đồ kiểm soát cần xác định rõ:
-Chỉ tiêu kiểm tra
-Loại biểu đồ kiểm soát
-Giá trị trung bình của đặc trưng cần kiểm tra
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
-Độ dài trung bình loại mẫu kiểm tra cho tới khi phải điều chỉnh quá
trình(sau gọi tắt là loại kiểm tra trung bình)
-Cỡ mẫu
-Giới hạn
PHẦN II:
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BIỂU ĐỒ KIỂM SOÁT np TẠI
CÔNG TY MAY 10
2.1 Khái quát về công ty cổ phần May 10
2.1.1 Giới thiệu về công ty
Tên giao dịch quốc tế là: Garment 10 Joint Stock Company
Tên viết tắt là: Garco 10 JSC
Trụ sở chính: Sài Đồng – Long Biên – Hà Nội
Điện thoại: 84.43827.6923
Hà Nội, sát nhập với xưởng may X40 lấy tên chung là xưởng may X10. Công
xưởng sản xuất chính được xây dựng ở Gia Lâm, Hà Nội. Đây cũng là nơi
tiến hành sản xuất của công ty May 10 bây giờ.
Tháng 12/1961, miền Bắc tiến hành xây dựng xã hội theo con đường xã
hội chủ nghĩa và là hậu phương vững chắc của miền Nam. Trước tình hình đó,
xưởng may X10 nhanh chóng được chuyển sang Bộ công nghiệp nhẹ tiếp
quản và đổi tên là Xí nghiệp may 10. Tuy đổi tên nhưng xí nghiệp May 10
vẫn làm nhiệm vụ chính là may quân trang, quân phục cho bộ đội và sản xuất
thêm một số mặt hàng phục vụ xuất khẩu và dân dụng.
Thời kì kháng chiến chống Pháp kết thúc, giải phóng miền Bắc còn nhân
dân miền Nam lại bắt đầu một cuộc kháng chiến mới là chống đế quốc Mỹ.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Đất nước ta vẫn bị chia cắt làm hai miền, nhân dân miền Bắc tiến lên con
đường xã hội chủ nghĩa, chung sức với đồng bào miền Nam, đánh đuổi đế
quốc Mỹ, giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Mùa xuân năm 1975 là
một mốc son chói lọi trong lịch sử của dân tộc ta, miền Nam hoàn toàn giải
phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất. Cả nước cùng chung tay xây dựng xã
hội xã hội chủ nghĩa. Xí nghiệp may 10 cũng chuyển sang một bước ngoặt
mới, làm nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, chuyên sản xuất, gia công hàng xuất
khẩu. Thị trường chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô và Đông
Âu. Như vậy May 10 đã có sự phát triển vượt bậc về thị trường hàng hoá,
không chỉ giới hạn trong nước mà đã mở rộng ra thị trường nước ngoài. Có
thể nói may 10 là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu sớm nhất ở nước
ta. Qua đó chúng ta có thể thấy May 10 là một doanh nghiệp rất dày dạn kinh
nghiệm trên thị trường quốc tế.
Năm 1990, hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, xí
nghiệp may 10 đứng trước nguy cơ bị tan rã do mất thị trường. Đây là một
thách thức lớn đối với doanh nghiệp. Nếu không tìm ra lối thoát thì sự phá sản
của doanh nghiệp chỉ là sớm hay muộn, đời sống công nhân sẽ gặp nhiều khó
khăn, thiệt hại đối với doanh nghiệp cũng không phải nhỏ. Nhưng chính lúc
phân phối lao động, thực hiện chủ trương “ làm theo lao động, hưởng theo
năng lực”, “ làm nhiều hưởng nhiều làm ít hưởng ít, không làm không
hưởng”. Nhờ đó công ty đã khuyến khích động viên tinh thần làm việc tích
cực của anh chị em trong công ty, làm tăng lợi nhuận cho công ty cũng đồng
thời là làm lợi cho bản thân họ.
Có thể nói rằng, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, công ty May
10 vẫn luôn vững vàng trên thị trường, chiếm trọn niềm tin của người tiêu
dùng không chỉ trong nước mà còn chiếm lĩnh một số thị trường nước ngoài
như Mỹ, EU, Nhật,.... Những vinh dự mà công ty đã nhận được như huân huy
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
chương, cờ thi đua, bằng khen, danh hiệu các loại là phần thưởng xứng đáng
cho những nỗ lực phấn đấu hết mình của công ty, đánh dấu sự trưởng thành
về mọi mặt, xứng đáng là một doanh nghiệp may mặc hàng đầu của Việt
Nam.
2.1.3 Ban lãnh đạo cấp cao của công ty và bộ máy quản lý công ty
Chủ tịch hội đồng quản trị : Ông Vũ Đức Giang
Tổng giám đốc kiêm bí thư Đảng ủy : Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Viện ĐH Mở Hà Nội Khoa Kinh Tế & QTKD
TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần May 10
Sinh viên:Lưu Thị Lan Phương Lớp K15QT1
23
BAN KIỂM SOÁT
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC
(Đại diện lãnh đạo về HTQL)
GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
quản lý và sử dụng theo nhiệm vụ được giao.
- Phó tổng giám đốc: là người giúp đỡ điều hành công việc ở các xí
nghiệp thành các phòng kinh doanh, phòng quản lý chất lượng và thay quyền
giám đốc điều hành công ty khi giám đốc vắng mặt ở công ty. Phó tổng giám
đốc cũng được Tổng giám đốc uỷ quyền đàm phán và ký kết một số hợp đồng
với khách hàng trong nước và khách hàng nước ngoài.
Ngoài ra, công ty còn có giám đốc điều hành hỗ trợ cho tổng giám đốc
các công việc ở các xí nghiệp địa phương hay xí nghiệp liên doanh.
- Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ tham mưu cho ban giám đốc và điều
hành việc tổ chức kinh doanh tại công ty.
- Phòng kĩ thuật: quản lý công tác kỹ thuật công nghệ và cơ điện nghiên
cứu ứng dụng phục vụ cho sản xuất các thiết bị hiện đại tiên tiến nhằm đáp
ứng sự phát triển sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phòng tài chính kế toán: có chức năng điều hành tổ chức toàn bộ hoạt
động tài chính kế toán của công ty, nhằm sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm, đạt
được mục tiêu về lơị ích kinh tế cũng như lợi ích về xã hội của công ty.
- Phòng chất lượng (QA): có nhiệm vụ kiểm tra toàn bộ việc thực hiện
quy trình công nghệ, ký công nhận sản phẩm đạt chất lượng trước khi đưa ra
thị trường.
Sinh viên:Lưu Thị Lan Phương Lớp K15QT1
24
Viện ĐH Mở Hà Nội Khoa Kinh Tế & QTKD
- Phòng kế hoạch: quản lý công tác kế hoạch sản xuất, kí kết các hợp
đồng kinh doanh.
-Ban cơ điện:Quản lý,bảo dưỡng,sửa chữa thiết bị,chế tạo công cụ,trang
thiết bị phụ trợ,cung cấp năng lượng,lắp đặt các hệ thống điện,nước,hơi,khí
nén.
-Phòng tổ chức hành chính:nghiên cứu,quản lý công tác lao động,tiền
lương,văn thư lưu trữ,pháp chế,quản trị đời sống,công nghệ thông tin,an toàn
lao động,quản lý các hoạt động hành chính khác.