công tác xã hội với trẻ em và gia đình - Pdf 13


1
ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG TP. HCM
Khoa Xã hội học
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM
VÀ GIA ĐÌNH
ThS Nguyễn Ngọc Lâm biên tập Năm 2005 2
MỤC LỤC

Dẫn nhập – Mục tiêu môn học
Phần 1 : Khái niệm và sự hình thành công tác xã hội với trẻ em
và gia đình
1. Khái niệm Công tác xã hội với trẻ em và gia đình


MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC

Công tác xã hội với trẻ em và gia đình là một bộ phận trong ngành công tác
xã hội chuyên nghiệp. Nó được hình thành trong bối cảnh mạng lưới phát triển của
hệ thống an sinh xã hội nói chung và an sinh nhi đồng và gia đình nói riêng.

Môn học này sẽ cung ứng một số hướng dẫn về lý thuyết và thực hành để
nhân viên xã hội có được ý nghĩa rõ ràng về :

• Nhân viên xã hội cần biết gì trước khi làm việc v
ới trẻ em.
• Nhân viên xã hội cần biết gì trước khi làm việc với đứa trẻ đặc biệt trong những
hoàn cảnh đặc biệt này.
• Nhân viên xã hội và trẻ có thể cùng làm gì với nhau.
• Làm thế nào để trở thành người làm việc tốt hơn với trẻ.
• Quan điểm lịch sử về mối quan hệ giữa trẻ em, gia đình và quốc gia. Sự phân
tích về bản chấ
t của dịch vụ an sinh của đứa trẻ mô tả phong trào từ sự cứu vớt
đứa trẻ cho đến quyền trẻ em và những bình luận về lịch sử thực hành công tác
xã hội chăm sóc trẻ em trong công tác với trẻ em.
• Những nguyên tắc, kỹ năng cơ bản và kỹ thuật làm việc với trẻ em có thể ứng
dụng rộng rãi trong nhiều tình huống công tác xã hội.
• Vai trò của công tác xã h
ội với trẻ em có nhu cầu và trẻ em cần được bảo vệ.
Công tác với trẻ em là một phần của mạng lưới phức tạp về hoạt động công tác
xã hội liên quan tới mạng lưới của nhân viên chuyên nghiệp và các gia đình có
con.
• Đối với những trẻ em không còn sống với gia đình và được chính quyền địa
phương chăm sóc tại trung tâm nuôi dưỡng hay nhà nuôi hộ, nhu cầu đối với
5
PHẦN MỘT


Khái niệm và sự hình thành
Công tác xã hội với trẻ em và gia đình 1. Khái niệm “Công tác xã hội với trẻ em và gia đình”

Công tác xã hội với trẻ em và gia đình là một phần trong các lãnh vực chuyên
biệt của ngành công tác xã hội với mục tiêu đem lại sự hỗ trợ cho trẻ em trong hoàn
cảnh khó khăn, giúp bảo vệ trẻ em và gia đình và góp phần vào nền an sinh cho trẻ
em và gia đình.

Công việc của Công tác xã hội là huy động các nguồn lực giúp đỡ gia đình
thực hiện vai trò trong khả nă
ng giới hạn của họ. Theo Beatrice Pompy, nhân viên xã
hội có trách nhiệm xác định những rối loạn của trẻ, của cha mẹ, đánh giá cho được
khả năng và hạn chế của họ và qua đó, nhân viên xã hội phải làm việc bằng các giác
quan, trực giác, bằng quan sát cá nhân, với sự hiểu biết và kinh nghiệm trong quá
trình nghề nghiệp, về nhận thức vấn đề. Nhân viên xã hội khi can thiệp giúp đỡ trẻ
em và gia đình trẻ có vấn đề thường mang theo những quá khứ thời thơ ấu xa xưa
của mình , tình cảm, cảm xúc riêng tư của mình bên cạnh những kỹ năng chuyên
nghiệp. Vì thế mà công tác xã hội với nói chung và công tác xã hội với trẻ em và gia
đình nói riêng là một công tác vô cùng khó khăn, một công tác đòi hỏi phải luôn
được đào tạo mỗi khi tiếp xúc với đối tượng.


thưởng xứng đáng nhất của vai trò nhân viên xã hội trong lĩnh vực an sinh nhi đồng.
Làm việc với trẻ em bao g
ồm mối quan hệ trực diện khi nhân viên xã hội ở bên cạnh
trẻ, lắng nghe trẻ bày tỏ ý kiến và cảm xúc, tìm cách trao đổi phù hợp và tôn trọng
trẻ, và lôi kéo trẻ tham gia đầy đủ vào những quyết định cần thiết có ảnh hưởng đến
trẻ. Làm việc với trẻ em cần đến khả năng lắng nghe mà không bị tràn ngập bởi cảm
xúc và tạo mối quan hệ với trẻ em dễ bị
tổn thương lẫn thù hằn hoặc là đa nghi. Nó
có thể liên quan tới việc quan sát một trẻ bé có những quan tâm về ai, dùng những
vật liệu vui chơi với một trẻ khuyết tật ở tuổi tiền học đường, làm tác phẩm truyện kể
về cuộc đời cùng với trẻ được chăm sóc ở gia đình nuôi tạm hay tham vấn cho một
trẻ gái trẻ có thai. Những công việc như thế ch
ắc chắn rất là đòi hỏi tài nguyên
chuyên nghiệp lẫn cá nhân của người nhân viên xã hội. Nó cũng đòi hỏi kiến thức,

7
kỹ năng, và một bối cảnh cơ quan ủng hộ nó. Mặc dầu có nhiều cách mà trong đó
nhân viên xã hội làm việc vì trẻ em hay nhân danh trẻ em một cách phù hợp nhưng
những cách này sẽ không là trọng tâm chính của quyển sách này. Thay vào đó nhân
viên xã hội cần tập trung vào tiềm năng rộng lớn hơn để làm việc với trẻ. Điểm khởi
đầu phải là cái nguyên tắc như nữ thẩm phán Elizabeth Butler-Sloss đã nói là trẻ em
phải được đối xử như là “con người” chứ không phải như là “đối tượng của sự quan
tâm”. (HMSO, 1988)
1Sự cam kết chuyên nghiệp đối với công tác trực tiếp với trẻ em được củng cố
bằng cả Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em và Đạo luật về Trẻ em năm 1989. Trẻ
em không những có quyền được bảo vệ về an sinh mà còn có quyền có ý kiến và kể
cả có ước mơ và cảm xúc. Quyền an sinh và quyền có tiếng nói cũng không thể đạt

khởi điểm cho bất kỳ sự đánh giá hay can thiệp nào trong đời sống của một đứa
trẻ.


Trẻ em đã trải qua sự chia lìa và mất mát, ngược đãi hay thiếu chăm sóc, hay
không được lớn lên trong gia đình riêng của mình có thể cần sự giúp đỡ thêm của
nhân viên xã hội để hiểu được cái gì đã xảy ra với chúng. Hầu hết trẻ em này
cũng sẽ cần được hỗ trợ tình cảm để quen với những kinh nghiệm như thế.

• Trẻ em có khó khăn trầm trọng trong cuộc số
ng, thí dụ như dính líu tới phạm
pháp hay dùng thuốc sai lầm cần biết rằng có người sẵn sàng để gặp trẻ trò
chuyện và lắng nghe.

• Trẻ em cần phát triển lòng tự trọng và sự hiểu biết về phẩm chất. Trẻ em cần phải
biết rằng quan điểm của chúng phải được biết đến khi lấy quyết định.

• Trong một thế giớ
i phức tạp, một số trẻ em cần đến những người lớn nhiệt tình và
có kỹ năng để biện hộ cho các trẻ.

Không phải tất cả công việc này có thể hoặc phải được nhân viên xã hội thực
hiện trong mọi trường hợp. Một số trẻ sẽ đến với nhân viên chăm sóc nuôi hộ; số
khác có thể cần đến sự giúp đỡ chuyên môn của những nhân viên chuyên nghiệp
khác như nhà trị liệu tâm lý hay nhà tâm lý học. Tuy nhiên, tất cả trẻ em đều sẽ cần
tới nhân viên xã hội, người có thể trao đổi một cách có hiệu quả với các trẻ và xây
dựng được mối quan hệ tốt với các trẻ. Không có kỹ năng cơ bản này, nhân viên
công tác xã hội sẽ không thể đáp ứng được trách nhiệm của mình đối với trẻ.
của đứa trẻ. Nó cần người nhân viên xã hội có sự hiểu biết đúng đắn về trẻ em phát
triển ra sao và trẻ em nhìn thế giới như thế nào, những gì mà trẻ em cần từ môi
trường của chúng và cách thức chúng phản ứng nế
u những nhu cầu đó không được
đáp ứng. 10
Những gì nhân viên xã hội biết được từ hai thế giới khác nhau này, thế giới bên
trong và bên ngoài, giúp nhân viên xã hội nối kết lại và tạo điều kiện cho họ làm việc
với đứa trẻ để làm rõ những trải nghiệm của trẻ và bắt đầu trả lời một số những câu
hỏi phức tạp nhất. Đứa trẻ nhận ra điều gì đảo lộn nhất về s
ự ly dị của cha / mẹ. Cái
gì có thể là lý do đối với việc hành vi ăn cắp của đứa trẻ hay cha mẹ từ bỏ đứa trẻ.
Một khi đã làm được sự nối kết này thì lúc đó nhân viên xã hội và đứa trẻ có thể
hướng đến việc làm rõ điều gì là có ích nhất trong cả hai thế giới. Những gì đứa trẻ
cần làm về mặt tình cảm để quen dần với sự
ly hôn và nỗi buồn vì mất mát, sự chuẩn
bị thực tế gì để tiếp xúc tạo thuận lợi cho tiến trình này.

Phần lớn, công tác xã hội với trẻ em diễn ra trong bối cảnh toàn bộ môi trường
đứa trẻ - gia đình, nhóm bạn chơi, trường học, góc phố. Nó cũng diễn ra trong giới
hạn thủ tục của cơ quan công tác xã hội và ranh giới chuyên môn của vai trò công tác
xã hội.

Từ quan điể
m của trẻ em, sự kiện mà nhân viên xã hội biết và hiểu về thế giới
của chúng và làm việc trong thế giới đó. Nhân viên xã hội không những có thể giúp
trẻ nối kết quá khứ và hiện tại và hiểu được nguyên do mà chính mình là sự nối kết
giữa các thế giới khác nhau.

Mục đích của chương này là đặt thực hành công tác xã hội hiện tại trong bối
cảnh luật pháp và lịch sử. Chương này có 2 phần:

1. Tìm hiểu sự phát triển của chính sách đối với trẻ em và quyền trẻ em trên
2 thế kỷ qua, xem xét công tác xã hội với trẻ em trong bối cảnh của
khuynh hướng chính sách rộng lớn hơn.
2. Những hiểu biết đương đại về quyền trẻ em làm nền tảng cho công tác xã
hội với trẻ em.

1.1. Trẻ em và quyền trẻ em : ♣
D ựa theo”Social Work with children” c ủa Marian Brandon, Gillian Schofield v à Liz Trinder, Mac. Press
LTD, 1998 12
Trẻ em có nghĩa là gì, tuổi thơ là gì, đều được hình thành do xã hội, và mỗi xã
hội hình thành những ý nghĩa này một cách khác nhau. Mặc dù các sự kiện sinh học
cơ bản của đời người có thay đổi chút ít theo thời gian nhưng không có gì cố định
trong cách mà xã hội ứng phó với những khác biệt về sinh học này. Theo James và
Prout (1990) :

Sự non nớt của trẻ em là một sự kiện sinh học của đời người nhưng những
cách hiể
u biết sự non nớt này và làm cho nó quan trọng lại là một sự kiện văn
hóa.

Sự giải thích của Disneyland Western của người da trắng về tuổi thơ an toàn


1.2. Quan đ
iểm ban đầu: Trẻ lao động tự do và cứu trợ trẻ em

Ở thế kỷ 19, một khái niệm phổ biến và giống nhau hơn về tuổi thơ đã hình
thành. Lúc đó, số trẻ em đã đóng góp vào lợi tức gia đình thông qua việc trả lương và
không trả lương. Trái lại, tuổi thơ “lý tưởng” đã hình thành từ từ trên nền tảng trên
“lý tưởng trong khuôn khổ” của gia đình trung lư
u đầu thế kỷ thứ 19 (Hendrick
1990). Lý tưởng này là thời tuổi thơ mà trẻ em được xem như khác với người lớn về
tính chất và bản chất vì nếu không trẻ em có thể dễ dàng trở nên hung bạo, và nguy
hiểm nếu như chúng được phép trở thành như người lớn và bước vào thế giới của
người lớn. Khi thế kỷ thứ 19 đã phát triển, một loạt các biện pháp bảo vệ tr
ẻ em
được đưa ra để trả lại cho trẻ em sự phụ thuộc và đưa chúng ra khỏi thế giới công
việc của người lớn sang thế giới trường học và gia đình của đứa trẻ.

Luật pháp kiểm soát lao động trẻ em và việc giới thiệu giáo dục phổ cập ở thế
kỷ thứ 19 đã nhận ra nhu cầu cần được bảo vệ của trẻ và hi
ểu rằng trẻ em có quyền
đó. Học tập làm cho mối liên kết giữa tuổi thơ và lao động yếu đi. Vì trường học dần
dần chiếm chỗ của lao động và học tập chính quy trở thành bắt buộc (khoảng 1900
khắp Châu Âu), thái độ về vị trí và vai trò của trẻ em cũng thay đổi. Tuổi thơ có thể
kéo dài lâu hơn và trẻ em có thể trở nên phụ thuộc hơn. Lần đầ
u tiên đối với các bậc
cha mẹ là có thể không xem trẻ là người đóng góp cho gia đình và tài sản kinh tế.
Lúc bấy giờ hàng hóa được mong đợi là sẽ từ cha mẹ đến con cái thay vì từ con cái
đến cha mẹ.
đứa trẻ lên hàng đầu, trước sự thực hiện và mong ước của cha mẹ (Hoggest 1993).

Cho đến cuối thế kỷ 19, đời sống đối với đa số trẻ em rất khác với trẻ em
trước đó. Sự phát triển chính trị và khoa học, y khoa đã đảm bảo cuộc sống đối với
phần lớn trẻ em chứ không chỉ đấu tranh cho sự sống còn. Năm 1901 số trẻ em chết

15
là 161 trên 1000 đứa trẻ sinh ra và giữa 1928 và 1931 thì hạ xuống còn 66 trên 1000
trẻ sinh ra (Hardymart 1983).

2. CHẾ ĐỘ GIA TRƯỞNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CỦA
PHƯƠNG TÂY

Khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở phương Tây đã có một thay đổi lớn,
dù không hoàn toàn, từ các cách tiếp cận tự do đến an sinh nhi đồng với một khái
niệm mới về tuổi thơ kèm theo. Về chính sách chăm sóc trẻ, Fox Harding (1991) gọi
là “chế độ gia trưởng của quốc gia và bảo vệ trẻ em” đã đặt cơ sở trên sự can thiệp
rộng lớn của nhà nước vào gia đình nhằm bảo vệ trẻ em khỏi sự thiếu chăm sóc của
cha mẹ (như các nhà chuyên nghiệp đã giải thích). Xây dựng trên sự phát triển của
thế kỷ 19, tuổi thơ được xem như một giai đoạn riêng biệt và dễ bị
tổn thương trong
đời sống, cần đến sự bảo vệ và quyết định của người lớn. Một quan điểm chung về
trẻ em là trẻ có khả năng hạn chế về tự quyết và lấy quyết định. Sự khác biệt chủ yếu
trong thế kỷ 20 là sự tham gia của các nhân viên xã hội và những nhà chuyên môn
khác, ngày càng ở bên cạnh các bậc cha mẹ như những người quyết đị
nh và bảo vệ
của trẻ em, vì nhà nước và các chuyên gia chăm sóc trẻ em ngày càng đòi quyền
chỉnh đốn gia đình. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học xã hội và y khoa đã
cung ứng kiến thức an sinh nhi đồng để làm nền tảng cho công tác này. Các nhà xã
hội học, nhất là những người từ ngành tâm lý trẻ em đang nổi lên, càng ngày càng tỏ

thiết lập sau thế chiế
n thứ 2 đã bị đẩy lùi bởi đợt thủy triều của chủ nghĩa tự do và cá
nhân mới tràn tới. Càng ngày sự can thiệp giúp đỡ càng quan liêu và áp đặt. Quyền
được tranh luận ngày càng nhiều để ủng hộ cho tự do cá nhân và gia đình.

Công tác xã hội với trẻ em trên 20 năm qua được nổi bật nhờ tăng cường tập
trung vào chi tiết thủ tục chặt chẽ, tìm hiểu chấn thương hay ngược đãi là ch
ủ đề
chính. Từ những cái chết của trẻ do bạo hành trong gia đình đã đưa đến những cuộc
tranh luận khởi đầu cho sự phê phán về công tác xã hội “hỗ trợ”. Ngược đãi trẻ em
được “nhận diện, tiên đoán và ngăn ngừa” (Parton 1991 : 58) theo phương cách khoa
học hơn. Đồng thời, phương hướng của phần lớn công tác với trẻ em được chuyển từ
công tác phòng ngừa trẻ em tạ
i gia đình sang việc đảm bảo an toàn cho “cha mẹ về
mặt tâm lý”.

Cuộc điều tra Cleveland khi đánh giá sự can thiệp của nhà chuyên môn trong
trường hợp nghi ngờ có sự lạm dụng tình dục trẻ em không giống như cuộc điều tra

17
về cái chết của trẻ, qua đó người ta cho rằng hoạt động của nhà chuyên môn quá
nhiệt tình và kết quả là sự than phiền của cha mẹ. Trẻ em cần được bảo vệ khi có sự
can thiệp sai lầm. Sự bảo vệ trẻ em phải được tiến hành theo cách thức không vi
phạm quyền của cha mẹ và nếu không thì những đau buồn không cần thiết sẽ đến với
chính đứa trẻ
mà nhân viên xã hội muốn giúp đỡ. (Minister of State Tong Newton,
Parton 1991 : 114).

Báo cáo Cleverland về sau đưa đến sự thay đổi quan trọng trong công tác đối
tác với cha mẹ. Cư xử với trẻ em “như một con người” thay vì như là một “đối tượng

em không thể và không cần dựa vào cha mẹ hay nhân viên chuyên nghiệp để hành
động vì lợi ích tốt nhất của chúng mà phải nói và hành động vì chính trẻ.

Ở cấp độ chính sách và thực hiện, quan điểm quyền trẻ em càng ngày rõ ràng
trong thập niên 1980. Một loạt các phát triển dẫn đến trẻ em được có quyền như là
con người đúng nghĩa. Hệ thống “người giám hộ” đã cung ứng một nhân viên làm
việc độc lập nhân danh trẻ em làm việc ở tòa án. Do vậy trẻ em được công nhận như
những con người độc lập với những quyền lợi của mình cần đến sự đại diện và tư
vấn. Những kỹ thuật trị liệu bằng vui chơi và xây dựng mối quan hệ được phổ biến
qua các tài liệu như bộ tài liệu giảng dạy BAAF “Tiếp xúc với trẻ em” (1984) và qua
các tác giả như Fahlberg (1988) và Oaklander (1978). Mục đích của những tài liệu
này là khuyến khích nhân viên đóng vai trò tích cực nhiều hơn nữa trong việc giúp
đỡ trẻ em bày tỏ những cảm xúc bên trong của chúng (Aldgate và Simmonds 1988 :
14). Trong khi Những quyết định của Công tác xã hộ
i trong chăm sóc trẻ em
không có chỗ đặc biệt cho quan điểm của trẻ em vào năm 1985 thì 3 năm sau đó một
hướng dẫn Đánh giá bảo vệ trẻ em tiếp theo của sở y tế Bảo vệ trẻ em : sách hướng
dẫn cho nhân viên xã hội thực hiện sự đánh giá toàn diện (1988) có nhiều tuyên
bố rõ ràng hơn về nhu cầu tư vấn trẻ em và về quyền của chúng :

Trẻ
em và thanh thiếu niên đến với nghề nghiệp giúp đỡ vì họ và gia đình họ
trải qua những khó khăn, họ có quyền nhận sự can thiệp và giúp đỡ nhạy bén.
Họ có quyền được tư vấn và quan điểm của họ phải được quan tâm, cũng như
tuổi tác, sự hiểu biết của họ về những vấn đề và những quyết định có ảnh
hưởng đến
đời sống của họ. (Sở y tế : 1988 : 9).

Tuy nhiên trong thực hiện, đa số nhân viên xã hội đã dành ít thời gian với trẻ
em. Trong khi một số nhân viên xã hội thời trước Đạo luật trẻ em 1989 đã thực hành

quyền của trẻ em : ở cấp độ chính quyền hai sự triển khai quyền trẻ em có nhiều ý
nghĩa vào cuối thập niên 1980 là Công Ước Quốc Tế và Quyền Trẻ em và Đạo Luật
Trẻ em 1989.

Thảo luận về quyền trẻ em có vẻ bị mắc trong vòng lẩn quẩn : giữa trẻ em có
khả năng, không có khả năng, giữa sự giải phóng và chế độ gia trưởng, giữa sự độc
lập và an sinh, giữa người giải phóng và người chăm sóc. Đối với “những người giải

20
phóng”, sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em ít được nói ra, kết quả dẫn đến là trẻ
em cần phải được đối xử tương tự như người lớn. Tự quyết định là tất cả. Đối với
“người chăm sóc” trẻ em được xem là khác với người lớn về tính chất. Trẻ có ít khả
năng và dễ bị tổn thương hơn người lớn và do vậ
y đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt và các
quyết định được những người lớn chăm sóc trẻ đưa ra. (Archad 1933 : 55).

Trẻ em nhiều khi được định nghĩa và đối xử như thể chúng là người lớn thu
nhỏ chứ không có những đặc điểm trẻ em. Sự phức tạp và nhạy cảm về phát
triển tình cảm, thể chất và trí tuệ trở nên đơn giả
n hóa trong nhận thức và
việc hướng dẫn lấy quyết định theo kiểu thông thường (King và Piper 1995 :
144).

Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tuổi thơ ngày càng nhận thức sự phức tạp
về đời sống của trẻ em và mức độ trẻ em nhìn cũng như được nhìn về thế giới xã hội
của chúng (xem thí dụ James và Prout 1996). Trẻ em khác nhau về tuổi tác, giới,
chủng tộc và khuyết tật. Khả nă
ng của trẻ em để định hình thế giới của chúng cũng
khác nhau tùy thuộc vào tình huống mà đứa trẻ sống. Cơ sở của trẻ em khác nhau về
thế giới vui chơi theo kiểu trẻ bị áp đặt và có cái nhìn theo đời sống trong lớp học

57).

Trên cơ sở này, Fretrean đưa ra 4 loại quyền :

• Quyền an sinh. Đây là loại quyền rõ ràng nhất và chỉ ra một loạt những đòi hỏi
“tuổi thơ hạnh phúc” như đã được định ra trong Bản tuyên bố Liên hiệp quốc về
Quyền trẻ em (nay được thay bằng Công ước quốc tế). Những đòi hỏi này bao
gồm quyề
n được học hành, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe, và không phân
biệt đối xử.

• Quyền được bảo vệ. Trái với quyền an sinh, loại thứ hai này liên quan tới việc
bảo vệ trẻ em khỏi sự nguy hại, chẳng hạn như ngược đãi, thiếu chăm sóc và bóc
lột, lạm dụng. Quyền được bảo vệ là quyền cho trẻ em được hưởng tiêu chuẩn
chăm sóc tối thi
ểu. Quyền này dựa trên giả định rằng trẻ em là nhóm dễ bị tổn
thương cần sự bảo vệ của cha mẹ hoặc của nhà nước nếu cha mẹ không làm
được.

• Quyền được đối xử như người lớn. Fretrean thuyết phục rằng sự đối xử khác
nhau giữa trẻ em và người lớn dựa trên sự khác biệt tuyệt đối về tuổi tác là phân

22
biệt đối xử. Ông cho rằng trẻ em cần được đối xử như người lớn dựa trên nền
tảng công bằng xã hội. Ông không theo lập trường chủ nghĩa giải phóng của các
tác giả thập niên 1970, những người đã hủy bỏ tất cả sự phân biệt giữa trẻ em và
người lớn. Thay vào đó ông cho rằng sự khác biệt về tuổi tác cần phải được xem
xét liên tục, nhữ
ng quyết định về khả năng của từng cá nhân trẻ phải được thực
hiện từng trường hợp một. Như nhân viên xã hội sẽ thấy, đây là cách tiếp cận

• Quyền độc lập nói đến “sự tự do lựa chọn cách sống và quan hệ xã hội theo
khuynh hướng không bị kiểm soát bởi uy quy
ền của thế giới người lớn, dù đó là
cha mẹ hay cơ sở chăm sóc”. Eekelaar cho rằng quyền độc lập dù quan trọng
cũng phải đi sau quyền phát triển và cơ bản dựa trên cơ sở là trẻ em, khi chúng là
người lớn, sẽ ủng hộ quyền căn bản và phát triển trước quyền độc lập nếu có sự
xung đột, mâu thuẫn giữa các quyền.

Khuôn mẫu quyền tr
ẻ em được hình thành do Fretrean và Eekelaar thật thú vị
bởi vì họ nhấn mạnh đến loại quyền mà trẻ em được hưởng. Trẻ em có quyền độc lập
và tham gia cũng như phát triển và bảo vệ. Cả hai đều nhận ra quyền độc lập và
những quyền khác có thể đụng nhau và họ cho rằng trong những trường hợp như thế
sự quyết định của người lớn về điề
u tốt nhất cho trẻ sẽ có giá trị hơn ước muốn của
trẻ. Như nhân viên xã hội sẽ thấy Công ước của Liên hiệp quốc và Đạo luật trẻ em
1989 sẽ lại cho trẻ em “quyền an sinh” và quyền tham gia, sau cùng thì quyền an
sinh là quyền có quyền lực và ảnh hưởng nhất.

c. Công ước của Liên Hiệp Quốc

Sau 10 năm bàn thảo và cân nhắc, Công ước được Đại Hội Đồng Liên hiệp
Qu
ốc chấp thuận vào ngày 20 tháng 10 năm 1989. Cho đến nay, Công ước đã được
phê chuẩn bởi hơn 150 quốc gia trên khắp thế giới ; đó là một Công ước quốc tế
được phê chuẩn nhanh nhất và rộng rãi nhất. Công ước gồm 41 điều khoản về các
vấn đề ảnh hưởng đến trẻ em. Những quyền này được chia thành 4 nhóm : quyền
được chăm sóc hay bảo vệ, tham gia, chống phân biệt đối xử và quyề
n được phát
triển tốt nhất. (Hammarberg 1995).

nước giàu cho nên không phải nước nào cũng sẽ có thể cung ứng được các chính
sách xã hội hỗ trợ cho trẻ em ; những gì điều khoản 4 đòi hỏi là các chính phủ chịu
trách nhiệm có những biện pháp để thúc đẩy quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ
em ở “mức tối đa của các tài nguyên sẵn có của họ”.

f. Quyền tham gia. 25
Công ước Liên Hiệp Quốc thúc đẩy mạnh mẽ quyền trẻ em tham gia vào việc
lấy quyết định, dù rằng mức độ bày tỏ quan điểm của trẻ sẽ thay đổi tùy theo độ tuổi
và sự trưởng thành của trẻ. Điều khoản 12 nói rằng :

Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho trẻ em có đủ khả năng hình thành
quan điểm riêng của mình, được quyền bày tỏ những quan đ
iểm đó về tất cả
mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em phải được
coi trọng một cách thích đáng phù hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ
em.

Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra một loạt quyền riêng tư khác, các quyền
củng cố vị thế của đứa trẻ như một chủ thể độc lập hơn là khách thể thụ động, và là
một thành tố cần thiết của quyền trẻ em. Các quyền này gồm quyền có bản sắc (tên
và quốc tịch lúc sinh ra ; Điều khoản 7 và 8), quyền tự do bày tỏ ý kiến và thông tin
(Điều khoản 13), quyền tự do tư tưởng và hội họp (Điều khoản 14 và 15), quyền
riêng tư (Điều khoản 16) và quyền về văn hóa (
Điều khoản 30).

g. Quyền không phân biệt đối xử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status