11
PHẦN II
♣
BỐI CẢNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM
1. CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC TRẺ EM, QUYỀN TRẺ EM VÀ ĐẠO LUẬT
TRẺ EM
Khởi đầu từ thế kỷ 19 và được tăng cường vào thế kỷ 20, quyền trẻ em được
bảo vệ ngày càng được làm sáng tỏ, mang tính cưỡng chế. Trong những năm qua,
quan điểm bảo vệ này đã được bổ sung bằng sự thúc đẩy quyền trẻ em để trẻ tham
gia vào những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của trẻ.
Trong câu nói nổi tiếng đương thời của nữ thẩm phán Butler Sloss, có một sự
chuyển hướng trong việc đối xử với trẻ như “một con người chứ không phải là đối
tượng của sự quan tâm”.
Mục đích của chương này là đặt thực hành công tác xã hội hiện tại trong bối
cảnh luật pháp và lịch sử. Chương này có 2 phần:
1. Tìm hiểu sự phát triển của chính sách đối với trẻ em và quyền trẻ em trên
2 thế kỷ qua, xem xét công tác xã hội với trẻ em trong bối cảnh của
khuynh hướng chính sách rộng lớn hơn.
2. Những hiểu biết đương đại về quyền trẻ em làm nền tảng cho công tác xã
hội với trẻ em.
1.1. Trẻ em và quyền trẻ em :
lượt được xem như những thiên thần nhỏ ngây thơ và những quỷ nhỏ từ bản chất có
thể làm những điều tệ hại nhất cho đến khi được người lớn xã hội hóa đầy đủ.
Việc thay đổi ý nghĩa của tuổi thơ, đôi khi mâu thuẫn, rõ ràng trong tài liệu xã
hội học và lịch sử được phản ảnh trong sự phát triển chính sách chăm sóc trẻ em, vừa
phản ảnh vừa đưa ra những giải thích khác nhau về tuổi thơ. Sự hiểu biết về quyền
trẻ em có liên quan chặt chẽ tới các khuynh hướng tri thức và chính trị rộng lớn hơn.
Thí dụ như một trong những chủ đề quan trọng nhất của thời đại là tăng quyền lực,
13
và điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự diễn dịch đương đại về quyền trẻ em như
quyền tham gia.
Trong phần sau đây nhân viên xã hội sẽ xem xét hai yếu tố này - bối cảnh
chính trị xã hội và những tư tưởng khác nhau về trẻ em và tuổi thơ - đã tạo ra những
hiểu biết khác nhau về quyền trẻ em trong luật pháp và thực tế.
1.2. Quan điểm ban đầu: Trẻ lao động tự do và cứu trợ trẻ em
Ở thế kỷ 19, một khái niệm phổ biến và giống nhau hơn về tuổi thơ đã hình
thành. Lúc đó, số trẻ em đã đóng góp vào lợi tức gia đình thông qua việc trả lương và
không trả lương. Trái lại, tuổi thơ “lý tưởng” đã hình thành từ từ trên nền tảng trên
“lý tưởng trong khuôn khổ” của gia đình trung lưu đầu thế kỷ thứ 19 (Hendrick
1990). Lý tưởng này là thời tuổi thơ mà trẻ em được xem như khác với người lớn về
tính chất và bản chất vì nếu không trẻ em có thể dễ dàng trở nên hung bạo, và nguy
hiểm nếu như chúng được phép trở thành như người lớn và bước vào thế giới của
người lớn. Khi thế kỷ thứ 19 đã phát triển, một loạt các biện pháp bảo vệ trẻ em
được đưa ra để trả lại cho trẻ em sự phụ thuộc và đưa chúng ra khỏi thế giới công
việc của người lớn sang thế giới trường học và gia đình của đứa trẻ.
những tình huống bên ngoài gia đình. Vai trò của nhà nước trong chăm sóc trẻ bị chi
phối bởi Luật người nghèo đã minh họa cho giá trị tự do của sự can thiệp tối thiểu,
điều này nhằm giảm chi phí và cũng nhằm gìn giữ sự thiêng liêng của đời sống gia
đình. Khi sự can thiệp xảy ra là nó nhằm cứu giúp trẻ em khỏi sự khốn đốn và nghèo
khó tuyệt đối (Cleaver và Fretrean 1995). Mãi cho đến năm 1889, Hội quốc gia
phòng ngừa bạo lực đối với trẻ em được thành lập thì gia đình và những điều vụn vặt
riêng tư thuộc về mối quan hệ gia đình có thể là mục tiêu của sự xem xét phần nào.
Trong gia đình, các quyết định của nội bộ gia đình về nuôi nấng trẻ v.v là trách
nhiệm của những thành viên có quyền lực nhất trong gia đình, đó là cha mẹ, nhất là
người cha. Thật ra, mãi cho tới 1886 lần đầu tiên luật pháp Anh đặt sự an sinh của
đứa trẻ lên hàng đầu, trước sự thực hiện và mong ước của cha mẹ (Hoggest 1993).
Cho đến cuối thế kỷ 19, đời sống đối với đa số trẻ em rất khác với trẻ em
trước đó. Sự phát triển chính trị và khoa học, y khoa đã đảm bảo cuộc sống đối với
phần lớn trẻ em chứ không chỉ đấu tranh cho sự sống còn. Năm 1901 số trẻ em chết
15
là 161 trên 1000 đứa trẻ sinh ra và giữa 1928 và 1931 thì hạ xuống còn 66 trên 1000
trẻ sinh ra (Hardymart 1983).
2. CHẾ ĐỘ GIA TRƯỞNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ BẢO VỆ TRẺ EM CỦA
PHƯƠNG TÂY
Khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ở phương Tây đã có một thay đổi lớn,
dù không hoàn toàn, từ các cách tiếp cận tự do đến an sinh nhi đồng với một khái
niệm mới về tuổi thơ kèm theo. Về chính sách chăm sóc trẻ, Fox Harding (1991) gọi
là “chế độ gia trưởng của quốc gia và bảo vệ trẻ em” đã đặt cơ sở trên sự can thiệp
rộng lớn của nhà nước vào gia đình nhằm bảo vệ trẻ em khỏi sự thiếu chăm sóc của
cha mẹ (như các nhà chuyên nghiệp đã giải thích). Xây dựng trên sự phát triển của
2.1. Sự tham gia và phương thức tham gia
Thập niên 1970 có lẽ là thời kỳ cao độ chế độ gia trưởng của nhà nước trong
an sinh nhi đồng. Từ lúc đó, công tác xã hội an sinh nói chung đã phải tự định nghĩa
lại nhằm đáp ứng những thách thức và phê phán từ bên trong lẫn bên ngoài. Sự phát
triển lũy tiến trong chi phí cộng đồng bị cắt giảm bất ngờ do khủng hoảng kinh tế
giữa thập niên 1970. Từ đó trở đi an sinh nhi đồng được cơ cấu trong bối cảnh thiếu
thốn về mặt kinh tế Quyền lực của chế độ an sinh và chủ nghĩa tập thể đã được
thiết lập sau thế chiến thứ 2 đã bị đẩy lùi bởi đợt thủy triều của chủ nghĩa tự do và cá
nhân mới tràn tới. Càng ngày sự can thiệp giúp đỡ càng quan liêu và áp đặt. Quyền
được tranh luận ngày càng nhiều để ủng hộ cho tự do cá nhân và gia đình.
Công tác xã hội với trẻ em trên 20 năm qua được nổi bật nhờ tăng cường tập
trung vào chi tiết thủ tục chặt chẽ, tìm hiểu chấn thương hay ngược đãi là chủ đề
chính. Từ những cái chết của trẻ do bạo hành trong gia đình đã đưa đến những cuộc
tranh luận khởi đầu cho sự phê phán về công tác xã hội “hỗ trợ”. Ngược đãi trẻ em
được “nhận diện, tiên đoán và ngăn ngừa” (Parton 1991 : 58) theo phương cách khoa
học hơn. Đồng thời, phương hướng của phần lớn công tác với trẻ em được chuyển từ
công tác phòng ngừa trẻ em tại gia đình sang việc đảm bảo an toàn cho “cha mẹ về
mặt tâm lý”.
Cuộc điều tra Cleveland khi đánh giá sự can thiệp của nhà chuyên môn trong
trường hợp nghi ngờ có sự lạm dụng tình dục trẻ em không giống như cuộc điều tra
17
về cái chết của trẻ, qua đó người ta cho rằng hoạt động của nhà chuyên môn quá
nhiệt tình và kết quả là sự than phiền của cha mẹ. Trẻ em cần được bảo vệ khi có sự
can thiệp sai lầm. Sự bảo vệ trẻ em phải được tiến hành theo cách thức không vi
phạm quyền của cha mẹ và nếu không thì những đau buồn không cần thiết sẽ đến với
biệt giữa trẻ em và người lớn hoặc sự lệ thuộc và sự dễ bị tổn thương của trẻ em. Ở
đây trẻ em trở thành tác nhân độc lập, với những lợi ích riêng biệt trong gia đình. Trẻ
em không thể và không cần dựa vào cha mẹ hay nhân viên chuyên nghiệp để hành
động vì lợi ích tốt nhất của chúng mà phải nói và hành động vì chính trẻ.
Ở cấp độ chính sách và thực hiện, quan điểm quyền trẻ em càng ngày rõ ràng
trong thập niên 1980. Một loạt các phát triển dẫn đến trẻ em được có quyền như là
con người đúng nghĩa. Hệ thống “người giám hộ” đã cung ứng một nhân viên làm
việc độc lập nhân danh trẻ em làm việc ở tòa án. Do vậy trẻ em được công nhận như
những con người độc lập với những quyền lợi của mình cần đến sự đại diện và tư
vấn. Những kỹ thuật trị liệu bằng vui chơi và xây dựng mối quan hệ được phổ biến
qua các tài liệu như bộ tài liệu giảng dạy BAAF “Tiếp xúc với trẻ em” (1984) và qua
các tác giả như Fahlberg (1988) và Oaklander (1978). Mục đích của những tài liệu
này là khuyến khích nhân viên đóng vai trò tích cực nhiều hơn nữa trong việc giúp
đỡ trẻ em bày tỏ những cảm xúc bên trong của chúng (Aldgate và Simmonds 1988 :
14). Trong khi Những quyết định của Công tác xã hội trong chăm sóc trẻ em
không có chỗ đặc biệt cho quan điểm của trẻ em vào năm 1985 thì 3 năm sau đó một
hướng dẫn Đánh giá bảo vệ trẻ em tiếp theo của sở y tế Bảo vệ trẻ em : sách hướng
dẫn cho nhân viên xã hội thực hiện sự đánh giá toàn diện (1988) có nhiều tuyên
bố rõ ràng hơn về nhu cầu tư vấn trẻ em và về quyền của chúng :
Trẻ em và thanh thiếu niên đến với nghề nghiệp giúp đỡ vì họ và gia đình họ
trải qua những khó khăn, họ có quyền nhận sự can thiệp và giúp đỡ nhạy bén.
Họ có quyền được tư vấn và quan điểm của họ phải được quan tâm, cũng như
tuổi tác, sự hiểu biết của họ về những vấn đề và những quyết định có ảnh
hưởng đến đời sống của họ. (Sở y tế : 1988 : 9).
Tuy nhiên trong thực hiện, đa số nhân viên xã hội đã dành ít thời gian với trẻ
em. Trong khi một số nhân viên xã hội thời trước Đạo luật trẻ em 1989 đã thực hành
những kỹ năng công tác xã hội cá nhân với trẻ em thì hầu hết các nhân viên xã hội
Trẻ em 1989.
Thảo luận về quyền trẻ em có vẻ bị mắc trong vòng lẩn quẩn : giữa trẻ em có
khả năng, không có khả năng, giữa sự giải phóng và chế độ gia trưởng, giữa sự độc
lập và an sinh, giữa người giải phóng và người chăm sóc. Đối với “những người giải
20
phóng”, sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em ít được nói ra, kết quả dẫn đến là trẻ
em cần phải được đối xử tương tự như người lớn. Tự quyết định là tất cả. Đối với
“người chăm sóc” trẻ em được xem là khác với người lớn về tính chất. Trẻ có ít khả
năng và dễ bị tổn thương hơn người lớn và do vậy đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt và các
quyết định được những người lớn chăm sóc trẻ đưa ra. (Archad 1933 : 55).
Trẻ em nhiều khi được định nghĩa và đối xử như thể chúng là người lớn thu
nhỏ chứ không có những đặc điểm trẻ em. Sự phức tạp và nhạy cảm về phát
triển tình cảm, thể chất và trí tuệ trở nên đơn giản hóa trong nhận thức và
việc hướng dẫn lấy quyết định theo kiểu thông thường (King và Piper 1995 :
144).
Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tuổi thơ ngày càng nhận thức sự phức tạp
về đời sống của trẻ em và mức độ trẻ em nhìn cũng như được nhìn về thế giới xã hội
của chúng (xem thí dụ James và Prout 1996). Trẻ em khác nhau về tuổi tác, giới,
chủng tộc và khuyết tật. Khả năng của trẻ em để định hình thế giới của chúng cũng
khác nhau tùy thuộc vào tình huống mà đứa trẻ sống. Cơ sở của trẻ em khác nhau về
thế giới vui chơi theo kiểu trẻ bị áp đặt và có cái nhìn theo đời sống trong lớp học
hay trong gia đình (James và Prout 1996). Tuy nhiên, ngay cả trong gia đình cuộc
nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy những mong đợi khác nhau của cha mẹ về trẻ em cùng
lứa tuổi tạo ra nhiều mức độ độc lập rất khác nhau ở trẻ em (Solberg 1990).
Quyền trẻ em (nay được thay bằng Công ước quốc tế). Những đòi hỏi này bao
gồm quyền được học hành, dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe, và không phân
biệt đối xử.
• Quyền được bảo vệ. Trái với quyền an sinh, loại thứ hai này liên quan tới việc
bảo vệ trẻ em khỏi sự nguy hại, chẳng hạn như ngược đãi, thiếu chăm sóc và bóc
lột, lạm dụng. Quyền được bảo vệ là quyền cho trẻ em được hưởng tiêu chuẩn
chăm sóc tối thiểu. Quyền này dựa trên giả định rằng trẻ em là nhóm dễ bị tổn
thương cần sự bảo vệ của cha mẹ hoặc của nhà nước nếu cha mẹ không làm
được.
• Quyền được đối xử như người lớn. Fretrean thuyết phục rằng sự đối xử khác
nhau giữa trẻ em và người lớn dựa trên sự khác biệt tuyệt đối về tuổi tác là phân
22
biệt đối xử. Ông cho rằng trẻ em cần được đối xử như người lớn dựa trên nền
tảng công bằng xã hội. Ông không theo lập trường chủ nghĩa giải phóng của các
tác giả thập niên 1970, những người đã hủy bỏ tất cả sự phân biệt giữa trẻ em và
người lớn. Thay vào đó ông cho rằng sự khác biệt về tuổi tác cần phải được xem
xét liên tục, những quyết định về khả năng của từng cá nhân trẻ phải được thực
hiện từng trường hợp một. Như nhân viên xã hội sẽ thấy, đây là cách tiếp cận
tương tự với sự hình thành khả năng theo Gillick đã được phát triển trên thập kỷ
qua.
• Quyền chống lại cha mẹ. Loại quyền thứ tư này đặt cha mẹ vào vai trò của người
đại diện cho trẻ em. Fretrean cho rằng trong những quyết định chính yếu thì
quyết định của cha mẹ cần có quyền lực và ảnh hưởng nhưng chỉ khi nó phù hợp
với sự lượng giá “khách quan” xem những quyết định đó có ngang hàng với “sản
phẩm xã hội ban đầu” của trẻ em hay không, đó là những gì mà bất cứ một người
bởi vì họ nhấn mạnh đến loại quyền mà trẻ em được hưởng. Trẻ em có quyền độc lập
và tham gia cũng như phát triển và bảo vệ. Cả hai đều nhận ra quyền độc lập và
những quyền khác có thể đụng nhau và họ cho rằng trong những trường hợp như thế
sự quyết định của người lớn về điều tốt nhất cho trẻ sẽ có giá trị hơn ước muốn của
trẻ. Như nhân viên xã hội sẽ thấy Công ước của Liên hiệp quốc và Đạo luật trẻ em
1989 sẽ lại cho trẻ em “quyền an sinh” và quyền tham gia, sau cùng thì quyền an
sinh là quyền có quyền lực và ảnh hưởng nhất.
c. Công ước của Liên Hiệp Quốc
Sau 10 năm bàn thảo và cân nhắc, Công ước được Đại Hội Đồng Liên hiệp
Quốc chấp thuận vào ngày 20 tháng 10 năm 1989. Cho đến nay, Công ước đã được
phê chuẩn bởi hơn 150 quốc gia trên khắp thế giới ; đó là một Công ước quốc tế
được phê chuẩn nhanh nhất và rộng rãi nhất. Công ước gồm 41 điều khoản về các
vấn đề ảnh hưởng đến trẻ em. Những quyền này được chia thành 4 nhóm : quyền
được chăm sóc hay bảo vệ, tham gia, chống phân biệt đối xử và quyền được phát
triển tốt nhất. (Hammarberg 1995).
d. Quyền an sinh/được bảo vệ
24
Điều khoản 3 của Công ước của Liên Hiệp quốc quy định quyền an sinh và
được bảo vệ của trẻ em. Điều khoản có hai thành phần chủ yếu. Thành phần thứ nhất
nhấn mạnh rằng nhà nước và các định chế tư nhân phải có sự quan tâm trước tiên vì
lợi ích tốt nhất của trẻ em trong công tác của họ. Thành phần thứ hai là nhà nước
đảm bảo rằng trẻ em được bảo vệ và chăm sóc đầy đủ, quy định có liên quan tới
quyền và bổn phận của người chăm sóc trẻ. Điều khoản 19 đòi hỏi nhà nước phải có
biện pháp về pháp luật, quản trị, giáo dục và xã hội thích hợp để bảo vệ trẻ em chống
Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho trẻ em có đủ khả năng hình thành
quan điểm riêng của mình, được quyền bày tỏ những quan điểm đó về tất cả
mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em phải được
coi trọng một cách thích đáng phù hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ
em.
Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra một loạt quyền riêng tư khác, các quyền
củng cố vị thế của đứa trẻ như một chủ thể độc lập hơn là khách thể thụ động, và là
một thành tố cần thiết của quyền trẻ em. Các quyền này gồm quyền có bản sắc (tên
và quốc tịch lúc sinh ra ; Điều khoản 7 và 8), quyền tự do bày tỏ ý kiến và thông tin
(Điều khoản 13), quyền tự do tư tưởng và hội họp (Điều khoản 14 và 15), quyền
riêng tư (Điều khoản 16) và quyền về văn hóa (Điều khoản 30).
g. Quyền không phân biệt đối xử
Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra 2 quy định quan trọng về sự phân biệt đối
xử. Đầu tiên đòi hỏi những quyền được tuyên bố trong Công ước Liên Hiệp Quốc áp
dụng cho tất cả mọi trẻ em không phân biệt (Điều khoản 2). Để tăng cường sự thực
hiện này Công ước Liên Hiệp Quốc đưa ra những quy định cụ thể về những nhóm trẻ
em đặc biệt chịu thiệt thòi :
Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng trẻ em khuyết tật về tinh thần hay thể
chất cần được hưởng một cuộc sống trọn vẹn và tử tế trong những điều kiện
đảm bảo nhân phẩm, thúc đẩy khả năng tự lực, và tạo điều kiện dễ dàng cho
trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng. (Điều khoản 23.1).
và
26
được phản ảnh trong những quy định rộng rãi và mâu thuẫn tiềm ẩn của Đạo luật
27
(xem phần dưới). Tuy vậy, Đạo luật đã được chào đón như một bước chính yếu tiến
tới quyền trẻ em, nhất là quyền tham gia hay độc lập (Thí dụ Newell 1991 : xiii ;
Franklin 1995 : 3). Trong phần này nhân viên xã hội sẽ xem xét Đạo luật trẻ em
1989 đối với 4 nhóm quyền - bảo vệ, phát triển tốt nhất, tham gia và không phân biệt
đối xử - được Công ước Liên hiệp quốc thúc đẩy.
i. Quyền an sinh/được bảo vệ.
Một quan tâm chính của Đạo luật trẻ em 1989 là đảm bảo rằng trẻ em có
quyền được chăm sóc và bảo vệ đầy đủ. Điều này được xử lý bằng 2 cách : thứ nhất
là bằng cách đòi hỏi rằng sự an sinh của trẻ là sự quan tâm hàng đầu khi tòa án lấy
quyết định, và thứ hai là bằng cách quy định khung luật pháp để bảo vệ trẻ em.
Phần tương ứng của Đạo luật trẻ em với nguyên tắc vì “lợi ích tốt nhất cho trẻ
em” trong Công ước Liên hiệp quốc là nguyên tắc an sinh đòi hỏi rằng “an sinh của
trẻ phải là quan tâm đầu tiên của tòa” khi nào tòa quyết định những vấn đề chăm sóc
hay nuôi nấng trẻ. Nguyên tắc an sinh áp dụng trong chăm sóc trẻ và các vụ kiện
nguy cấp, các cuộc tranh chấp giữa cha mẹ. Trong khi tòa án có thể xem xét tới
những yếu tố khác thì các vấn đề phải được quan tâm đặc biệt là :
a) Ước mơ và cảm xúc có thể xác minh được của đứa trẻ (được xem xét theo độ tuổi
và sự hiểu biết) ;
b) Những nhu cầu học tập, tình cảm và thể chất của trẻ ;
c) Tác dụng có thể có đối với trẻ do bất kỳ thay đổi nào trong hoàn cảnh của trẻ ;
d) Tuổi tác, giới tính, trình độ và bất kỳ đặc điểm nào của trẻ mà tòa án cho là có
liên quan ;
những cơ hội phát triển tốt nhất có thể được cho con cái họ. Eekelaar (1991) trong
cuộc thảo luận ban đầu về Đạo luật trẻ em đã nêu ra ý nghĩa của “trách nhiệm của
cha mẹ” thay đổi như thế nào từ trách nhiệm của cha mẹ làm đầy đủ bổn phận đối
với trẻ sang trách nhiệm chăm sóc trẻ thuộc về cha mẹ thay vì thuộc về nhà nước. Do
vậy, trong khi nhà nước nhận ra tầm quan trọng của gia đình đối với trẻ em thì lại ít
nhận ra sự quan trọng của các dịch vụ đối với gia đình - Sự chăm sóc của trẻ em
phần lớn vẫn là trách nhiệm riêng tư và cá nhân.
Bất hạnh được định nghĩa là :
29
a) Trẻ không thể thành đạt hay duy trì hoặc không thể có cơ hội để thành đạt hay
duy trì, tiêu chuẩn hợp lý về sức khỏe hay phát triển mà không có sự hỗ trợ các
dịch vụ cho trẻ do chính quyền địa phương thuộc khu vực này ;
b) Sự phát triển và sức khỏe của trẻ có thể bị tổn thương đáng kể, nhiều sự tổn
thương mà không có sự hỗ trợ dịch vụ nào cho trẻ ; hoặc
c) Trẻ bị khuyết tật.
Đối với trẻ em được xem là không “bất hạnh”, thì Đạo luật không có nhiệm
vụ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, dầu vậy chăm sóc ban ngày có thể được cung ứng
cho trẻ không bất hạnh dưới 5 tuổi. Trên thực tế, sự thiếu hụt tài nguyên có nghĩa là
“bất hạnh” được diễn dịch một cách hạn chế gồm số nhỏ trẻ em có nguy cơ liên quan
tới việc thực hiện vai trò cha mẹ hơn là những nguy hiểm về kinh tế, xã hội hay môi
trường .
l. Quyền tham gia
Đạo luật trẻ em 1989 được xem như một bước tiến quan trọng trong việc thúc
• Người được tham khảo. Đạo luật yêu cầu ý kiến của trẻ em cần phải được nhận
biết trong hàng loạt quyết định có ảnh hưởng đến trẻ em.
Trong khi Đạo luật đòi hỏi phải lắng nghe tiếng nói của trẻ em nhưng tiếng
nói của trẻ thì lại chẳng được lắng nghe chút nào, mà cũng chẳng có ảnh hưởng nào.
Quyền mà Đạo luật đưa ra nói chung chỉ là sự tư vấn ; bổn phận “quan tâm” đến
quan điểm của trẻ mà quan điểm thì khác với sự quyết định. Quyền tư vấn là quyền
đi sau quyền tối quan trọng an sinh (dù vậy không có sự loại trừ nhau). Tầm quan
trọng được đặt vào quan điểm của trẻ em là phải tùy thuộc vào “tuổi tác và sự hiểu
biết”, với mong đợi rằng sự quan trọng sẽ được đặt vào quan điểm của đứa trẻ trưởng
thành hơn (nhưng không chỉ đơn giản là trưởng thành theo thời gian).
• Người đồng ý. Có nhiều lĩnh vực của đạo luật trong đó trẻ em được trao quyền
xác định kết quả thực sự một quyết định. Điều này phải có sự đồng ý và tùy theo
sự thẩm định khả năng lấy quyết định của đứa trẻ. Trẻ em được Đạo luật làm tăng
năng lực để khước từ cuộc khám nghiệm tâm thần hay y khoa, thẩm định hay
31
chữa trị nếu được xem như có đủ năng lực. Trẻ em được chăm sóc cũng có thể
khước từ sự lựa chọn của chính quyền địa phương về người vãng gia độc lập đối
với trẻ em (hay khước từ cuộc hẹn đang diễn ra), tuy nhiên chỉ trong điều kiện trẻ
cho là đủ năng lực để đưa ra quyết định có hiểu biết.
• Người khởi xướng. Đạo luật trẻ em cho trẻ em quyền được phép có hành động
độc lập hợp pháp. Lúc này trẻ em có thể xin phép tòa án để ứng dụng cho các
lệnh theo mục 8 (đó là tiếp xúc, cư trú, các vấn đề cụ thể và các bước bị ngăn
cấm) hoặc được tham gia như những thành viên đối với các vụ kiện, cũng như thi
hành lệnh chăm sóc. Tòa án thỏa mãn chỉ khi nào đứa trẻ có đủ hiểu biết để thi
nhân viên xã hội đã thấy giả định rằng việc lắng nghe trẻ thuộc về trách nhiệm của
cha mẹ thì tiếng nói của trẻ chỉ được lắng nghe trong một số rất ít các trường hợp cha
mẹ bất đồng.
Lyon và Parton biện luận rằng Đạo luật nói lên một bước tiến tới việc nhận
thức rõ trẻ em là chủ thể độc lập hơn là đối tượng của an sinh : “Trẻ em được quyền
nói trong những vấn đề có liên quan đến trẻ nhưng đó không phải là tiếng nói cuối
cùng. Những quy định cho trẻ em sự độc lập nhưng lại ngưng đột ngột toàn bộ hậu
quả của hành động đó.
m. Quyền không phân biệt đối xử
Không giống trong Công ước Liên Hiệp Quốc, không có cam kết rõ ràng nào
trong Đạo luật trẻ em 1989 rằng các quyền được áp dụng cho tất cả trẻ em không kể
giới tính, sắc tộc hay khuyết tật. Thay vào đó, suy nghĩ đằng sau đạo luật phản ảnh
niềm tin rằng các nhóm trẻ em khác cần những nhu cầu khác phải được tòa án và
nhân viên chuyên môn quan tâm. Như vậy, thay vì nhấn mạnh cách đối xử bình đẳng
mà có thể dẫn đến chủ nghĩa đồng hóa, một cách tiếp cận nhạy cảm về văn hóa,
không để ý đến màu da / giới, thì có sự tập trung vào việc nhận diện và đáp ứng các
nhu cầu cụ thể của từng cá nhân trẻ em (Macdonald 1991).
Phần này cho nhân viên xã hội hiểu sự hình thành bối cảnh công tác xã hội
với trẻ em, nhấn mạnh sự năng động và bối cảnh thay đổi của chính sách chăm sóc
trẻ em. Hiện nay khung luật pháp trình bày cách tiếp cận “cân bằng” hơn đối với trẻ
33
em và gia đình, kết hợp với quyền tham gia và bảo vệ, không phân biệt đối xử và
phát triển tốt nhất. Những khó khăn hay thách thức đối với nhân viên xã hội là làm
sao biết duy trì được sự “cân bằng”này.