Công tác xã hội với trẻ em vi phạm pháp
luật
BỐ CỤC TRÌNH BÀY
TT Đề mục Trang
1 I. Lí do chọn đề tài
II. Lí luận chung.
1. Định nghĩa trẻ em.
2. Định nghĩa hành vi phạm pháp
3. Định nghĩa trẻ em vi phạm pháp luật
4. Công tác xã hội với trẻ em vi phạm pháp luật
Tình hình trẻ em vi phạm pháp luật hiện nay.
1. Đặc điểm của trẻ em vi phạm pháp luật
2. Nguyên nhân
3. Hậu quả.
4. Thái độ của xã hội với trẻ phạm pháp
5. Các dich vụ xã hội
6. Biện pháp
7. Phương pháp công tác xã hội với trẻ em vi
phạm pháp luật
6.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ
6.2. Các kĩ năng tiêp xúc với trẻ
6.3. Các bước công tác xã hội với trẻ em vi phạm
pháp luật
6.3.1. Xác định nhu cầu của trẻ
6.3.2. Công tác xã hội với cá nhân
4 III. Ứng dụng tình huống cụ thể.
5 IV. Kết luận.
Nội dung bài báo cáo.
I: Đặt vấn đề :
Trẻ em là tương lai của đất nước , là thế hệ sẽ kế tục sự nghiệp xây dựng đất
nước của dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay do sự phát triển của kinh tế - xã hội thì
người hình thành các đặc điểm tâm sinh lý, do đó ở giai đoạn này con người
có nhiều thay đổi dẫn đến việc vi phạm các chuẩn mực đạo đức của xã hội. Do
đó chúng ta cần phải chú ý đến sự phát triển của trẻ em ở giai đoạn này.
2. Định nghĩa hành vi phạm pháp.
Theo lý luận chung về pháp luật: hành vi phạm pháp nói chung là hành vi trái
pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do các chủ thể có
năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho
xã hội. ) . Hành vi vi phạm pháp
luật gây hậu quả xấu cho xã hội, đối với trẻ em thì ở lứa tuổi từ 1-12 tuổi thì ở
lứa tuổi này ít gây ra các vi phạm pháp luật. Từ độ tuổi từ 13- 18 tuổi là giai
đoạn mà trẻ em gây ra nhiều vụ vi phạm pháp luật nhất. Vì vậy ở giai đoạn lứa
tuổi này chúng ta phải hết sức lưu ý.
3. Định nghĩa trẻ em vi phạm pháp luật
Là những hành vi hành động của trẻ em làm trái với chuẩn mực đạo đức của
xã hội. Những hành vi hành động này có tác động có hại cho xã hội và con
người.(từ điển xã hội học _ G.Endruweit và G. Trommsdorff_nhà xuất bản thế
giới)
Vậy những hành vi hành động đó của trẻ em không chỉ có tác hại cho xã hội
mà còn có tác hại mạnh mẽ đối với chính bản thân của người gây ra các hành
động đó.Với độ tuồi còn ít do đó các em chưa ý thức được hậu quả của mình
làm cho các em ngày càng sa lầy vào các tệ nạn xã hội.
4. Công tác xã hội với trẻ em vi phạm pháp luật.
Công tác xã hội với trẻ em là sử dụng những kĩ năng chuyên nghiệp nhằm
giúp đỡ những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn để trẻ lấy lại được niềm tin
vào cuộc sống… và được phát triển cả về thể chất và tinh thần.
Công tác xã hội với trẻ phạm pháp là ngành trợ giúp những đối tượng trẻ đã
có hành vi phạm pháp ở các mức độ khác nhau có thể chấn chỉnh hành vi của
mình, hoà nhập với cộng đồng và phát triển bình thường. Các mục đích chính
của CTXH với trẻ có hành vi phạm pháp: Tăng cường làm rõ động cơ của các
em phạm pháp, Cho phép các em giải toả tâm trạng, Giúp cung cấp thông tin,
viết ).
Những trẻ em phạm tội sớm nhiễm các thói quen xấu, trong đó 85.4% đã
nghiện thuốc lá, thuốc lào, 33% thích uống rượu, bia, 1.55% nghiện ma tuý,
58.6% thích xem các loại phim trưởng, kiếm hiệp kích động bạo lực, 20%
thích xem phim kích động tình dục.
Trong nhà trường trẻ em phạm tội hầu như có những biểu hiện không tham
gia vào sinh hoạt đoàn, hội hoặc nếu có tham gia thì rất miễn cưỡng.
Trong quá trình phạm tội, trẻ có thể chỉ phạm tội với vai trò tham gia, đồng
phạm. Trong khi đó thì các loại tội phạm như xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghĩa, tài sản riêng của công dân, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,
danh dự con người… Trẻ em thường giữ vai trò chủ động, nhiều trường hợp
phạm tội có tổ chức.
Những năm gần đây tình trạng trẻ em phạm tội có sử dụng bạo lực phát triển
mạnh. Như là những hành vi cướp, giết, hiếp dân, đánh người gây thương tích
đang ngày càng phổ biến với tính chất nghiêm trọng. Trẻ em thường thực hiện
hành vi phạm tội một cách cơ hội, ít có dự mưu, tổ chức chặt chẽ từ trước. Tội
phạm trẻ em thường tập chung vào các ngày lễ, tết, dịp nghỉ hè, các ngày chủ
nhật, tối thứ bảy…
2. Nguyên nhân dẫn đến trẻ vi phạm pháp luật
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trẻ em vi phạm pháp luật:
2.1. Thứ nhất ta phải nói tới yếu tố đời sống tinh thần của trẻ: Đây được coi là
yếu tố chủ yếu và phổ biến nhất. Các nghiên cứu cho thấy ở tuổi vị thành niên
là thời điểm trẻ có sự biến đổi tâm sinh lí để trở thành người lớn do đó tinh
thần hay bị xúc cảm mạnh, sự thay đổi thất thường dẫn đến kết quả là không
kiềm chế được bản thân, không làm chủ được lý chí. Các em thường có tâm lý
muốn tự khẳng định mình, không muốn phụ thuộc và dễ bị tác động, rủ rê, lôi
kéo của các đối tượng xấu. Nhiều em bị ảnh hưởng tâm lý từ các loại phim,
ảnh bạo lực, văn hoá phẩm đồi truỵ trên mạng Internet và ngoài xã hội.
Chính sự vận động tâm lí không được khoẻ mạnh đã chiếm một phần lớn các
yếu tố khác nhau dẫn trẻ đến con đường vi phạm pháp luật
ly hôn thì số lượng của trẻ phạm pháp lại càng nhiều.
2.2.4 Cha mẹ không thống nhất phương pháp giáo dục con cái
Cha mẹ bao giờ cũng thương con, lo lắng cho tương lai của con. Nhưng do
trình độ nhận thức và tính cách mỗi người có cách cư xử khác nhau. Người
này tỏ thái độ quở trách, trừng phạt con thì người kia lại tỏ thái độ bênh vực
con cái vv…Trong trường hợp như vậy cha mẹ sẽ bị mất dần quyền uy, trẻ
không nghe lời chống đối. Khi mà trong gia dinhd bố mẹ mất quyền uy thì trẻ
sẽ hành động theo ý thích của mình và sa vào các tệ nạn của xã hội
2.2.5 Cha mẹ chưa nắm được phương pháp giáo dục con cái
Sự quá nghiêm khắc hay quá nuông chiều của cha mẹ đối với con cái cũng
làm phát sinh các hành vi xấu của trẻ. Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi gia
đình chỉ có 1-2 con thì sự nuông chiều quá mức của cha mẹ đã tạo cơ hội cho
con trẻ lao vào các tệ nạn xã hội.
2.2.6 Cha mẹ chưa hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
Cuộc sống đậm màu sắc tình cảm, không giấu được khi vui khi buồn khi yêu
khi ghét, dễ xúc cảm dễ có ấn tượng mạnh, định kiến sâu sắc …Vì thần kinh
hưng phấn chiếm ưu thế nên hành động theo ý thích không quan tâm đến kết
quả đúng sai có lợi hay có hại. Mặt khác cha mẹ lại không quan tâm đến tâm
sinh lý của trẻ ở giai đoạn này nên cứ mặc cho hành động của trẻ vì vậy đã tạo
cơ hội cho trẻ lao vào các tệ nạn của xã hội.
Theo kết quả điều tra những năm gần đây 38,8% vị thành niên vi phạm pháp
luật xuất thân từ những gia đình có cha mẹ làm nghề buôn bán; trong đó số trẻ
em được trực tiếp phỏng vấn có 52,4% là đang sống với cha mẹ, được cha mẹ
nuôi dưỡng.
Số còn lại là sống trong hoàn cảnh gia đình không bình thường: 12% chỉ sống
với mẹ, 4% chỉ sống với bố, 3,1% sống với cha mẹ kế, 9,03% sống với người
khác. Trong số vị thành niên vi phạm pháp luật có tới 17% là những trẻ lang
thang, vô gia cư; 71,37% số trẻ thành niên vi phạm pháp luật trả lời không
nhận được sự quan tâm, chăm sóc đầy đủ của cha mẹ và gia đình.
Như vậy gia đình là nơi gần gủi với trẻ nhất tuy nhiên đây cũng có thể là nơi
chê trách chế giễu, trừng phạt … sẽ làm cho trẻ có cảm giác tội lỗi và ức chế
dẫn đến tình trạng sa sút học hành và tham gia vào các tệ nạn xã hội.
2.3.4 Thiếu nghiêm túc trong học hành và thi cử
Trong quá trình dạy học, sợ điểm học sinh quá thấp và sợ bản thân bị thua
kém giáo viên khác về trình độ dạy học nên nhiều giáo viên đã làm ngơ trong
thi cử dẫn đến trẻ học chăm cũng bằng trẻ lười học tạo ra thói ỷ lại làm cho trẻ
không có mục tiêu phấn đấu, thừa thòi gian rảnh thi đi chơi và bị cuốn hút vào
các tệ nạn xã hội.
Ngoài vòng tay gia đình thi nhà trường là nơi dạy dỗ con người thành người
nhưng chính nơi đây cũng là nơi có thể tạo ra cho trẻ hư hỏng,đặc biệt là nếu
nhà trường không quản lý tốt thì sẽ làm cho trẻ sa vào nhiều tệ nạn xã hội.
2.4 Yếu tố xã hội tác động làm cho trẻ vi phạm pháp luật
Trẻ sống trong môi trường xã hội có rất nhiều biến đổi như hiện nay thì việc
ảnh hưởng của môi trường xã hội đối với con trẻ rất lớn. Cụ thể các ảnh
hưởng đó như sau:
2.4.1 Thiếu sót về tổ chức đoàn đội ở địa phương
Ưa thích hoạt động là một trong những đặc điểm của lứa tuổi đang phát triển
mạnh về thể chất và tâm sinh lý.các hoạt động văn nghệ thể thao, lao động ở
xã hội. Tuy nhiên hiện nay các phong trào ấy ở địa phương đang rất yếu và
thiếu nên đã tạo cho trẻ en không có sân chơi và tham gia vào các tệ nạn của
xã hội.
2.4.2 Thiếu sót trong việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng
Trong các chương trình phát thanh truyền hình đều mang nội dung giáo dục.
Nhưng với trình độ nhận thức của trẻ em thì chúng tiếp thu không chọn lọc,
thiếu khả năng khái quát đánh giá vì vậy các em chỉ chú ý đến các pha gây cấn
rùng rợn kích động …
Việc đưa lên phim ảnh, báo những chuyện bạo lực chém giết tàn nhẫn , thủ
đoạn lừa gạt tinh vi, những thủ thuật trộm xe … Chính những bài học ấy đã
vận dụng vào thực tế và đã thành công làm cho tính chất tội phạm trẻ em ngày
càng trầm trọng và trốn tránh pháp luật ngày càng khéo léo.
Còn đối với gia đình của trẻ có hành vi phạm pháp: ảnh hưởng đến đời sống
kinh tế, và chịu nhiều tác động của dư luận xã hội…
Với xã hội: “Trẻ em là tương lai đất nước” nhưng nếu trẻ em vi phạm pháp
luật thì cũng đồng nghĩa với việc đất nước sẽ mất đi một phần nguồn lực. Sẽ
ảnh hưởng đến trật tự xã hội, nếp sống văn minh của xã hội. Chính vì vậy cần
thiết đưa ra những biện pháp khắc phục hiệu quả và nhanh chóng.
4. Thái độ của xã hội với trẻ phạm pháp
Hầu hết những trẻ vi phạm pháp luật được phát hiện khi trẻ đã phạm tội và có
sự can thiệp của pháp luật, khi đó gia đình nhà trường mới biết. Khi đó gia
đình đổ lỗi cho nhà trường, nhà trường buộc tội lại gia đình còn xã hội thì coi
đứa trẻ đó không được giáo dục, tỏ thái độ khinh miệt, coi thường. Họ phán
xét mà không nhìn thấy nguyên nhân sâu xa bên trong. Những đứa trẻ phạm
pháp này vốn đã không được gia đình nhà trường quan tâm, chỉ bảo tận tình
khiến lấn sâu vào con đường tội lỗi giờ lại bị cả xã hội coi thường, khiến trẻ
càng có những hành động cũng như thái độ tiêu cực, khó sửa chữa lỗi. Như
vậy thái độ của xã hội với những trẻ phạm pháp là chưa tích cực, vẫn có sự
miệt thị, coi thường. Như vậy vai trò của nhân viên công tác xã hội là rất quan
trọng không chỉ giúp trẻ nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình
là sai, khơi gợi ở trẻ những năng lực tiềm tàng cũng như là những mặt hạn chế
ở trẻ để từ đó đưa ra kế hoạch giáo dục, trị liệu hiệu quả nhất cho trẻ . Mà
muốn làm được điều đó thì cần phải có sự kết hợp không chỉ từ phía trẻ, gia
đình của trẻ mà cần cả sự giúp đỡ của toàn xã hội: đó là bạn bè, thầy cô gia
đình nhà trường
5. Các dịch vụ xã hội
Hiện ở Việt Nam có nhiều dịch vụ chăm sóc cho trẻ em vi phạm pháp luật:
Những mô hình Trung tâm tư vấn dịch vụ truyền thông trẻ em nhằm hỗ trợ
các em vay vốn phát triển kinh tế gia đình, hỗ trợ học nghề học văn hóa ổn
định cuộc sống, và đã có những em đã trưởng thành trở thành công dân tốt cho
gia đình và xã hội. Bên cạnh việc hỗ trợ phát triển kinh tế, hỗ trợ học nghề,
các trung tâm phối hợp với ngành công an tổ chức tư vấn cho phụ huynh và
đầy đủ; hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em
chưa đầy đủ, thiếu tin cậy.
6. Biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi tệ nạn xã hội
Toàn thể xã hội cần kết hợp với nhau chặt chẽ từ gia đình nhà trường và xã
hội đều phải phối hợp với nhau để tạo nên nếp sống lành mạnh tạo nên sự giáo
dục tốt nhất và đầy đủ nhất cho trẻ.
Nhà trường thường xuyên liên hệ chặt chẽ với gia đình để thông báo kịp
thời kết quả học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cũng như các biểu hiện lệch
lạc trong suy nghĩ, lối sống của học sinh để phối hợp giáo dục, quản lý. Các
bậc phụ huynh cần quan tâm tới sự phát triển tâm, sinh lý và việc học tập của
con em mình, đồng thời thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhà trường
để nắm bắt tình hình học tập, tư tưởng, các mối quan hệ của con em mình.
Hai là, công tác phòng ngừa, ngăn chặn trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật
cần có sự phối hợp đồng bộ của các cấp uỷ đảng, chính quyền và toàn xã hội.
Chính quyền các cấp cần tạo điều kiện cho thanh, thiếu niên có các hình thức
sinh hoạt văn hoá trong sáng, lành mạnh, hàng năm thường xuyên tổ chức các
hoạt động vui chơi giải trí cho các em như trại hè, ngày hội tuổi thơ, diễn đàn
trẻ em, đêm hội trăng rằm… từ đó nắm bắt tâm tư tình cảm, tâm lý của các em
để kịp thời có biện pháp uốn nắn, giáo dục phù hợp.
Các cơ quan chức năng cần tăng cường xét xử lưu động các vụ án thanh,
thiếu niên và các cơ sở kinh doanh vi phạm pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả
tuyên truyền, giáo dục pháp luật, góp phần phòng ngừa tình trạng thanh thiếu
niên vi phạm pháp luật.
6. Phương pháp công tác xã hôi với trẻ em vi phạm pháp luật
6.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ em vi phạm pháp luật
Sở dĩ cần phải hiểu được tâm lí của trẻ bởi đây là một thành tố quan trọng lí
giải động cơ, tìm hiểu thực trạng, môi trường, nảy sinh những hành vi phạm
pháp của trẻ. Hầu hết trẻ em vi phạm pháp luật tập trung ở lứa tuổi 14-18.
Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, sự thay đổi về sinh lí
cũng như môi trường hoạt động có tác động không nhỏ đến trẻ.
đánh giá trẻ, rộng lượng tin vào khả năng thay đổi của trẻ. Khi đặt mình vào
địa vị của trẻ ta sẽ dễ thông cảm với những nỗi đau, xao xuyến, lo lắng của trẻ
cũng như là những hành vi mà trẻ đã gây ra trước đây.
Luôn tỏ thái độ thân thiện cởi mở với trẻ: Không làm cho trẻ sợ hãi bởi các
thái độ: lạnh lùng, có cái nhìn soi mói, tỏ ra xa lạ. Cần tiếp xúc với trẻ với thái
độ nhẹ nhàng, niềm nở. Tạo ra bầu không khí thoải mái và tin cẩn. Làm cho
trẻ thấy mình là người dễ gần gũi. Nói chuyện với trẻ về những gì trẻ yêu
thích hoặc những lo lắng của trẻ.
6.3Các bước công tác xã hội với trẻ em vi phạm pháp luật
6.3.1. Xác định nhu cầu của trẻ
Theo thang nhu cầu của A.MASLOV thì con người có 5 nhu cầu cơ bản:
Nhu cầu vật chất, nhu cầu an toàn xã hội, nhu cầu xã hội, nhu cầu được coi
trọng và nhu cầu tự khẳng định mình. Đối với trẻ em vi phạm pháp luật thì
nhu cầu cơ bản của trẻ là nhu cầu được an toàn xã hội được đặt lên hàng đầu.
Những trẻ này cần được sự yêu thương chăm sóc của cả cha và mẹ, cha mẹ
luôn quan tâm đến trẻ không những về vật chất mà cả về tinh thần tình yêu
thương. Trẻ cần có nhà ở, một ngôi nhà ấm cúng, tràn ngập tiếng cười của cha
mẹ và những đứa con. Nhu cầu kế tiếp của trẻ là nhu cầu được tôn trọng, tự
khẳng định mình cũng quan trọng không kém gì so với nhu cầu an toàn xã hội.
Vì những đứa trẻ trong mắt người lớn thường là con nít không hiểu gì, những
suy nghĩ, quan điểm của trẻ thường bị người lớn gạt đi không quan tâm. Từ đó
khiến trẻ suy nghĩ là cần phải làm gì để khảng định bản thân mình, mà như
trên ta đã nói ở độ tuổi này trẻ rấ muốn khẳng định minhd không muốn bị coi
thường nên có thể dễ dẫn đến những hành vi sai trái. Vì vậy điều trước hết cần
làm cho trẻ là đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết cho trẻ.
Công tác xã hội với trẻ em vi phạm pháp luật có thể theo hai hướng:
CTXH với cá nhân hoặc CTXH với nhóm. Ở đây chúng tôi xin đi sâu phân
tích công tác xã hội với cá nhân.
6.3.2. Công tác xã hội với cá nhân
Ta xác định CTXH với cá nhân nhằm tìm ra những vấn đề của thân chủ, sớm
liệu là giúp thân chủ tự định hướng, thích nghi với xã hội và đóng góp cho xã
hội, hay nói cách khác là giúp thân chủ hoà nhập với cộng đồng.
Bước 6: Trị liệu. Thực hiện những mục tiêu mà trong kế hoạch trị liệu đã đề
ra, cần vận dụng linh hoạt dữ liệu thu được để theo dõi quá trình trị liệu đối
với trẻ, đưa các hoạt động diễn ra theo kế hoạch và huy động các nguồn lực từ
bên ngoài. Tuy nhiên cũng phải có những điều chỉnh phù hợp với những vấn
đề nảy sinh trong trong quá trình trị liệu.
Bước 7: Lượng giá. Đánh giá lại toàn bộ quá trình trợ giúp từ đó thấy được
những gì mình đã làm được và kết quả đạt được so với kế hoạch đề ra như thế
nào, do đâu mà ta chưa đạt được kết quả như kế hoạch đặt ra. Từ đó đưa ra
những định hướng trong tương lai.
IV. Tình huống cụ thể
A là là một học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở dân lập Phương Đông. Là
một học sinh khá. Em sinh ra trong một gia đình bố mẹ là công nhân viên
chức bình thường. Bố là công nhân xí nghiệp sản xuất giầy, Mẹ là nhân viên
tại một công ty nhà nước. Bố mẹ toàn đi làm cả ngày ít quan tâm đến A, chỉ
biết cho A tiền để tiêu sài. Mỗi ngày A được cho 50000 – 10000 nghìn.
Bố mẹ A dạo này thường xuyên cãi nhau, một ngày khoảng 1, 2 lần, có lần A
thấy bố đánh mẹ. Do thường xuyên phải chứng kiến cảnh cha mẹ đánh cãi
nhau nên A rất hay có tâm lý chán nản, không còn hứng thú với học tập,
Thường tụ tập bạn bè đi chơi game nên điểm học của em ngày càng thấp.
A bắt đầu tìm thế giới ảo bằng cách chơi game và kết bạn cùng một số trẻ hư
hỏng. Lúc nào chán nản thì chơi game, tập tụ, gây gổ đánh nhau. Số tiền ít ỏi
của mình không đủ cho các cuộc vui chơi nên A tìm mọi cách để xin thêm tiền
bố mẹ, khi thì đi học thêm, quỹ lớp, sinh nhật, sách vở…nhưng số tiền vẫn
không đủ. Quá túng quẫn A đã nghe theo lời bạn bè đi trộm tiền và điện thoại.
Đã nhiều lần thực hiện thành công nhưng vào một lần A và nhóm bạn tổ chức
ăn cắp xe máy và đã bị bắt. Vụ việc được báo cho gia đình còn A phải vào trại
giáo dưỡng 4 tháng. Trong trại giáo dưỡng A tỏ ra chán nản và có ý định tự
tử. Sau khi nhận được thông tin thì ban quản lí trại giáo dưỡng đã mời chúng
Bước 5: Kế hoạch trị liệu. Mục tiêu đặt ra là giúp A có suy nghĩ tích cực hơn,
tham gia cải tạo tốt hơn, ổn định tâm lí cho A để A nhanh chóng hoà nhập
cộng đồng và tiếp tục đi học.
Trong khi tri liệu chúng tôi có áp dụng các lý thuyết cụ thể là:
+ Lý thuyết của Frued: Lý thuyết tự vệ phòng vệ, sở dĩ những hàng dộng sai
trái đó của A là hoàn toàn do tâm lý phòng vệ. Khi đứng trước nhưng mâu
thuẫn của gia đình A không giải quyết được gì giúp cho cha mẹ hòa thuận,
cảm thấy cha mẹ không yêu thương mình, coi mình là gánh nặng của cha mẹ
nên A đành tìm đến những cách thức giải trí như chơi game, đua xe tụ tập,
thậm chí là trộm cướp tài sản khi không được bố mẹ cho tiền. Như vậy nhân
viên công tác xã hội cần xác định rõ bản chất của A không xấu mà do hoàn
cảnh gia đình, ý thức được vấn đề này nhân viên CTXH cần giúp thân chủ tìm
lại được bản chất chân thật của con người mình. Gíup cho A hiểu hành động
sai trái như vậy sẽ không giải quyết được vấn đề mà chỉ làm hại bản thân
mình mà thôi.
+ Lý thuyết hệ thống: Thông qua các hệ thống mối quan hệ của A để tìm hiểu
kĩ càng cũng như thông qua đó giúp A trở lại là một học sinh giỏi một đứa con
ngoan. Đó là hệ thống gia đình cha mẹ, cần thay đổi thái độ, quan tâm hơn tới
A. Hệ thống nhà trường cần động viên khuyến khích A tham gia vào các hoạt
động của đoàn trường, tổ chức các đôi bạn cùng tiến từ đó tìm ra người học tốt
giúp A tìm lại được niềm hăng say học tập. Hệ thống xã hội, mà ở đây cụ thể
là các trại giáo dưỡng cần giáo dục cho A những kĩ năng sống tốt nhất để giúp
A có thể đối phố kịp thời đúng đắn với những tình huống bất ngờ có thể xảy
ra.
+ Lý thuyết trị liệu hành vi, nhận thức: Do A thiếu kĩ năng sống, thiếu sự quan
tâm chỉ bảo tạn tình của cha mẹ nên những nhận thức của A thường có xu
hướng tiêu cực sai lầm, từ đó dẫn đến những hành vi cũng sai trái với pháp
luật. Do vậy nâng cao nhận thức hành vi cho A cũng là một vấn đề thiết yếu
mà nhân viên CTXH cần làm.
Bước 6: Trị liệu.Chúng tôi sử dụng liệu pháp tâm lí học xã hội, tác động tâm
cái sai của mình để còn kịp khắc phục, sửa chữa lầm lỗi, tiếp tục hoà nhập
cộng đồng. Nhân viên CTXH cần xác định rõ những nguồn lực vốn có của
thân chủ cũng như những thiếu thốn cần bổ sung khắc phục ở thân chủ để có
sự điều trị hợp lý nhất. Bên cạnh đó là những hệ thống xã hội được khai thác
triệt để nhất nhằm tác động vào thân chủ. Tuy nhiên không phải trẻ em vi
phạm pháp luật nào cũng dễ nói chuyện và tiếp cận vì vậy đòi hỏi nhân viên
công tác xã hội phải kiên trì và có lòng vị tha.
Trẻ em là mầm non của đất nước, là thế hệ tương lai sẽ kế tục sự nghiệp của
dân tộc. Chính vì vậy, Đảng, nhà nước và nhân dân ta rất quan tâm đến công
tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Hãy tạo cho trẻ một môi trường sống
an toàn, những điều tốt đẹp, những giá trị nhân văn nuôi dưỡng thể chất, tinh
thần của thế hệ tương lai.