http://moitruong.quangtri.gov.vn/index.php?
language=vi&nv=news&op=Van-de-da-dang-sinh-hoc/Hien-trang-va-dien-
bien-suy-thoai-da-dang-sinh-hoc-53
Hiện trạng và diễn biến suy thoái đa dạng sinh học
Thứ hai - 30/05/2011 09:38
Cho đến nay chưa có những đánh giá đầy đủ về hiện trạng đa dạng sinh học ở
tỉnh Quảng Trị và hiển nhiên đây là một công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều
công sức, thời gian và kinh phí. Do thiếu nhiều số liệu về đa dạng sinh học
theo thời gian, nên rất khó đánh giá về diễn biến và suy thoái đa dạng sinh
học.
Quảng Trị nằm trong vùng Bắc Trung Bộ với địa hình phức tạp, đã tạo nên các hệ
sinh thái phong phú từ vùng đồng bằng, ven biển đến các vùng gò đồi - núi đá. Các
hệ sinh thái phong phú là cơ sở hình thành tính đa dạng sinh học cao. Dưới đây chỉ
đề cập đến hiện trạng rừng và đa dạng sinh học.
1. Hệ thực vật [4]
Hệ thực vật ở Quảng Trị bao gồm các kiểu thảm thực vật trên đất địa đới, phi địa
đới và nội địa đới.
i) Các kiểu thảm thực vật trên đất địa đới:
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi phân bố chủ yếu ở
tây bắc Hướng Hoá, thường gặp ở độ cao 500 - 600 m và che phủ phần lớn diện
tích đất rừng trong khu vực. Kiểu rừng này thường có cấu trúc 3 tầng: tầng ưu thế
sinh thái chiều cao trên 20 m với tổ thành các loài Sao Hải Nam (Hopea
ainanensis), Sao Piere (H. pierrei), Sâng (Pometia pierrei), Đa (Ficus callosa),
Sấu (Dracomelum duperreanum), Hoàng đàn giả (Dacrydium pierrei), Trai
(Garcinia fagraeoides), Nhội (Bischofia javanica) …
+ Kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng á nhiệt đới núi trung bình phân bố chủ
yếu ở độ cao 700 - 1.500 m như ở dãy núi trung bình Động Voi Mẹp, trên khối núi
thuộc động A Pông ở KBTTN Đăkrông. Kiểu rừng này ít bị tác động, còn giữ được
nhiều tính chất nguyên sinh, tán rừng chia 4 tầng. Độ tán che dao động trong
khoảng 0,7 - 0,8; có những chỗ đạt tới 0,9. Tổ thành thực vật chủ yếu là các loài
cây lá rộng thuộc các họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thầu dầu
ii)Các kiểu thảm thực vật trên đất phi địa đới:
+ Rừng trên các đụn cát:Rừng còn trên các đụn cát tương đối ổn định với thành
phần thực vật thường gặp như Mại liễu (Miliusa bangoiensis), Duối ô rô
(Taxatrophis illicifolia), Me rừng (Phyllanthus emblica), Dé (Breynia
baudounii, B. coreaceae), Bồ ngót lông (Sauropus villosus), Kim mộc (Fluggea
virosa), Cò ke lông (Grewia hirsuta), Cóc kèn (Derris brevipes), Trắc biến màu
(Dalbergia discolor)…
+ Trảng cây bụi thứ sinh trên các đụn cát:Đây là trạng thái thảm thực vật cây bụi
thứ sinh hình thành sau khi rừng trên các đụn cát bị khai thác làm đất canh tác và
cả sau khi khai thác gỗ. So với rừng thì trảng cây bụi có diện tích lớn hơn nhiều và
phân bố rộng hơn với thành phần loài cây nghèo nàn hơn. Trên các cồn cát sát
biển, sườn phía biển luôn có gió mạnh, thường gặp các loài cây bụi nhỏ, thân dai,
thường có gai mọc kín.
+ Trảng cỏ thứ sinh:Trên các đụn cát ở Quảng Trị thường có các trảng cỏ cao 0,1 -
0,2 m phân bố thành các mảng, thay thế trảng cây bụi và rừng bị mất đi trong quá
trình khai thác. Nơi kế tiếp với bãi triều thường gặp phổ biến trảng cỏ cao rất đặc
trưng, đó là quần xã Cỏ lông chông (Spinifex littoreus).
iii) Các kiểu thảm thực vật trên đất nội địa đới:
+ Trảng cỏ chịu ngập thứ sinh và các quần xã thủy sinh ở đầm, ao, hồ phân bố
trên các địa hình bằng phẳng và trũng thấp ở đồng bằng hay ở các thung lũng núi
tồn tại các khu vực ẩm, lầy với mức độ ngập nước khác nhau. Nơi ngập nông có
thể cạn một thời gian ngắn; vào mùa khô thường có các trảng cỏ cao 0,5 - 1 m với
độ che phủ khoảng 70 - 80%.
+ Rừng ngập mặn:Do không có hệ thống đảo che bên ngoài, nên sóng tác động
trực tiếp vào bờ đã hạn chế sự phát triển của rừng ngập mặn ở các tỉnh Bắc Trung
Bộ nói chung và vùng Quảng Trị nói riêng. Rừng chỉ phát triển ở sâu trong cửa
sông và trong các vũng vịnh khuất sóng.
+ Trảng cỏ, trảng cây bụi trên bãi cát biển và các bãi đá ven biển:Kiểu thảm thực
vật này thường gặp ở các bãi cát ngập triều khá phổ biến ở các cung lõm của bờ
biển. Do bị sóng tác động mạnh và thường xuyên trên bãi triều hầu như không có
stipulata), Chò chỉ (P. stellata), Táu mật (V. odorata), Mun (D. mun)
Hệ thực vật Quảng Trị còn có nhiều loài cây thuốc quí với trữ lượng lớn.
Đã thống kê được có khoảng trên 800 loài thực vật có thể dùng làm thuốc, trong đó
có khoảng trên 200 đang được sử dụng rộng rãi trong nhân dân để chữa những
bệnh thông thường. Đặc biệt vùng này có một số loài cây thuốc quý, có giá trị sử
dụng cao, đã và đang được khai thác đem lại nguồn lợi đáng kể như Linh chi (G.
Lucidum); Trầm hương(A. Crassna), Quế (Cinnamomum spp ).
Về thực vật quý hiếm, hệ thực vật vùng Quảng Trị có 51 loài quý hiếm đã
được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Riêng ở KBTTN Đakrông có 25 loài thực vật
được ghi nhận trong sách Đỏ Việt Nam (SĐVN, 2000), danh lục Đỏ Thế giới
(IUCN, 2003) và Nghị định 48/2002/NĐ-CP với các tình trạng khác nhau: 6 loài
đặc hữu; 18 loài có trong sách Đỏ Việt Nam (SĐVN, 2000) với 1 loài đang nguy
cấp (E), 5 loài sắp bị nguy cấp (V), 3 loài hiếm (R), 2 loài bị đe dọa (T), 7 loài
chưa biết đủ thông tin (K); 7 loài có trong Nghị định 48/2002/NĐ-CP với 1 loài
thuộc nhóm IA (Thực vật hoang dã) của nhóm Nghiêm cấm khai thác sử dụng
(IA), 6 loài thuộc nhóm IIA (Thực vật rừng của nhóm Hạn chế khai thác và sử
dụng (IIB) [14].
2. Hệ động vật [13]
Thống kê cho thấy thành phần loài các nhóm động vật ở Quảng Trị rất
phong phú, đa dạng và chiếm tỷ lệ khá lớn (từ 47 - 100%) so với số loài đã biết ở
Bắc Trường Sơn [4]. Thành phần loài động vật và các loài động vật quý hiếm ở
tỉnh Quảng Trị được nêu ở Bảng 7.1 và 7.2.
Bảng 7.1. Thành phần loài động vật ở tỉnh Quảng Trị
Lớp động vật Số bộ Số họ Số loài
Thú 10 25 52
Chim 14 35 137
Bò sát 3 14 38
Ếch nhái 1 4 19
Cộng 28 78 246
4 Khỉ mốc M. assamensis
5 Khỉ mặt đỏ M. arctoides
6 Khỉ đuôi lợn M. nemestrina
7 Voọc Hà Tĩnh Trachypithecus f. hatinhensis
8 Voọc đen Tr. f. ebenus
9 Voọc cha vá Pygathrix nemaeus
10 Vượn đen siki Hylobates concolor siki
11 Vượn đen má hung H. c. Gabriellae.
Nguồn: [4]
Nhóm thú móng guốc ngón chẵn (Bộ móng guốc ngón chẵn - Artiodactyla) được
ghi nhận có 8 loài (Bảng 7.4), chiếm 44,4% tổng số loài móng guốc chẵn ở Việt
Nam và 72,7% số loài có ở Bắc Trung Bộ. Trong đó, có 5 loài được ghi trong Sách
Đỏ Việt Nam (năm 2000), đáng chú ý là hai loài: Sao la, Bò tót. ỞQuảng Trị cũng
chỉ còn một quần thể dưới 10 cá thể ở khu vực Đồi Bò xã Ba Lòng, xã Hải Phúc.
Sao la là loài thú mới được phát hiện năm 1993 ở Đakrông.
Bảng 7.4.Các loài thú móng guốc ngón chẵn ở Quảng Trị [4]
STT Tên phổ thông Tên khoa học
1 Lợn rừng Sus scrofa
2 Cheo Nam dương Tragulus javanicus
3 Nai Cervus unicolor
4 Hoãng Muntiacus muntjak
5 Mang lớn Megamuntiacus vuquangensis
6 Bò tót Bos gaurus
7 Sơn dương Capricornis sumatraensis
8 Sao la Pseudoryx nghetinhensis
Kết quả điều tra năm 2008 của Võ Văn Phú và cộng sự [14] cho thấy: KBTTN
Đakrông có 493 loài động vật có xương sống, trong đó có 121 loài ghi trong sách
Đỏ Việt Nam (phần động vật, 2000), danh lục Đỏ Thế giới (IUCN List, 2003) và
Tình trạng quý
hiếm
121 loài 33 49 31 8
Nguồn: V.V. Phú (2008) [14]
(*) EN: Loài nguy cấp, VU: loài sắp nguy cấp, LR: loài ít nguy cấp, NT: loài gần
bị đe dọa,
Nhóm IB: nghiêm cấm khai thác và sử dụng, Nhóm IIB: Hạn chế khai thác và
sử dụng
(**) ÊN-BS: Ếch nhái – bò sát
Đa dạng sinh học trên cạn ở Đảo Cồn Cỏ:
Kết quả điều tra năm 2008 của Võ Văn Phú về đa dạng sinh học trên cạn ở Đảo
Cồn Cỏ [14] đã xác định được 273 loài và 2 thứ thuộc 218 chi của 83 họ trong 4
ngành thực vật bậc cao có mạch: Thông đất (Lycopodiophyta), Dương xỉ
(Polypodiophyta), Thông (Pinophyta) và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta). Danh
lục thành phần loài thực vật bậc cao có mạch được săp xếp theo Brummit (1992).
Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) có số họ, chi, loài phong phú và ưu thế
nhất: 76 họ, 207 chi, và 264 loài. Tiếp đến là các ngành Dương xỉ
(Polypodiophyta) với 5 họ, 8 chi, 8 loài; ngành Thông (Pinophyta) có 1 họ, 2 chi, 2
loài và ngành Thông đất (Lycopodiophyta) có số họ, số chi và số loài thấp nhất 1
họ, 1 chi, 1 loài.
Về động vật, đã xác định được 74 loài động vật có xương sống, thuộc 14 bộ, 60
giống, 37 họ. Trong đó, lớp Chim (Aves) có 49 loài thuộc 23 họ, 36 giống và 9 bộ,
là lớp có các bậc taxon đa dạng nhất; lớp Thú (Mammalia) có 7 loài, 4 họ, 7 giống
và 3 bộ; lớp Bò sát (Reptilia) có 13 loài 7 họ, 13 giống và 1 bộ; lớp Ếch nhái
(Amphibia) có 5 loài, 3 họ , 4 giống và 1 bộ [14].
Đa dạng sinh học biển:
Bên cạnh đa dạng sinh học của các hệ sinh thái trên cạn, Quảng Trị còn có đa dạng
sinh học biển rất phong phú. Vùng lãnh hải Quảng Trị khoảng 8.400 km
2
với ngư