LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh thị trường hiện nay, hàng hóa, dịch vụ đa dạng, phong phú, người
tiêu dùng gặp khó khăn trong việc phân biệt, đánh giá sản phẩm. Mỗi doanh nghiệp
đều cố gắng tạo một phong cách, một hình ảnh, một ấn tượng, một uy tín riêng cho
sản phẩm của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình ảnh riêng, dễ đi vào nhận
thức của khách hàng, nói cách khác, đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng.
“Doanh nghiệp cần tập hợp các hoạt động nhằm tạo cho sản phẩm và thương
hiệu sản phẩm một vị trí xác định trên thị trường” (P. Kotler)
Các doanh nghiệp định vị và quảng cáo thương hiệu bằng nhiều phương pháp:
thông qua quảng cáo, PR, giá cả hoặc bằng chính sản phẩm, với mục tiêu chung là
làm sao đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng. Trong đó, hoạt động PR có tác
động tích cực trong việc quảng bá thương hiệu với các chương trình hành động
được thiết kế và hoạch định tỉ mỉ, cẩn thận nhằm gặt hái được sự thừa nhận của
công chúng và thông tin đến họ những họat động và mục tiêu của doanh nghiệp.
Thực tế là đa số các DN Việt Nam hiện nay chỉ quan tâm tới sản xuất và tiêu thụ
mà chưa quan tâm đến việc tìm hiểu thị hiếu, điều tra nghiên cứu thị trường, xây
dựng một chiến lược PR quảng bá thương hiệu bài bản nhằm tìm một chỗ đứng cho
thương hiệu của mình trên thị trường. Công ty Gas Petrolimex cũng nằm trong số
đó. Trong khi đó chương trình PR của công ty còn hạn chế chưa có kế hoạch rõ
ràng, ngân sách dành cho PR khá hạn hẹp, thường lồng ghép chứ chưa tách biệt rõ
ràng. Do đó việc đẩy mạnh hoạt động PR để tạo niềm tin ở khách hàng và giành
lấy thị phần là rất cần thiết. Vì những lý do đó nên em đã chọn đề tài “Biện pháp
nâng cao hoạt động quan hệ công chúng tại Công ty TNHH Gas Petrolimex Đà
Nẵng”
Phần I: Cơ sở lý luận về Quan hệ công chúng
Phần II: Tình hình sản xuất kinh doanh và thực trạng hoạt động Quan hệ
công chúng tại Công Ty Gas Petrolimex Đà Nẵng.
Phần III: Biện pháp nâng cao hoạt động quan hệ công chúng tại Công Ty Gas
Petrolimex Đà Nẵng.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của các anh, chị tại phòng kinh
V.Xây dựng ngân sách quan hệ công chúng 17
1.Phương pháp căn cứ vào khả năng ngân sách dành cho quan hệ công chúng
17
2.Phương pháp tính tỉ lệ phần trăm theo doanh thu 17
3.Phương pháp cân bằng cạnh tranh 17
4.Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ 17
PHẦN II: 19
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG
TY 19
A. Tình hình kinh doanh tại công ty gas Petrolimex Đà Nẵng 19
I. Tổng quan về công ty 19
1. Quá trình hình thành và phát triển công ty: 19
2. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của công ty: 21
2.1 Chức năng: 21
2.2 Quyền hạn: 21
2.3 Nhiệm vụ : 21
3.Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của công ty và các phòng ban 22
3.1. Cơ cấu tổ chức 22
3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban 23
II. Nguồn lực kinh doanh công ty 26
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
2
3. Yếu tố nguồn lực tài chính: 33
4. Tình hình thị trường: 36
4.1. Tình hình nhập hàng của công ty : 36
4.2. Tình hình tiêu thụ gas của khách hàng theo mục đích sử dụng sản phẩm:
37
4.3. Tình hình tiêu thụ sản phẩm của khách hàng theo các phương thức bán:39
5.Các chính sách Marketing: 41
2. Phân tích các nhóm công chúng mục tiêu của chương trình 64
2.1. Người tiêu dùng 65
2.2. Giới báo chí 65
2.3 Giới công quyền 66
3. Tăng cường quan hệ công chúng trong hoạt động hàng ngày của công ty. 66
4. Tổ chức sự kiện: 67
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
3
5. Lựa chọn các phương tiện truyền thông 69
5.1. Quan hệ báo chí. 69
5.2. Brochure 71
6. Website 72
7.1. Tài trợ cho chương trình sử dụng Gas an toàn 74
7.2 Tài trợ để thực hiện một chương trình tuyên truyền về PCCC 76
8. Thực hiện chương trình 77
9. Ngân sách 79
10. Hoạch định ngân sách Quan hệ công chúng: 81
KẾT LUẬN 82
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
4
PHẦN I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ CÔNG CHÚNG
I. Các khái niệm
1. Khái niệm về quan hệ công chúng
Quan hệ công chúng là một chức năng quản trị mà nhận dạng, thiết lập và duy
trì các mối quan hệ có lợi đôi bên giữa một tổ chức và các nhóm công chúng khác
nhau. Thuật ngữ “quan hệ công chúng” được sử dụng theo nhiều cách mà cô đọng
lại theo một định nghĩa riêng biệt có thể không bao giờ làm thỏa mãn tất cả mọi
văn hóa của một tổ chức và cách mà tổ chức nhìn ra thế giới. Có 4 mô hình của
quan hệ công chúng đã được thực thi trong lịch sử quan hệ công chúng và hiện nó
vẫn còn được áp dụng. Ba trong số bốn mô hình này không xây dựng mối quan hệ
có hiệu quả như là cách thứ tư
Mô hình “người phụ trách quảng cáo” mô tả các chương trình quan hệ công
chúng với mục đích duy nhất của nó là chiếm được cảm tình của công chúng dành
cho tổ chức trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Mô hình “thông tin công chúng” cũng tương tự như cách thứ nhất, bởi vì nó
cũng là mô hình một chiều vì nó xem rằng quan hệ công chúng chỉ như là sự phổ
biến thông tin. Với mô hình này, một tổ chức sẽ sử dụng “những nhà báo địa
phương “ những người hành nghề quan hệ công chúng, những người hành động cứ
như là họ là những nhà báo để gieo rắc các thông tin khách quan vừa phải bởi các
phương tiện truyền thông đại chúng và các phương tiện truyền thông được kiểm
soát chẳng hạn như báo chí, Brochure và email trực tiếp
Cả hai mô hình trên đều là mô hình một chiều của quan hệ công chúng, chúng mô
tả chương trình truyền thông không dựa trên sự nghiên cứu và hoạch định chiến lược.
Chúng cũng là mô hình không đối xứng hay không cân bằng, chúng cố gắng thay đổi
cách đối xử của công chúng nhưng không phải với tổ chức. Nó cố gắng tạo ra cái nhìn
tốt về tổ chức thông qua việc tuyên truyền hoặc gieo rắc các thông tin có ích.
Những người đang thực hành việc quan hệ công chúng mang một cách tiếp cận
chuyên nghiệp dựa vào các chương trình truyền thông của họ trong những mô hình
phức tạp và có hiệu quả hơn. Mô hình “bất đối xứng hai chiều” sử dụng việc
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
6
nghiên cứu để trình bày các thông điệp mà chúng có vẻ phù hợp để thuyết phục
công chúng mục tiêu để họ hành xử như mong muốn của tổ chức.Quan hệ công
chúng bất đối xứng hai chiều là sự tin tưởng có tính khoa học mà sử dụng các dịch
vụ của các hãng nghiên cứu để hoạch định thông điệp. Bởi vì nó bao gồm việc
nghiên cứu dựa trên thái độ của công chúng và nó hiệu quả hơn hai cách trên
dục và tạo sự hiểu biết thông qua kiến thức”
Quảng cáo có khuynh hướng tập trung vào khách hàng còn quan hệ công chúng tập
trung vào mọi đối tượng công chúng có thể quan trọng cho sự thành công của tổ chức.
2. Phân biệt quan hệ công chúng và khuyến mãi
Khuyến mãi bao gồm các chiến lược ngắn hạn, thường ngay tại thời điểm bán và
cả trong Marketing trực tiếp, để giới thiệu hay làm mới lại sản phẩm, hoặc tăng khối
lượng hàng bán ra.
Quan hệ công chúng đôi khi bị nhầm lẫn với khuyến mãi. Điều này cũng có thể do
khuyến mãi cũng giúp nguời sản xuất và khách hàng gần nhau hơn. Nó là một hình thức
tiếp thị mang tính cá nhân nhiều hơn cách quảng cáo truyền thống trên phương tiện
truyền thông nhưng đồng thời nó cũng có những khía cạnh quan hệ công chúng
3. Phân biệt quan hệ công chúng và tuyên truyền
Tuyên truyền là một cách vận động để đạt được sự ủng hộ cho một ý kiến, hành
vi hay niềm tin.Tính chất của tuyên truyền là tập trung vào những vấn đề tình cảm
và lý trí. Đó là những đề tài mang tính lý trí, tri thức hay tình cảm như vấn đề chính
trị hay tôn giáo, những đề tài thường gây tranh cãi.
Chiến dịch tuyên truyền có thể được sử dụng với nhiều lý do khác nhau. Như
vậy, tuyên truyền giống như quảng cáo, có khuynh hướng thiên lệch theo từng đề
tài trong khi đó để thực hiện quan hệ công chúng tốt thì nên trình bày sự thật, không
thiên lệch hay không có sự tán dương. Nếu không, một bài báo sẽ bị nhà biên tập
bác bỏ vì nó là “một lời tâng bốc” được ngụy trang, có chủ đích quảng cáo hay
tuyên truyền. Đôi khi các nhà buôn bán sĩ và lẽ gọi quảng cáo là “tuyên truyền
thương mại”, nhưng đây là cách dùng từ sai lệch
Tuyên truyền cũng là một hình thức giao tiếp mà người ta thường lầm lẫn với
quan hệ công chúng, nhưng cả hai rất khác biệt bởi vì để thành công trong quan hệ
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
8
công chúng phải đáng tin cậy, trong khi tuyên truyền có thể gây ra sự nghi ngờ hay
ít nhất là sự bất đồng.
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
9
Bên cạnh đó nếu không xác định nhóm công chúng có thể gây ra những hậu quả sau
Công sức và ngân sách sẽ bị phân bổ không hợp lý khi cố gắng vươn
tới quá nhiều nhóm công chúng
Gởi cùng một thông điệp đến những nhóm người khác nhau mà
không xét đến tình chất phù hợp với từng nhóm
Công việc sẽ không được tính toán phân chia hợp lý để có thể sử dụng
thời gian, nguyên liệu và thiết bị một cách hiệu quả và kinh tế nhất
Không đạt được những mục tiêu đề ra
Ban lãnh đạo hay khách hàng sử dụng dịch vụ quan hệ công chúng sẽ
thất vọng nếu kết quả không tốt và sẽ cho rằng quan hệ công chúng
không có kết quả cụ thể.
IV. Mô hình hoạch định quan hệ công chúng
Dưới đây là mô hình kế hoạch quan hệ công chúng được đông đảo các chuyên
gia PR chấp nhận.
1. Đánh giá tình hình
Đây là kế hoạch dựa trên những mục tiêu, nhưng mức độ thành công của nó phụ
thuộc vào kỹ năng và hiệu suất được áp dụng. Điều quan trọng là phải nắm bắt tình
hình, chẳng hạn bằng cách đặt câu hỏi: Chúng ta đang ở đâu? Công chúng hiểu
không chính xác những vấn đề nào? Trước khi một chương trình PR được đặt ra,
cần phải làm rõ điểm khởi đầu của nó. Công chúng nhìn nhận như thế nào về
chương trình của chúng ta? Nếu chỉ dự đoán hay giả định hoặc hành động theo cảm
tính và bản năng thì chúng ta có thể mắc sai lầm và chương trình PR sẽ trở nên vô
dụng.
Tiến trình chuyển đổi những tình huống cơ bản nhờ hoạt động PR
Tình huống tiêu cực → Tình huống tích cực
Đối nghịch → Thông cảm
Thành kiến → Chấp nhận
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
11
Để có thể đánh giá tình hình chính xác và hiệu quả cần phải tìm hiểu cẩn thận. Việc
tìm hiểu có thể được thực hiện bằng một cuộc nghiên cứu những thông tin hay số liệu
thống kê sẵn có, hoặc phải thực hiện một cuộc nghiên cứu hoàn tòan mới. Một phương
pháp thường được sử dụng cho mục đích quan hệ công chúng là thăm dò dư luận. Sau
khi đã đánh giá tình hình, chúng ta có thể nhận biết vấn đề và đưa ra giải pháp.
Các phương pháp giúp đánh giá tình hình
o Thăm dò ý kiến thái độ
o Xem xét các bài báo viết về tổ chức, hay những phóng sư truyền hình
o Các báo cáo doanh số và dự báo khuynh hướng doanh số trong tương lai
o Tình hình cạnh tranh và hiệu quả của việc nhập khẩu
o Giá cổ phiếu, đánh giá về thị trường chứng khoán, cổ tức và bảng cân đối
o Mối quan hệ lao động-những cuộc đình công và thỏa thuận về lương bổng
o Tình hình thời tiết và ảnh hưởng của nó
o Sự than phiền của khách hàng, tình hình sản phẩm, hay báo cáo về việc
thử nghiệm
o Thảo luận với đội ngũ phân phối và bán hàng
o Giá cả và ảnh hưởng của việc thay đổi giá
o Những yếu tố ảnh hưởng của thị trường : kinh tế, xã hội, chính trị.
o Thái độ của những người có ý kiến ảnh hưởng đến dư luận
3. Xác định mục tiêu
Ở giai đoạn lập kế hoạch, việc nêu ra các mục tiêu rõ ràng là rất cần thiết. Nó
gần giống như việc chúng ta xem xét tất cả các nơi nghỉ mát trước khi đi, bởi vì
chúng ta không thể đi tất cả các nơi và tiền bạc cũng như thời gian chỉ có hạn. Hoạt
động PR cũng cần sự cân nhắc như thế. Số lượng mục tiêu mà chúng ta có thể thực
hiện phụ thuộc vào ngân sách dành cho PR.
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
12
công ty, những thành công và sứ mạng của họ. Đây có thể được xem là một công cụ
sống còn trong toàn bộ hồ sơ mà các công ty cần gửi tới khách hàng.
Brochure không cần phải phức tạp. Một vài điểm đơn giản, trình bày rõ ràng và
minh hoạ thể hiện một cách nghệ thuật sẽ là một cách để bạn đi xa trên con đường
đưa thông điệp mà bạn muốn đến với công chúng. Ngắn gọn chính là bí quyết. Một
bức ảnh đẹp về một dự án thành công hoặc những bức ảnh về những nhân vật then
chốt có thể truyền thông điệp của bạn một cách nhanh chóng mà mạnh mẽ hơn rất
nhiều so với một bài viết dài.
5.4. Web
Trong kỷ nguyên thương mại điện tử, sự sinh tồn của Công ty phụ thuộc rất lớn
vào việc trang web mà bạn thiết lập ra có hiệu quả và thu hút được nhiều khách
hàng hay không.
5.5. Tài trợ
Tài trợ là hỗ trợ tài chính cho những đề tài đáng giá, các sự kiện hay mục tiêu
quan trọng và cá nhân tiêu biểu. Ngày nay có 3 hình thức tài trợ cho 3 mục đích
khác nhau là quảng cáo, tiếp thị và PR. Hình thức thứ nhất là một dạng quảng cáo,
trong đó công ty tài trợ cho một chương trình nào đó trên truyền hình hay đài phát
thanh sẽ có thông điệp quảng cáo của mình phát kèm, hình thức tài trợ thứ hai là
một dạng tài trợ độc quyền trong đó nhà tài trợ có uy tín sẽ tài trợ cho toàn bộ
chương trình. Việc đóng góp tài chính của công ty sẽ được nêu trong phần ghi nhận
công lao của các tổ chức hay cá nhân ở phần giới thiệu chú ý hay kết thúc chương
trình. Và như vậy thu hút được sự chú ý và tin tưởng của công chúng. Hình thức tài
trợ thứ ba mang tính thương mại hiện đại. Một chương trình thể thao, triển lãm nghệ
thuận, học bổng hay một cá nhân tiêu biểu… đều có thể được hỗ trợ về tài chính.
Những giá trị PR chính trong tài trợ là gia tăng sự nhận biết về một công ty hay
sản phẩm của nó, một tiến trình làm cho quen thuộc qua những bài đưa tin lặp lại
trên các phương tiện truyền thông, thể hiện trách nhiệm xã hội của công ty và như
vậy tạo sự thừa nhận cũng như sự tín nhiệm từ phía khách hàng, định vị sản phẩm
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
14
nhiều trong nguồn ngân sách
o Tổng chi phí văn phòng : Phần lớn là khoản chi phí tương đối cố định như
tiền thuê văn phòng, thuế, bảo hiểm, điện nước và cả những chi phí khả
biến như điện thoại và chi phí giao dịch khách hàng
o Nguyên vật liệu : Gồm tất cả những thứ như văn phòng phẩm, in ấn, phương
tiện hỗ trợ hình ảnh, các thiết bị dùng trong triển lãm, hình ảnh, băng …
o Công tác phí : gồm những chi phí bằng tiền mặt như vé tàu xe, khách sạn, chi
phí tiếp khách hay những phí tổn đặc biệt để tổ chức các sự kiện PR như tiệc
chiêu đãi, thuê hệ thống âm thanh, đầu máy, TV, bảng thông báo, xe cộ, ghế,
mặt bằng, dù…
Nguồn ngân sách sẽ được chia nhỏ thành nhiều phần, và chỉ có tổng số của nó
thể hiện trong ngân sách của chương trình. Tuy nhiên các chi phí về lễ khai trương,
bản báo cáo hàng năm hay tạp chí nội bộ cần có bản kê khai chi tiết riêng rẻ.
Dựa vào những chi phí cụ thể, ban lãnh đạo có thể thấy rằng hoạt động PR có
được thực hiện một cách có tổ chức hay không, chi phí PR có thể đối chiếu với giá
trị công việc, thành tích và việc thêm bớt hay điều chỉnh ngân sách có thể được thực
hiện trước khi bắt đầu công việc. Hơn nữa việc dự thảo ngân sách như thế sẽ cho
thấy với nguồn tài nguyên và nhân lực thực có, việc gì có thể thực hiện và việc gì
không thể. Khía cạnh giờ làm việc cũng rất quan trọng đối với cả dịch vụ tư vấn và
phòng PR nội bộ của công ty. Lý luận trên có thể bị mâu thuẫn nếu ban lãnh đạo có
tư tưởng là thuê một người quản lý PR thì người đó phải làm được bất kì việc gì bất
kể đến khối lượng công việc ra sao. Điều này sẽ dẫn đến việc người quản lý PR
cùng một lúc phải làm quá nhiều công việc khác nhau và không thể hoàn thành tốt
công việc nào cả. Khi dự thảo ngân sách chúng ta sẽ sắp xếp mức độ ưu tiên cho
từng công việc và xem xét những giới hạn để có thể đạt hiệu quả và thu lợi. Khi đó
sẽ hoàn tòan khả thi để đánh giá một cách công bằng kết quả đạt được với mục tiêu
và ngân sách đã đề ra cho phép phát hiện những điểm có thể mà trên đó cần phải
thông tin giao tiếp.
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
16
vụ cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu rồi ước tính chi phí để thực hiện
nhiệm vụ đó. Tổng các chi phí này là ngân sách dự toán cho quan hệ công chúng.
• Xác định chỉ tiêu thị phần.
• Xác định số phần trăm thị trường mà việc quan hệ công
chúng cần đạt tới.
• Xác định phần trăm khách hàng tiềm năng biết đến cần
thuyết phục dùng thử nhãn hiệu.
• Xác định ấn tượng công chúng tính trên phần trăm số
người dùng thử.
• Xác định số điểm chỉ số tổng hợp cần đạt được. Một điểm
chỉ số tổng hợp là một lần tiếp xúc trên % công chúng mục tiêu.
• Xác định ngân sách quan hệ công chúng cần thiết căn cứ vào chi phí bình quân
cho một điểm chỉ số tổng hợp.
Phương pháp này có ưu điểm là đòi hỏi ban lãnh đạo phải trình bày rõ ràng những
giả thiết với quan hệ giữa tổng chi phí, mức độ tiếp xúc, tỷ lệ dùng thử và mức sử
dụng thường xuyên.
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
18
PHẦN II:
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
A. Tình hình kinh doanh tại công ty gas Petrolimex Đà Nẵng.
I. Tổng quan về công ty.
1. Quá trình hình thành và phát triển công ty:
Ngày 25/03/1998 Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam ra quyết định số 134/QĐ-
XD thành lập xí nghiệp Gas Đà Nẵng trực thuộc Công ty xăng dầu khu vực V tại
Miền Trung.
Qua quá trình phát triển ngày 11/01/1999 Hội đồng quản trị Tổng Công ty xăng
dầu Việt Nam ra quyết định số 01/QĐ-HĐQT thành lập Chi nhánh Gas Đà Nẵng
của mình, từ khi thành lập cho đến nay, công ty đã đi vào hoạt động một cách hiệu
quả. Doanh thu và lợi nhuận đều tăng qua các năm. Công ty ngày càng phát triển
vững mạnh. Và được thể hiện qua các năm 2005, 2006, 2007 và 2008 ở bảng sau:
Đơn vị
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Tổng nguồn vốn Triệu đồng 44.965 53.691 61.473 71.241
Tổng lao động Người 96 94 96 100
Sản lượng Tấn 16441 18515 19686 20277
Doanh thu Triệu đồng 101.119 130.000 160.200 192.240
Lợi nhuận ròng Triệu đồng 2.519 3.816 4.154 4.840
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
20
Đóng góp ngân sách
nhà nước
Triệu đồng 1.185 1.484 1.616 1.882
Các chỉ tiêu tổng nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận ròng của công ty từ năm 2005
đến năm 2008 đều tăng lên qua các năm. Và công ty luôn tập trung nổ lực vào các
hoạt động kinh doanh của mình để ngày càng phát triển lớn mạnh hơn trong tương
lai.
2. Chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của công ty:
2.1 Chức năng:
Chức năng của công ty Gas Petrolimex Đà Nẵng là bán buôn, bán lẻ mặt hàng
3.1. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức chi nhánh bao gồm:
- Ban Giám đốc ( 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc).
- Bốn phòng chuyên môn, nghiệp vụ: phòng tổ chức hành chính, phòng kinh
doanh, phòng kế toán - tài chính, phòng quản lý kĩ thuật.
- Các đơn vị hạch toán báo cáo sổ sách: kho, trạm, cửa hàng.
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
22
BAN GĐ
P.TCHC P.KD P.QLKTP.KT-TC
CỬA HÀNGKHO
CH
4
CH
1
CH
3
CH
2
Quan hệ trực tuyến.
Quan hệ chức năng.
( Sơ đồ cơ cấu tổ chức.)
Chi nhánh hoạt động theo mô hình trực tuyến chức năng; với nguyên tắc tập
trung dân chủ, quyền lực tập trung chủ yếu vào ban lãnh đạo. Trong tổ chức, tầm
hạn quản trị hẹp. Điều đó thuận lợi trong việc quản lý, kiểm tra và giám sát. Tuy
nhiên mức độ phân quyền ít.
* Mối quan hệ giữa các bộ phận trong công ty:
* Quan hệ chỉ đạo: Là mối quan hệ giữa ban giám đốc chi nhánh và các phòng
ban, giữa ban giám đốc và các kho Gas, cửa hàng.
* Phòng kinh doanh của công ty.
Chức năng: Chức năng của phòng kinh doanh là điều hành quản lý các hoạt
động kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm gas tại công ty.
Nhiệm vụ : Tham mưu giúp giám đốc công ty chỉ đạo điều hành kế hoạch xuất
nhập và kinh doanh gas, bếp gas, các thiết bị phụ kiện, công tác điều độ vận tải, tiếp
thị hàng hoá đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kinh doanh gas của công ty. Phát triển thị
trường kinh doanh gas tại công ty.
Quyền hạn: Phòng kinh doanh quyết định tiêu thụ hàng hoá, phân phối hàng
hoá và chịu trách nhiệm về công tác tiêu thụ hàng hoá, quản lý dự trữ hàng hoá để
đảm bảo an toàn nguồn hàng phục vụ thị trường.
* Phòng tài chính kế toán:
Chức năng:Thực hiện quản lý vốn một cách hiệu quả của công ty.
Nhiệm vụ : lập các kế hoạch tài chính ngắn hạn, dài hạn, tiến hành hạch toán các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh, phân tích hoạt động kinh doanh
của công ty và tham mưu tình hình về các nghiệp vụ về tài chính cho giám đốc.
SVTH: Bùi Ngọc Văn – Lớp QT06.
24
Quyền hạn: có trách nhiệm về các hoạt động liên quan đến nguồn lực tài chính
của công ty.
* Phòng tổ chức hành chính:
Chức năng: Đảm bảo công tác hành chính văn thư, cung cấp thiết bị văn phòng
cho các bộ phận trong công ty. Và các hoạt động nguồn nhân lực tại công ty.
Nhiệm vụ: tham mưu cho giám đốc trong việc tổ chức quản lý cán bộ công nhân
viên, xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ.
Quyền hạn : quyết định việc khen thưởng, kỷ luật… liên quan đến người lao
động. Và chịu trách nhiệm về chất lượng đội ngũ nhân viên viên cán bộ công ty.
* Phòng quản lý kỹ thuật:
Chức năng: Quản lý chiết Gas đảm bảo an toàn trong khâu chiết và đưa đến tay
người tiêu dùng.