I, ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý môi trường đảm bảo cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
là nhiệm vụ cần thiết đặt ra đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có
Việt Nam. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX, X của Đảng đã nhấn mạnh: “Kết hợp hài
hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng
phát triển bền vững; Tiến tới bảo đảm cho mọi người dân đô thị đều được sống
trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân
tố môi trường tự nhiên khác đạt tiêu chuẩn mức tối thiểu do Nhà nước quy định”.
Mặc dù vậy, việc quản lý môi trường, đặc biệt là quản lý môi trường đô thị còn
nhiều hạn chế: hệ thống các biện pháp quản lý chưa được xác lập đầy đủ và thực
hiện đồng bộ; Việc chấp hành các quy định về quản lý ô nhiễm môi trường của
người dân ở khu vực đô thị còn thấp. Đầu tư cho quản lý môi trường tại đô thị nói
chung còn thấp hơn so với đầu tư cho các lĩnh vực khác; Cơ chế chính sách cho
các hoạt động bảo vệ môi trường còn thiếu; Công tác nghiên cứu khoa học, ứng
dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn, công nghệ thân môi trường chưa được quan
tâm đúng mức. Từ tất cả những lý do trên đặt ra cho chúng ta bài toán làm sao để
nâng cao năng lực quản lý môi trường, nhất là môi trường đô thị Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu có được môi trường đô thị sạch đẹp, trong lành đặt ra cho
chúng ta một bài toán về công tác quản lý chất lượng môi trường đô thị. Do đó, các
công cụ quản lý môi trường cần được áp dụng một cách hợp lý để từ đó phát huy
được mặt lợi của các công cụ quản lý môi trường nhằm đảm bảo tính bền vững
giữa phát triển môi trường và phát triển kinh tế đặc biệt trong hoàn cảnh môi
trường càng ngày càng chịu áp lực phát triển kinh tế quá lớn như hiện nay.
II,NỘI DUNG
1. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Khái niệm công cụ môi trường
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp và phương tiện nhằm thực hiện
những nội dung của quản lý môi trường. Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng,
mỗi một công cụ có chức năng nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. quản lý môi
trường đòi hỏi phải phối hợp các loại công cụ nhằm đạt được một cách có hiệu quả
nhất công tác bảo vệ môi trường.
phố trực thuộc tỉnh.
Hiện nay việc phân loại các đô thị ở nước ta được tiến hành theo Nghị định số
42/2009/NĐ – CP ban hành ngày 7/5/2009. Theo Nghị định này nước ta có các loại
đô thị sau:Đô thị đặc biệt là những thành phố giữ vai trò trung tâm về kinh tế,
chính trị, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao
thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của cả nước; có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động ở khu
vực nội đô từ 90% trở lên; có cơ sở hạ tầng xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn
chỉnh; quy mô dân số nội thành từ 1,5 triệu người trở lên; có mật độ dân số nội đô
bình quân từ 15.000/km2 trở lên.
2.Tình trạng môi trường khu đô thị
- Cấp nước đô thị còn thiếu và chưa bảo đảm về chất lượng: nước được coi là
một trong những điều kiện cơ bản để đảm bảo vệ sinh môi trường đô thị. Hiện nay
thì nguồn nước cấp cho các đô thị ngày càng khan hiếm, tỷ lệ dân số được cấp
nước ở đô thị còn thấp, chất lượng nước cấp chưa đảm bảo.
Hiện nay thì tỷ lệ dân số được cấp nước máy tại đô thị đặc biệt đạt từ 85 – 90 %,
đô thị loại I, II đạt từ 60–80%, trong khi đó đô thị loại III chỉ đạt từ 40 -50 %.
Số lượng và chất lượng nước cấp còn thiếu và chưa đảm bảo. Nhiều khu vực đô thị
còn xảy ra tình trạng thiếu nước, nước chảy nhỏ giọt trong các giờ cao điểm, chất
lượng nước chưa đảm bảo, gần đây có hiện tượng nước sạch của một số nhà máy
có hàm lượng NH
4
+
vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nước bị nhiễm Asen…
gây hoang mang cho người dân.
Nhu cầu nước sạch ngày càng tăng trong khi nguồn nước sạch thì ngày một cạn
kiệt, khan hiếm đặc biệt là vào mùa khô.
- Môi trường nước đô thị nước ta đang bị ô nhiễm trầm trọng và dự báo tình
trạng này còn tiếp tục kéo dài từ 10 – 15 năm nữa, thậm chí là lâu hơn nếu chúng
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000
m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25%
lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải
sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven
các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4,
NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép; ở
thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142
cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
thuộc diện phải di dời.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng,
Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử
lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho
phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều
vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêu chuẩn cho phép.
- Hiện tại môi trường không khí đô thị của nước ta đã bị ô nhiễm nặng bởi bụi
TSP và bụi PM10, trung bình gấp 1,5 -3 lần TCCP. Ở các khu phố đang xây dựng
nồng độ bụi cao gấp 5 -7 lần TCCP. Ô nhiễm các khí độc hại như SO
2
, NO
2
, CO,
Pb, C
n
H
n
tuy không phổ biến nhưng vẫn diễn ra cục bộ ở một số khu vực đặc biệt
là tại các nút giao thông vào những giờ cao điểm.
!"#!$%&!#'(
)"#*+,#-"# ./)00120334567
Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp, 2011.
- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở các đô thị còn thấp: tính trung bình toàn quốc là
74%, vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 79,7%, Nam Trung Bộ đạt 78%, Bắc Trung
Bộ 77%, Tây Nguyên 67% và Đồng bằng sông Cửu Long đạt 65,2%.
- Tỷ lệ thu gom chất thải rắn đô thị giảm dần theo quy mô đô thị: tỷ lệ thu gom
rác thải cao nhất ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đạt trên 90%, còn tại các đô
thị loại I là 88,3%, đô thị loại II là 77,85%, đô thị loại III là 72,8% và đô thị loại IV
là 66,5%.
Như vậy còn 1lượng chất thải rắn khá lớn chưa được thu gom tại các đô thị, lượng
rác này thường bị vứt bỏ bừa bãi gây ra ô nhiễm môi trường nước, môi trường
không khí và môi trường đất. Hầu hết các loại chất thải rắn đô thị ở nước ta chưa
được phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng chất thải còn manh mún. Quá trình
xử lý chủ yếu là bằng trôn lấp tại các bãi chôn lộ thiên không đúng kỹ thuật vệ
sinh.
*Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đô thị:
+ Nguyên nhân khách quan:
-Dân số tăng nhanh
-Sự phát triển mở rộng của các đô thị, siêu đô thị cũng là hệ quả khach quan dẫn
tới sự ô nhiễm môi trường mà các nhà quy hoạch đô thị phải chấp nhận
- Tiến trình công nghiệp hóa, đặc biệt là các khu công nghiệp, khu chế xuất hay sự
phát triển của các ngành viễn thông đã và đang mang lại nhiều thách thức về vấn
đề môi trường.
- Xu thế toàn cầu, đây là vấn đề của các quốc gia quan tâm: ô nhiễm toàn cầu, thiếu
nước sạch, nóng lên của trái đất mà Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nặng nề.
Theo nghiên cứu của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thì thành phố Hồ Chí
Minh nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe dọa nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu.
+ Nguyên nhân chủ quan
- Ý thức người dân còn kém
- Sự chấp hành luật của doanh nghiệp chưa nghiêm
- Nhiều doanh nghiệp vẫn đang gây ô nhiễm
dân cư đông đúc, dân cư bám sát hàng rào nhà máy, do đó ô nhiễm của các KCN
tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Việc đô thị hóa các làng, xã thành phường quận còn mang nặng tính chủ quan chưa
xem xét đầy đủ đến các tác động môi trường trong quy hoạch sử dụng đất, trong tổ
chức không gian đô thị và xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị…đây chính là nguyên
nhân sâu xa dẫn đến suy thoái môi trường đô thị
- Tốc độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật – xã hội diễn ra chậm hơn rất nhiều so với tốc
độ phát triển dân số và mở rộng không gian đô thị:
Tốc độ phát triển hạ tầng kỹ thuật của nước ta chậm hơn rất nhiều so với tốc độ
phát triển dân số và không gian đô thị. Tại Hà Nội diện tích đường giao thông
chiếm khoảng 7,8% đạt 3,89 km/km2; Thành phố Hồ Chí Minh là 7,5% đạt 3,88
km/km2, trong khi đó tỷ lệ này tại các đô thị trên thế giới là 15 – 18%.
Về hạ tầng xã hội thì số lượng dân nghèo đô thị thiếu nhà ở hoặc ở nhà ở chất
lượng thấp, khó tiếp cận các dịch vụ môi trường đô thị còn phổ biến, khoảng cách
giàu nghèo trong đô thị, giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn.
- Xây dựng bộ máy và các công cụ quản lý môi trường đô thị còn nhiều hạn chế:
Hiện này Nhà nước ta đã cơ bản xây dựng hoàn chỉnh bộ máy quản lý nhà nước về
môi trường tại các đô thị. Tuy nhiên do bộ máy này mới đi vào hoạt động nên năng
lực quản lý, trình độ chuyên môn còn hạn chế, nguồn nhân lực, trang thiết bị và
vốn đầu tư cho lĩnh vực bảo vệ môi trường còn thiếu cả về số lượng và chất lượng.
Về việc xây dựng các công cụ quản lý: Nhà nước ta đã sử dụng kết hợp nhiều các
biện pháp quản lý khác nhau trong bảo vệ môi trường như công cụ kinh tế, luật
pháp, kỹ thuật, tuy nhiên hiệu quả sử dụng chưa cao. Ví dụ, về công cụ luật pháp
Nhà nước ta đã ban hành luật bảo vệ môi trường mới năm 2005 tuy nhiên việc đưa
luật vào thực tế và ý thức chấp hành luật còn chưa cao. Hay việc xây dựng các
TCVN khá đầy đủ nhưng còn nhiều hạn chế. Do đó, Nhà nước đang tiến hành
chuyển dần việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường sang sử dụng các quy chuẩn
môi trường.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững tại đô thị còn thấp: nhận
thức và ý thức của mọi người, từ dân đô thị bình thường, chủ cơ sở sản xuất, kinh
Ở Việt Nam, luật bảo vệ môi trường được quốc hội được quốc hội thông qua lần
dầu tiên vào ngày 27 tháng 12 năm 1993. Sau hơn 10 năm thực hiện, luật bảo vệ
môi trường 1993 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Vì vậy bộ luật này được sửa đổi. luật
bảo vệ môi trường Việt Nam sửa đổi năm 2005 gồm 15 chương, 136 điều.
Bảo vệ môi trường đô thị được bộ luật này quy định cụ thể ở chương VI “BẢO
VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ” điều 50, 51, 52, 53, 54.
Điều 50: quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị khu dân cư.
Điều 51: yêu cầu bảo vệ môi trường đối với đô thị, khu dân cư tập trung
Điều 52:bảo vệ môi trường nơi công cộng
Điều 53: yêu cầu bảo vệ môi trường với hộ gia đình
Điều 54: tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường
Bên cạnh đó, có hàng loạt các quy chuẩn được ra đời để tăng thêm hiệu quả của
công cụ pháp luật và chính sách trong quản lý môi trường đô thị như:
- QCVN 05:2009/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí
xung quanh.
- QCVN 14:2008/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt.
- QCVN 09:2008/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm.
- QCVN 08:2008/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuất quốc gia về chất lượng nước mặt.
Các quy chuẩn, tiêu chuẩn môi trường là công cụ trực tiếp điều chỉnh chất lượng
môi trường. tiêu chuẩn môi trường xác định các mục tiêu môi trường và đạt ra số
lượng hay nồng độ cho phép củ chất được thải vào trong khí quyển, nước, đất hay
đước phép tồn tại trong các sản phẩm tiêu dùng.
Các loại giấy phép về môi trường do các chính quyền và các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền về môi trường ban hành theo sự phân định của pháp luật. các
loại giấy phép là giấy thẩm định môi trường, thỏa thuận môi trường, chứng nhận
đạt tiêu chuẩn môi trường, giấy phép thải chất ô nhiễm.
Ở khu đô thị cũng tập chung nhiều nhà máy vì vậy việc áp dụng các tiêu chuẩn quy
chuẩn cho nước thải công nghiệp, chất thải công nhiệp phải coi trọng.
Ở khu đô thị, trình độ dân trí cao hơn vùng nông thôn và đồi núi, khả năng nắm bắt
các thông tin cũng nhanh chóng hơn. Vì vậy, người dân ở đô thị thực hiện tốt quy
Công cụ kinh tế đang sử dụng tại Việt Nam để bảo vệ môi trường đó là:
+ Thuế tài nguyên: Thuế tài nguyên là loại thuế thưc hiên việc điều tiết thu nhập
về hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên.Ở khu đô thị do nhiều hoạt
động kinh tế diễn ra nên thuế doanh thu, thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa, thuế
đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tài sản, thuế đánh vào việc sử dụng một số tài
nguyên của đất nước đều được áp dụng phổ biến
+ Phí và lệ phí môi trường: Các loai phí được sử dụng ở Việt Nam phi nước
thải, phí chất thải rắn, phí khí thải.
Ở nước ta chi có hơn 40% người dân nông thôn được sử dụng nước sạch. Còn đa
phân người dân đô thị dùng nước sạch vì vậy nước thải sinh hoạt thải ra là rất lớn,
việc thu phi nước thải ỏ đô thị là quan trọng. Chính phủ đã ban hành nghị định số
67 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp
có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. song đên nay, việc thục hiên nghi dịnh này còn nhiều
khó khăn, chi có một số tỉnh thành phố trực thuộc trung ương thu phí nước thải.
+ phí chất thải rắn: Chất thải rắn đang là vấn đề nhức nhôi đối với tất cả mọi
người. hậu quả củ việc quản lý chất thải rắn không tốt, không đúng cách đã gây tác
động xấu tới môi trường và sứ khỏe. Thực tế là hơn 40% chất thải rắn có nguồn
gốc từ các khu đô thị, các tinht thành phố cũng đã triển khai thu phí chất thải rắn
theo nghị định số 147/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007. ví dụ như thành
phố Hà Nội :
Cá nhân cư trú ở phường nội thành: 2000 đồng/người/tháng
Cá nhân cư trú ở các xã thị trấn thị tứ ngoại thành: 1000/người/tháng
+ phí khí thải: Ở các đô thị, phương tiện giao thông nhiều, hoạt động xản xuất
kinh doanh diễn ra dày đặc vi vậy lượng khí CO2, NOX, SOX…nhưng phí khí thải
thì chưa có quy định nào
4.3. Áp dụng các công cụ kĩ thuật vào công tác quản lý môi trường
khu đô thị
Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát
Nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố
chất ô nhiễm trong môi trường.
vụ quan trắc môi trường nền trực tiếp.
- Mạng lưới quan trắc môi trường tác động được xây dựng trên nguyên tắc kế thừa
các trạm, điểm quan trắc môi trường đã có thuộc mạng lưới quan trắc môi trường
quốc gia trước đây do Tổng cục Môi trường quản lý, và một số trạm, điểm quan
trắc môi trường do Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia và Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam quản lý thực hiện. Theo Quyết định số 16, Trung tâm
Quan trắc môi trường thuộc Tổng cục Môi trường được xác định là Trung tâm đầu
mạng, thực hiện vai trò chỉ huy, điều hành hoạt động của toàn mạng lưới.
Hình 1: Sơ đồ cấu trúc hệ thống của mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia
Ở những khu đô thị lớn đã có sự đầu tư xây dựng trạm quan trắc tiêu biểu như
thành phố Hà Nội với trung tâm Quan trắc và Phân tích tài nguyên môi trường,
thành phố Đà Nẵng có trung tâm Quan trắc môi trường.
+ Đánh giá môi trường là nội dung đầu tiên trong nghiên cứu môi trường phục vụ
cho việc xây dựng các dự án kinh tế xã hội hoặc đề xuất các chính sách và biện
pháp quản lý phát triển kinh tế xã hội ở tất cả các quy mô: quốc tế, quốc gia, vùng
và địa phương. Trong đánh giá môi trường phân biệt ba loại hình cơ bản :
Đánh giá hiện trạng môi trường.
Đánh giá tác động môi trường.
Đánh giá môi trường chiến lược
• Về đánh giá hiện trạng môi trường:
Là một hoạt động quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, nhằm cung cấp
các thông tin cơ bản nhất cho công tác quản lý môi trường ở tất cả các cấp, góp
phần nâng cao nhận thức và hiểu biết về hiện trạng môi trường và xu thế diễn biến
môi trường và đánh dấu các bước tiến bộ hướng tới phát triển bền vững.
Áp dụng đánh giá hiện trạng môi trường vào công tác quản lý đô thị:
Trước hết là tình trạng ô nhiễm không khí. Có thể nói, ô nhiễm môi trường không
khí là một vấn đề bức xức đối với đô thị nước ta hiện nay. Kết quả quan trắc môi
trường không khí đô thị do cơ quan bảo vệ môi trường thực hiện cho thấy, hầu hết
các đô thị Việt Nam đều bị ô nhiễm không khí trầm trọng, nhất là ô nhiễm bụi, ô
2020 số rác thải ở vào khoảng 22-23 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, cho đến nay công
tác quản lý chất thải đô thị vẫn còn nhiều yếu kém, đặc biệt là vấn đề thu gom và
xử lý (mới chỉ đạt khoảng 60%). Việc thu gom và xử lý chất thải đô thị được thực
hiện chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp, mới chỉ có 16/63 tỉnh, thành phố có bãi
chôn lấp được thiết kế xây dựng hợp vệ sinh nhưng hầu hết đều chưa đồng bộ, nên
vẫn gây ô nhiễm môi trường đất, mặt nước, nguồn nước ngầm khá trầm trọng. Ở
nhiều nơi, việc chôn lấp rác thải do không chấp hành nghiêm túc các yêu cầu kỹ
thuật, gây ô nhiễm môi trường khu vực xung quanh các hố chôn lấp, gây bức xúc,
dẫn đến các vụ cản trở đông người, khiếu kiện tập thể kéo dài của người dân địa
phương. Trong khí đó, lượng rác thải y tế do hệ thống bệnh viện thải ra mỗi ngày
cũng lên đến 230.000 tấn, trong đó có 30.000 tấn rác thải nguy hại. Nhiều bệnh
viện, nhất là cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân, không có hệ thống xử lý rác thải y tế;
tình trạng tái chế chất thải y tế thành đồ sinh hoạt gây nguy hiểm cho sức khỏe
cộng đồng vẫn còn xảy ra.
Thứ ba là vấn đề ô nhiễm môi trường nước. Các đô thị nước ta có một đặc điểm
khá giống nhau, đó là hệ thống nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, y tế
đều chung nhau một hệ thống cống thoát, không được xử lý trước khi đổ vào các
dòng sông, nên gây ô nhiễm môi trường rất trầm trọng. Kết quả quan trắc môi
trường liên tục trong nhiều năm cho thấy, lưu vực các sông và hệ thống kênh rạch
nội đô của Hà Nội đều ở tình rạng ô nhiễm nặng. Tại các điểm lấy mẫu ở sông
Nhuệ, hàm lượng cặn lơ lửng chiếm từ 40 đến 60mg/lít, vượt tiêu chuẩn cho phép
từ 2 đến 3 lần. Mức độ ô nhiễm khí độc ở các dòng sông của Hà Nội đã đến mức
báo động. Hầu hết các điểm đo trong lưu vực các sông đều có nồng độ vượt từ 5
đến 6 lần cho phép. Đặc biệt, hàm lượng NH4 ở sông Nhuệ trung bình có từ 1,2
đến 1,7mg/lít, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 25 đến 33 lần; ở sông Đáy vượt từ 1,2
đến 30 lần. Trên lưu vực các sông Sài gòn, Đồng Nai và các sông khác thuộc khu
vực Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tình trạng ô nhiễm còn nặng nề
hơn. Hầu hết hàm lượng các chất độc hại đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2,5 đến
43 lần. Hệ thống sông Đồng Nai, Sài Gòn, trung bình mỗi ngày tiếp nhận trên
100.000m3, trong đó có chứa khoảng 77 tấn COD, 20 tấn BOD5, 1,6 tấn ni-tơ.
thông qua một
cách miễn cưỡng. Không ít báo cáo ĐTM chỉ được thẩm định trên bàn giấy, một
số đơn vị lập báo cáo đã thực hiện việc “cắt dán”, sao chép từ báo cáo khác
• Đánh giá môi trường chiến lược
Đánh giá môi trường chiến lược là nội dung đánh giá tác động môi trường đối với
một dự án lớn, như các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của một ngành kinh tế,
một vùng lãnh thổ, các chính sách của nhà nước. Theo luật Bảo vệ môi trường
2005, ĐMC được định nghĩa như sau: đánh giá môi trường chiến lược là việc phân
tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững.
Một số ví dụ về đánh giá môi trường chiến lược là đánh giá môi trường chiến lược
hoạt động khai thác vùng than Quảng Ninh, đánh giá môi trường chiến lược dự án
quy hoạch phát triển kinh tế xã hội khu vực Đồng bằng sông Hồng, đánh giá tác
động môi trường chính sách đóng của rừng, v.v
• Kiểm toán môi trường
Đã có khá nhiều các định nghĩa khác nhau về kiểm toán môi trường được đưa ra.
Trong các định nghĩa trên thì định nghĩa về kiểm toán môi trường của tổ chức ISO
đưa ra trong phần 3.9 của tiêu chuẩn ISO 14010 năm 1996 được coi là đầy đủ và
hoàn chỉnh nhất. Từ định nghĩa này ta có thể rút ra những điểm mấu chốt của kiểm
toán môi trường: Là quá trình kiểm tra có hệ thống và được ghi thành văn bản.Tiến
hành một cách khách quan. Thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán. Xác
định vấn đề xem xét có phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán hay không. Thông tin
các kết quả của quá trình này cho khách hàng
Được nhìn nhận như là một công cụ trong quản lý, theo chúng tôi kiểm toán môi
trường trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay trước hết nên thực hiện ở hai
mức độ: kiểm toán nội bộ (phục vụ cho công tác quản lý của doanh nghiệp) và
kiểm toán Nhà nước (phục vụ cho công tác quản lý môi trường của Nhà nước ở
tầm vĩ mô nền kinh tế). Và trên thực tế, kiểm toán Nhà nước về môi trường ở giai
đoạn đầu, có thể sẽ là bắt buộc (theo luật định) đối với các doanh nghiệp, tổ chức.
Khi đó, kiểm toán Nhà nước có thể xem xét lại các báo cáo kiểm toán môi trường
Mục tiêu của truyền thông môi trường nhằm:
+Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình trạng của họ,
từ đó họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
+Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phương tham gia vào các
chương trình bảo vệ môi trường.
+Thương lượng hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa
các cơ quan, trong nhân dân.
+Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường,
xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
+Khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu hơn thông qua đối thoại thường
xuyên trong xã hội
- Bảo vệ môi trường thông qua phương tiện truyền thông. và tài liệu giáo dục
môi trường
Các phương tiện truyền thông đại chúng cũng đã đóng góp vai trò hết sức quan
trọng trong công tác truyền thông môi trường. Cụ thể, các công tác tuyên truyền,
giáo dục nâng cao nhận thức, cung cấp kiến thức cho cộng đồng về các vấn đề môi
trường trong nước và thế giới đã có tác động to lớn tới người dân và từ đó, ý thức
giữ gìn và bảo vệ môi trường của người dân ngày càng được nâng cao.
Truyền thông môi trường được thực hiện chủ yếu qua các phương thức sau:
+Chuyển thông tin tới từng cá nhân qua việc tiếp xúc tại nhà, tại cơ quan, gọi điện
thoại, gửi thư.
+Chuyển thông tin tới từng nhóm qua hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm,
tham quan, khảo sát
+Chuyển thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng: báo chí, tivi,
radio, pano, áp phích, tờ rơi, phim ảnh,
+Tiếp cận truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các
chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm
Đô thị là nơi có sản xuất kinh tế phi nông nghiệp, dân trí cao nhiều phương tiện
thông tin đặc biệt là các phương tiện truyền thông tại nhà như tivi, radio…nhu cầu
giải trí cao và rất đa dạng. Xu thế văn hóa tập thể yêu cầu cao hơn.
vẫn mang tính hình thức.
Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi rtường trong nhà trường thực sự mang lại
hiệu quả như mong muốn, cần bắt đầu từ những việc làm, hành động nhỏ nhất.
Chẳng hạn như làm tốt công việc trồng và chăm sóc cây xanh; vệ sinh trong và
ngoài lớp sạch sẽ trước và sau mỗi buổi học; thường xuyên tổ chức những ‘ngày
chủ nhật xanh”…Trong các bài giảng, căn cứ vào điều kiện từng môn học cụ thể,
có thể lồng ghép những kiến thức về bảo vệ môi trường. Việc cho học sinh, sinh
viên thường xuyên tiếp xúc với những kiến thức về môi trường qua các lời giảng
của giáo viên có thể tác động trực tiếp và có tác dụng hơn so với những chương
trình truyền thông khô cứng. Không chỉ trong các tiết dạy trên lớp, giáo viên cần
làm gương cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường. Đồng thời, khuyến khích
học sinh tự giám sát việc bảo vệ môi trường của nhau và đưa ra những lời nhắc
nhở, tuyên dương kịp thời. Cần đưa ý thức bảo vệ môi trường thành một tiêu chí để
đánh giá, xếp loại giáo viên, học sinh, sinh viên. Nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường trong nhà trường là một trong những biện pháp quan trọng góp phần xây
dựng môi trường học đường thân thiện cũng như mang lại những lợi ích trước mắt
và lâu dài.
. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm
tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi
trường, trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo
vệ môi trường; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách
tự giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội.
5.Phương hướng phát triển các khu đô thị va khả năng áp dụng các
công cụ.
28-9:-!,;<=>?@A!,B.!,*
:C!,*:9DDD(:E!
+Phải tăng cường được hiệu quả và sự tự cân bằng trong đô thị, giảm các tác động,
sự phụ thuộc của đô thị với các vùng bên ngoài.
+Đô thị sinh thái phải lấy con người là nhân tố trung tâm, nó được sáng tạo ra bởi
con người và cũng vì con người.
thông qua các dự án như “dự án cải tạo môi trường sống” (nhất là các sông chảy
qua các đô thị); dự án “cải tạo nước hồ ở các đô thị” cũng đã được thực thi liên tục
qua nhiều năm. Các hồ chứa nước, các con đập chắn xói mòn trên các sông cũng
được đầu tư cải tạo.
+Hỗ trợ tài chính từ ngân sách Trung ương cho các dự án xử lý rác thải rắn, ô
nhiễm môi trường liên khu vực. Các khoản hỗ trợ này bao gồm cả đào tạo nhân
viên kỹ thuật, kiểm tra - đánh giá, nghiên cứu và triển khai kỹ thuật xử lý.v.v
+Khuyến khích áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường. Chẳng hạn, dự
án phát triển công nghệ ngưng kết và sử dụng hiệu quả CO
2
; phát triển công nghệ
sản xuất các chất xúc tác thân thiện với môi trường; phát triển công nghệ sản xuất
các chất làm sạch mới; phát triển công nghệ sản xuất hydro thân thiện môi trường;
chương trình hỗ trợ nghiên cứu môi trường toàn cầu v.v
+Quan tâm nhiều hơn tới việc đào tạo nguồn nhân lực môi trường, đầu tư trang
thiết bị mới cho công tác nghiên cứu, đánh giá tác động, kiểm tra, giám sát môi
trường.
III.KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên ta thấy được vai trò to lớn của công cụ quản lí môi
trường đối với nước ta trong công tác ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và
cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái bảo tồn đa dạng sinh
học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và
nông thôn góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời
sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.