Đề tài : Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý báo điện tử hiện nay - Pdf 13


Hội đồng khoa học các cơ quan đảng trung ơng
Báo điện tử đảng cộng sản việt nam Báo cáo tổng quan
đề tài cấp ban
Thực trạng và giảI pháp nâng cao chất lợng,
hiệu quả lãnh đạo, quản lý báo điện tử hiện nay
Mã số: khbđ (2008) - 09

Chủ nhiệm đề tài:
TS. Hà thị vinh

PGS. TS O DUY QUT
PGS.TS V DUY THễNG
PGS. TS PHM VN CHC
PGS.TS V VN H
TS. NGUYN TH K
TS. NGUYN TRNG HU
Ths. V èNH THNG
CN. NGUYN CễNG DNG

1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1. Tính cấp thiết 2
2. Phạm vi nghiên cứu 3
3. Mục tiêu nghiên cứu …………. 3
4.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Cơ sở khoa học 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Kết cấu 4
8. Kết quả nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ BÁO ĐIỆN
TỬ 6
1.1. Vai trò và sự phát triển của Internet 6
1.1.1. Vai trò của Internet 6
1.1.2. Sự phát triển của Internet ở Việt Nam 7
1.2. Sự ra đời và phát triển báo đ
iện tử ở Việt Nam 10
1.2.1. Khái niệm về báo điện tử 10

3.2.2. Hoàn thiện pháp luật báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng 72
3.2.3. Nâng cao năng lực nhữngngười làm báo 77
3.2.4. Quy hoạch phát triển và đầu tư cho báo điện tử 84
KẾT LUẬN 92 2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong hơn 10 năm qua, kể từ khi bắt đầu xuất hiện đến nay, hệ thống báo
mạng (chính thức) ở Việt Nam phát triển khá nhanh, mạnh, đã tích cực tuyên
truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,
thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới, là cầu nối Việt Nam với bạn bè thế
gi
ới. Đồng thời, báo điện tử là công cụ tích cực đấu tranh chống các hiện
tượng tiêu cực, tham nhũng, các tệ nạn xã hội, đấu tranh phê phán các quan
điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị,
bảo vệ quan điểm, đường lối, cương lĩnh của Đảng.
Tuy nhiên, trên thực tiễn, hiệu quả truyền thông nói chung, hiệu quả tư
tưởng của hệ thống báo mạng còn chưa cao. Bên cạnh các hiện tượng thiếu
tích cực như xu hướng thương mại hóa, nghiệp vụ báo chí còn hạn chế, đầu tư
trang thiết bị kỹ thuật công nghệ chưa hợp lý, thì có nơi, có lúc còn bộc lộ cả
sự bất cập, yếu kém về tư tưởng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân gây
nên, trong đó phải kể đến công tác lãnh đạo, quản lý đối v
ới hệ thống báo
mạng. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng, từ đó đề ra các giải pháp nâng cao
chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, quản lý hệ thống báo mạng ở Việt Nam hiện
nay là cấp thiết, có ý nghĩa, tác dụng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần trực
tiếp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chung của kênh truyền thông đại
chúng quan trọng này.

2. Phạm vi nghiên cứu
Lãnh đạo, quản lý báo mạng là một lĩnh vực rộng lớn, để có thể bao quát
đượ
c các khía cạnh của nó đòi hỏi không chỉ có sự khảo cứu trên các văn bản,
chỉ thị, các báo cáo hoặc khảo sát thực tiễn ở một vài cơ sở, mà còn cần có sự
khảo sát rộng rãi các cơ sở báo điện tử trên cả nước. Đồng thời, cũng cần có
sự nhìn ra thế giới, học hỏi kinh nghiệm làm báo điện tử của các quốc gia
khác. Nhưng với ngu
ồn nhân lực và thời gian có hạn, Đề tài giới hạn phạm vi
nghiên cứu hoạt động báo điện tử ở Việt Nam, khảo cứu trên các văn bản và
thực tiễn hoạt động của một số cơ sở báo chí, trong đó Báo ĐTĐCSVN.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hoạt động và công tác lãnh đạo, quản lý báo
điện tử ở Việt Nam.

4
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh
đạo, quản lý báo điện tử ở nước ta đáp ứng yêu cầu công tác tư tưởng – văn
hóa thời kỳ đổi mới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo cứu các văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác lãnh đạo,
quản lý báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng.
- Khảo sát hoạt động và công tác lãnh đạo, quản lý báo
điện tử ở Việt
nam (diện); hoạt động và công tác lãnh đạo, quản lý báo điện tử Đảng Cộng
sản Việt Nam (điểm).
- Xác định những nhóm giải pháp chính giúp công tác lãnh đạo quản lý
báo điện tử đạt chất lượng, hiệu quả cao.
5. Cơ sở khoa học
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan

hạn chế và cần có sự điều chỉnh và nghiên cứu bổ sung thêm trong những
nghiên cứu tiếp theo. Các tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
chân tình, thiết thực giúp Đề tài được hoàn thiện hơn.
6

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ BÁO
ĐIỆN TỬ
1.1. Vai trò và sự phát triển của Internet
1.1.1. Vai trò của Internet
Một trong những phát minh lớn nhất của loài người trong thế kỷ XX là
cho ra đời mạng thông tin toàn cầu (Internet) vào năm 1969. Vậy Internet là
gì? Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Internet là một hệ thống thông
tin toàn cầu có thể truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết
với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu dựa
trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hoá. Internet bao gồ

ập, Internet Việt Nam đã phát triển với một tốc độ cực kỳ ấn
tượng. Từ con số 0, Việt Nam đã vượt qua Thái Lan, Philippin thậm chí cả
Trung Quốc để đứng thứ 3 toàn khu vực về số dân sử dụng Internet.
Sau 12 năm hoà mạng, số người Việt Nam sử dụng Internet chiếm trên
23,7% dân số, là một trong những nước có tỷ lệ sử dụng cao ở châu Á và trên
thế giới (ở khu v
ực Đông Nam Á, tỷ lệ người sử dụng Internet trên tổng số
dân ở Việt Nam chỉ đứng sau Singapore, Malaixia và Brunei, bỏ xa Thái Lan,
Indonesia và Phillippin)
1
.
Dưới đây là một số thông tin liên quan đến tình hình phát triển Internet ở
Việt Nam:
Tháng 9 – 2003:
- Số lượng thuê bao quy đổi: 603.641
- Số người sử dụng: 2.334.634
- Tỷ lệ dân số sử dụng Internet: 2,86%
- Tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam: 658Mbps
- Tổng số địa chỉ IP đã cấp: 133.632
- Tổng thuê bao băng rộng: 4.275 1
Nguồn Trung tâm Internet Việt Nam 8
Tháng 9 – 2006:
- Số lượng thuê bao quy đổi: 3.860.264
- Số người sử dụng: 14.006.747


2
Nguồn Trung tâm Internet Việt Nam (7/2008) 9
Số người sử dụng Internet theo thời gian năm 2008
2

Tốc độ tăng trưởng (%)
Thời gian
Tổng số người
sử dụng Internet
Tăng so với
tháng trước
(%)
So với cùng kỳ
năm ngoái
(%)
5/2008 5834289 4.27 29.55
6/2008 20159614 245.53 337.93
7/2008 20240132 0.39 333.31
Hiện nay, số lượng người sử dụng Interet ở Việt nam dã tăng lên trên 21
triệu.
Bên cạnh những mặt tích cực, Internet cũng có nhiều mặt hạn chế.
Chẳng hạn, việc xác minh độ tin cậy của những thông tin, mục đích đưa thông
tin lên mạng là gì?. Đó là một vấn đề nan giải hiện nay, không chỉ ở Việt Nam
mà nhiều nước tiên tiến trên thế giới cũng chưa giải quyế
t triệt để được.
Điểm yếu của Internet Việt Nam còn thể hiện ở việc chưa quản lý tốt tài

năm 1999. Theo định nghĩa trong Luật này, “báo điện tử là loại hình báo chí
được thực hiện trên hệ thống máy tính”
3
.
Tuy nhiên, cách dùng từ "điện tử" để gọi loại hình báo chí này dễ gây
nhầm lẫn về nội hàm khái niệm trong báo phát thanh và truyền hình. Bên cạnh
đó, nó chưa nêu bật được đặc trưng cơ bản của loại hình báo chí hoạt động
trên mạng Internet. Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm đến một thuật ngữ
khác vốn được sử dụng khá phổ biến trong các tài liệu báo chí nước ngoài, đó
là "online" (trên mạng, trực tuy
ến). Theo TS. Thang Đức Thắng, Tổng biên
tập VnFxpress, báo online là tờ báo thực hiện chức năng báo chí bằng phương
tiện Internet. Người sáng lập trang web “hocbao.com” coi báo trực tuyến
trước hết phải là một cơ quan báo chí, sử dụng nền tảng công nghệ Internet và
được cập nhật liên tục. Dự thảo Luật Báo chí để Chính phủ trình Quốc hội sắp
tới cũng định nghĩa "Báo điện tử là loạ
i hình báo chí thực hiện trên mạng
Internet".

3
Điều 3, Luật Báo chí năm 1999

11
Thuật ngữ báo điện tử được dịch từ các thuật ngữ “Online newspaper”
(báo trực tuyến), “Internet Newspaper” (báo Internet) hoặc “Electronic
Newspaper” (báo điện tử). Hiện cả ba thuật ngữ này vẫn được sử dụng song
song khi nói về các báo điện tử.
Theo Wikipedia, báo điện tử là loại báo mà độc giả có thể đọc trên máy
tính khi kết nối với đường truyền Internet qua modem (dial-up hoặc ADSL)
có dây hoặc không dây (Wi-Fi và WiMax). Ngoài đọc báo với máy tính, có

kiện của Trung ương Đảng, nghị quyết, chỉ thị, thông báo của Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, văn kiện quan trọng của các ban tham mưu cho Đảng qua các thời
kỳ. Đến nay, hầu hết các báo, tạp chí lớn của trung ương, các bộ, ngành, đoàn
thể, các tỉnh, thành phố đều có trang tin hoặc báo, t
ạp chí điện tử.
Tính đến tháng 5-2009, cả nước có 687 cơ quan báo chí in, 67 đài phát
thanh và truyền hình, 21 báo điện tử, 160 trang tin điện tử và hơn 16.000 nhà
báo. Theo thống kê của các nhà cung cấp dịch vụ, số lượt truy cập bình quân
mỗi ngày trên các báo điện tử địa phương là 3.000 đến 10.000 lượt, trên các
trang báo điện tử trung ương, các ngành, đoàn thể là 500.000 đến 1.500.000
lượt, dẫn đầu là các báo điện tử độc lậ
p như Vietnam.net, VnExpress, Báo
điện tử ĐCSVN, Cổng thông tin điện tử Chính phủ
4

Trước sự phát triển của báo điện tử Việt Nam, ngày 22 tháng 7 năm
2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 52-CT/TW về phát triển
và quản lý báo điện tử. Chỉ thị nêu rõ: “Báo điện tử có tác dụng và tiện ích
hơn hẳn các loại hình báo chí truyền thống, dung lượng thông tin rất lớn,
tương tác thông tin nhanh, phát hành không bị trở ngại về không gian, thời
gian, biên giới quố
c gia. Từ khi ra đời, báo điện tử Việt Nam đã góp phần
quan trọng vào việc phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước; mở rộng hiệu quả thông tin đối ngoại;
nâng cao dân trí và thỏa mãn nhu cầu thông tin, hưởng thụ văn hóa của nhân
dân ”
1.2.3.Phân loại báo điện tử ở Việt Nam
Căn cứ vào tính chất, đặc trưng riêng có thể chia báo đ
iện tử ở Việt Nam
thành hai loại:

kích trên mặt tr
ận tư tưởng văn hóa.
Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảm bảo chắc
chắn cho nền báo chí có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, hiện đại và thực
hiện sứ mệnh cao cả của mình, đồng thời cho phép Đảng kịp thời phát hiện,
khắc phục những thiếu sót của báo chí, ngăn chặn những âm mưu nham hiểm
của kẻ
thù nhằm lợi dụng báo chí để phá hoại cách mạng, phá hoại sự nghiệp
xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Đối với báo chí cách mạng, sự lãnh đạo

14
của Đảng không những không làm hạn chế quyền tự do của báo chí mà còn là
điều kiện tất yếu để có báo chí tự do một cách đầy đủ, chân thực.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí là một nguyên tắc hàng đầu, bất di
bất dịch. Đảng lãnh đạo và quản lý báo chí bằng Cương lĩnh chính trị, bằng
chủ trương, đường lối, bằng hệ thống những quan đ
iểm, chủ trương, giải pháp
lớn đối với công tác báo chí. Đảng lãnh đạo và quản lý báo chí thông qua các
tổ chức Đảng, công tác tổ chức - cán bộ báo chí (đây là khâu then chốt, có
tính chất quyết định), lãnh đạo thông qua vai trò của đội ngũ đảng viên trong
các cơ quan báo chí, thể hiện cụ thể trên các mặt: định hướng nội dung; hoạch
định chủ trương, chính sách phát triển; kiểm tra, đánh giá, xử lý kịp thời các
vấn đề nả
y sinh; lựa chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và kiểm tra hoạt động
của đội ngũ cán bộ. Và điều đáng lưu ý là Đảng lãnh đạo, quản lý báo chí
thông qua nhà nước, trong đó đặc biệt quan trọng là việc thể chế hóa công tác
báo chí bằng các văn bản pháp lý (hay còn được gọi là văn bản pháp quy, văn
bản pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật) của nhà n
ước. Tăng cường quản
lý báo chí cũng chính là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bởi sự lãnh đạo

trị, tư tưởng quan trọng, sắc bén của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, phục vụ
đắc lực sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Về bước đi trong quá trình phát triển của báo điện tử, Chỉ thị nhấn mạnh:
“ Báo điện tử ở Việt Nam phải được phát triể
n nhanh, vững chắc, có
hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thể về kinh tế, kỹ thuật, con người, năng
lực quản lý, bảo đảm an ninh, an toàn, kết hợp hài hoà với việc phát triển các
loại hình báo chí và các phương tiện thông tin khác”.
Thực hiện phương hướng trên, những nhiệm vụ cụ thể trong công tác
lãnh đạo cũng được nêu ra:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm không ngừng nâng cao
nhận thức của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân
dân nhất là là trong thanh niên, thiếu niên về vị trí, tầm quan trọng và tính hai
mặt của Internet và báo điện tử để khai thác, sử dụng có hiệu quả mặt tích
cực, đồng thời ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với báo điện tử và các mạng
thông tin điệ
n tử.

16
Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật, các cơ chế, chính
sách phát triển, quản lý báo điện tử và mạng Internet.
Nâng cao năng lực quản lý báo điện tử và các cơ quan chủ quản báo chí,
các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Phân định rõ
báo điện tử và trang tin điện tử, tránh tình trạng các trang thông tin điện tử
hoạt động như mộ
t tờ báo điện tử. Kiên quyết khắc phục dịch vụ Internet trái
phép, ngăn chặn các trang tin điện tử phản động, đồi truỵ, xâm phạm đời tư,
tha hoá đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục, phòng chống các hoạt động
lừa đảo, phá hoại kinh tế trên mạng thông tin điện tử.

t động quản lý nhà nước về báo chí thực chất là sự tác động mang
tính tổ chức cao và được điều chỉnh bằng pháp luật. Tính tổ chức cao thể hiện
ở hai phương diện: Thứ nhất, đây là hoạt động trực tiếp của các cơ quan nhà
nước được giao chức năng nhiệm vụ trong lĩnh vực báo chí. Thứ hai, đây là
hoạt động phải được đảm bảo về
tổ chức (bộ máy) chuyên trách, mà tổ chức
này được hình thành xuất phát từ nhu cầu quản lý nhà nước và đòi hỏi mang
tính khoa học để đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động. Thực tiễn cho thấy,
không có tổ chức, thì quản lý sẽ bị lỏng lẻo, sơ hở và kém hiệu quả, thậm chí
có thể dẫn đến tình trạng vô chính phủ.
Để quản lý nhà nước về báo chí có hiệu quả, pháp lu
ật được nhà nước sử
dụng như một kênh để tổ chức bộ máy và ấn định chi tiết các khuôn mẫu xử
sự của các cơ quan quản lý cũng như công dân trong mối quan hệ thể hiện
quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước và công dân Do vậy, cũng giống như quản
lý hành chính nhà nước nói chung, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí
được điều chỉnh bằng pháp luật theo phương pháp mệ
nh lệnh.
Hai là, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là hình thức quản lý nhà
nước vừa mang tính phổ quát vừa mang tính đặc thù
Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Thứ nhất, quyền tự do báo
chí, tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của công dân. Hầu hết
các nhà nước trên thế giới đều ghi nhận trong Hiến pháp và tạo ra cơ chế pháp
lý để đảm bảo thực hiệ
n nó trong đời sống xã hội. Vì vậy, quản lý báo chí là
quản lý mang tính phổ quát toàn cầu. Thứ hai, thế giới hiện nay có trên 200
quốc gia, mỗi nhà nước với các thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội,

18
văn hóa, khác nhau nên phương thức quản lý nhà nước, trong đó có lĩnh vực

những quy định chính liên quan đến quản lý nhà nước về báo điện tử theo các
nhóm: 19
* Chính sách quản lý và phát triển Internet
Điều 4 Nghị định 97 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và
thông tin điện tử trên Internet nêu rõ:
1. Khuyến khích việc ứng dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn
hóa, xã hội để nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương
mại; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng
cuộc sống của nhân dân và b
ảo đảm an ninh, quốc phòng.
2. Thúc đẩy việc ứng dụng Internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước,
trường học, bệnh viện, các cơ sở nghiên cứu và đưa Internet đến nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
3. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp và
sử dụng dịch vụ Internet, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo
dục, hướng dẫn pháp luật về Internet. Có biện pháp để ngă
n chặn những hành
vi lợi dụng Internet gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức,
thuần phong mỹ tục, vi phạm các quy định của pháp luật và để bảo vệ trẻ em
khỏi tác động tiêu cực của Internet.
4. Phát triển Internet với đầy đủ các dịch vụ có chất lượng cao và giá
cước hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đấ
t nước.
5. Khuyến khích tăng cường đưa thông tin tiếng Việt lên Internet.
6. Tên miền quốc gia “.vn”, địa chỉ Internet và số hiệu mạng Internet do
Việt Nam quản lý là một phần của tài nguyên thông tin quốc gia, cần phải

dụng thông tin điện tử trên Internet, bao gồm cấp phép, đăng
ký, báo cáo, thống kê, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại,
tố cáo theo thẩm quyền; Tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về Internet.
- Bộ Công an chịu trách nhiệm trong việc đảm bảo an ninh thông tin
trong lĩnh vực Internet như: Trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo
thẩm quyền và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về an
ninh thông tin trong hoạt
động Internet; Chủ trì, phối hợp với các bộ ngành
liên quan tổ chức thực hiện các biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ đảm bảo an
ninh quốc gia và phòng, chống tội phạm đối với hoạt động Internet; Kiểm tra,
thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm các quy định pháp luật về đảm bảo an
ninh thông tin trong lĩnh vực Internet theo thẩm quyền.

21
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Thông tin và
Truyền thông xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, tài chính để thúc đẩy
việc sử dụng Internet trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường học, bệnh
viện, các cơ sở nghiên cứu và đưa Internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa,
biên giới, hải đảo. Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo
thẩm quyền và hướng dẫn việc thực hiệ
n các quy định về phí, lệ phí liên quan
đến tài nguyên Internet.
- Bộ Nội vụ thực hiện quản lý nhà nước về mật mã dân sự đối với các
thông tin cần được bảo mật trong các hoạt động thương mại, dân sự trên
Internet.
- Các Bộ, ngành liên quan phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông
trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền và hướng dẫn thực
hiện các quy định; triển khai thực hiện quản lý đối với việc cung c
ấp và sử
dụng các dịch vụ ứng dụng chuyên ngành trên Internet thuộc lĩnh vực quản lý

Internet và thông tin điện tử trên Internet
1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet (ISP) có các quyền và nghĩa
vụ như:
- Thiết lập hệ thống thiế
t bị Internet tại cơ sở và tại các điểm cung cấp
dịch vụ công cộng của doanh nghiệp để cung cấp các dịch vụ Internet theo
đúng quy định của giấy phép;
- Thuê đường truyền dẫn viễn thông của các doanh nghiệp cung cấp hạ
tầng mạng đã được cấp phép để thiết lập mạng lưới thiết bị Internet của doanh
nghiệp, kết nối trực tiếp với Internet qu
ốc tế và cung cấp dịch vụ đến đại lý,
người sử dụng dịch vụ Internet;
- Được sử dụng tài nguyên Internet theo quy hoạch và quy định về quản
lý tài nguyên Internet;
- Thực hiện chế độ báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định;

23
- Thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước huy động trong trường hợp khẩn
cấp và các nhiệm vụ công ích khác…
2. Chủ mạng Internet dùng riêng có các quyền và nghĩa vụ như:
- Thiết lập hệ thống thiết bị Internet tại các địa điểm mà mình được
quyền sử dụng theo quy định của pháp luật để cung cấp dịch vụ Internet cho
các thành viên của mạng.
- Thuê hoặc xây dựng đường truyền dẫn vi
ễn thông để thiết lập mạng
Internet dùng riêng và kết nối trực tiếp với Internet quốc tế;
- Được sử dụng tài nguyên Internet theo quy hoạch và quy định về quản
lý tài nguyên Internet;
- Thực hiện các quy định về cấp phép, kết nối, tiêu chuẩn, chất lượng, giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status