[1]
June 2012
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của chuyên đề.
Cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng
đang trong quá trình đổi mới và đã đạt được những thành công nhất định. Trong quá
trình hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam
trước những vận hội mới cũng như những khó khăn phải đối mặt. Hoạt động của ngân
hàng đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển và ngược lại,
sự hoạt động yếu kém của ngân hàng sẽ ảnh hưởng xấu sự phát triển của cả nền kinh
tế. Xác định được tầm quan trọng của hoạt động tín dụng và vai trò của ngân hàng,
Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động
cũng như chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam.
Hoà vào nhịp đổi mới toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Sài Gòn Hà Nội
(SHB) nói chung và SHB chi nhánh Hà Nội nói riêng cũng đã và đang có sự đổi mới
đáng khích lệ. Tuy nhiên trong tiến trình đổi mới, ngân hàng đã gặp nhiều khó khăn,
trở ngại đặc biệt trong giai đoạn vừa qua. Dưới tác động của suy thoái kinh tế, khủng
hoảng tài chính toàn cầu, hoạt động của các ngân hàng thương mại trong đó có cả SHB
đã gặp những thử thách thực sự: Khó khăn trong huy động vốn, tăng trưởng dư nợ, tỷ
lệ nợ xấu gia tăng, khó khăn trong kiểm soát rủi ro… đồng thời bộc lộ những tồn tại
làm chất lượng hoạt động nói chung của ngân hành và hoạt động tín dụng đối với khối
khách hàng doanh nghiệp nói riêng chưa thực sự hiệu quả và còn nhiều bất cập. Đồng
thời, Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh
tế nên việc phát triển mạnh các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ là
vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển thì
chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn đề, trong đó khó khăn nhất chính là cung
cấp đủ vốn cho các doanh nghiệp, thực hiện tốt chức năng dẫn vốn của hệ thống
NHTM.
Chính vì những lý do trên, mà tác giả quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải
pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khối khách hàng doanh nghiệp tại
ngân hàng SHB chi nhánh Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu của chuyên đề tốt nghiệp.
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NHTM
ĐỐI VỚI KHỐI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát về khách hàng doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Tùy thuộc vào từng thời kỳ và tính chất, trình độ phát triển của nền kinh tế và góc
độ xem xét phân tích, khái niêm doanh nghiệp được đề cập với nhiều nội dung khác
nhau. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng
11 năm 2005 của Việt Nam, khái niệm về doanh nghiệp như sau: "Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh" .
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê, năm 2011, nước ta có khoảng 97% tổng số DN đã đăng ký
trên cả nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN); đóng góp gần 60% GDP Việt
Nam năm 2011, cũng như 40% ngân sách quốc gia. Các DNVVN đã và đang là tạo ra
một thị trường rộng lớn, mang lại nhiều tiềm năng về doanh thu cho các NHTM từ cấp
tín dụng cho tới các sản phẩm khác. Cùng với các đặc điểm đặc thù của mình sẽ được
nhắc dưới đây, DNVVN là đối tượng tiềm năng mà các NHTM cần chú trọng, và sẽ là
đối tượng được nghiên cứu chủ yếu trong chuyên đề.
1.1.3. Khái niệm về DNVVN: (Theo điều 3 Nghị đinh 56/2009/NĐ-CP)
“ DNVVN là cơ sở kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành 3
cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương
tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số
lao động bình quân năm (trong đó tổng nguồn vốn làm tiêu chí ưu tiên)”.
3 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[4]
June 2012
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNVVN theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP
Quy mô/Khu vực
đồng
10-200
người
20-100 tỷ
đồng
200-300
người
Thương mại và dịch
vụ
< 10
người
< 10 tỷ
đồng
10-50
người
10-50 tỷ
đồng
50-100
người
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP).
Đặc điểm của DNVVN:
Là loại hình doanh nghiệp có thể tạo lập dễ dàng bởi vì để thành lập DN chỉ cần một
số vốn đầu tư ban đầu nhỏ, mặt bằng sản xuất, kinh doanh nhỏ, tận dụng được
nguồn lao động thay thế cho nguồn vốn với mức tiền lương thấp, hơn nữa khả năng
thu hồi vốn của DNVVN khá nhanh nên vòng quay của vốn nhanh hơn các doanh
nghiệp lớn.
DNVVN có bộ máy quản lý gọn nhẹ, cơ chế tổ chức đơn giản, không cồng kềnh do
đó trình độ quản lý không đòi hỏi cao như các doanh nghiệp lớn nên chi phí kinh
doanh và giá thành sản phẩm, dịch vụ thấp.
Với quy mô nguồn vốn nhỏ nên các DNVVN có thể phát triển rộng khắp các vùng
đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.
Cung cấp một khối lượng hàng hóa đáng kể cho xã hội. Theo thống kê của trung tâm
hỗ trợ DNVVN, hàng năm các DNVVN đã đóng góp 30% giá trị tổng sản lượng
công nghiệp, gần 80% tổng mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa và
100% giá trị sản lượng hàng hóa một số ngành hàng thủ công mỹ nghệ…
Sự có mặt của các DNVVN đã thu hút một lượng lớn lao động, tạo ra nhiều việc làm
mới với chi phí đầu tư thấp và tạo nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho dân
cư. Ở Việt Nam, các DNVVN sử dung đến 50.1% lao động trong xã hội đã góp phần
giải quyết tình trạng thất nghiệp và các vấn đề trong xã hội, đồng thời góp phần
giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phân dân cư, tạo ra sự phát triển
đồng đều giữa các vùng, các miền của đất nước và cải thiện mối quan hệ giữa các
khu vực kinh tế.
DNVVN có khả năng khai thác phát huy các nguồn lực và tiềm năng tai chỗ của các
địa phương, các nguồn tài chính trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, quy mô nguồn vốn
không nhiều nên loại hình doanh nghiệp này có thể được thành lập được ở tất cả các
địa phương, tận dụng được nhưng thay thế tại chỗ giảm chi phí sản xuất, kinh
5 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[6]
June 2012
doanh.
Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động. Cùng với sự hình
thành và phát triển của các DNVVN là sự xuất hiện ngày càng nhiều hơn các nhà
kinh doanh sáng lập mới năng động và sáng tạo. Đó là lực lượng cần thiết góp phần
thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh ở những nước đang phát triển trong đó có
nước ta. Nhưng năm gần đây đã xuất hiện nhiều đội nhũ các nhà quản lý trẻ, năng
động, sáng tạo biết cách chèo chống đưa doanh nghiệp thoát ra cuộc khủng hoảng
kinh tế và phát triển lên thành các doanh nghiệp lớn. Do vậy, đây là một môi trường
đào tạo, rèn luyện và phát triển đội ngũ các nhà lãnh đạo tốt cho xã hội.
Tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển có
hiệu quả hơn. Với sự tham gia của nhiều các DNVVN vào hoạt động sản xuất kinh
doanh nghiệp bao gồm các mục đích: Vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh, cho
vay tài trợ mua sắm tài sản cố định, cho vay đầu tư dự án, cho vay tài trợ xuất nhập
khẩu.
1.2.2.2. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: Loại tín dụng này có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để
bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn
của cá nhân. Đối với NHTM tín dụng ngân hàng chiếm tỷ trọng cao nhất.
Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam, tín
dụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được
7 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[8]
June 2012
đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng
sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi
vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: Theo quy định ở Việt Nam loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
Tín dụng dài hạn là loại tín dựng cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng
nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dung các xí nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các NHTM là cho vay ngắn hạn, nhưng từ những năm
70 trở lại đây các NHTM đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong những
nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ trọng cho vay trung và dài .
1.2.2.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự
bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài
chính mạnh, quản trị tài chính hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng mà không cần tài sản bảo đảm.
Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài sản thế
chấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với khách hàng không
có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Sự bảo đảm này
1.2.3. Vai trò của tín dụng
1.2.3.1. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ. Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn từ
những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế.
Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị trường tài chính đó là các nghiệp vụ tín dụng,
ngắn hạn, trung và dài hạn, nhưng nó đã bị cạnh tranh mạnh mãnh mẽ của các tổ chức
tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường này như: Công ty Bảo hiểm, các quỹ
đầu tư, công ty tài chính. Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và huy động những
ngồn vốn và các giấy tờ có giá ngắn hạn. Thị trường này hoạt động rất linh hoạt và
cung cấp một nguồn một nguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế. Do đó hoạt động tín dụng
ngân hàng đã giúp lưu thông vốn nhanh và phát triển ổn định nền kinh tế.
1.2.3.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
Hỗ trợ sự ra đời và bổ sung vốn, tạo điều kiên cho DNVVN mở rộng hoạt động sản
9 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[10]
June 2012
xuất kinh doanh
Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính thực hiện một trong
những chức năng chủ yếu của mình là tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi sau đó cho vay ra đối với nền kinh tế. Thông qua các hoạt động cho vay của
mình ngân hàng đã đảm bảo cho các doanh nghiệp không chỉ được hình thành hợp
pháp và duy trì sản xuất kinh doanh của mình mà còn tái sản xuất mở rộng.
Đối với các doanh nghiệp hiện nay, vốn vẫn luôn là vấn đề gây khó khăn
nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, tình trạng thiếu vốn của các doanh
nghiệp là phổ biến và nghiêm trọng. Hoạt động tín dụng của các NHTM là hình thức
tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp bởi tính linh hoạt của nó.
Hoạt động tín dụng của NHTM không chỉ mang đến nguồn vốn bổ sung nữa mà đã
dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Hoạt động tín dụng giúp cho các doanh nghiệp không
nghiệp về các vấn đề có liên quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản
xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy tính cạnh tranh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp
chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị,
quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị
trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện, không những thoả mãn
về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi
thoả mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Hoạt động của các nhà DNVVN
phải đạt hiệu quả kinh tế nhất định theo qui định chung của thị trường thì mới đảm
bảo đứng vững trong môi trường cạnh tranh. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu
của thị trường, DNVVN không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và
hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà còn phải không
ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu
mới, mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi
một khối lượng lớn vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh
nghiệp. Giải quyết khó khăn này, DNVVN có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn
thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là
chiếc cầu nối doanh nghiệp với thị trường, nguồn vốn tín dụng cấp cho các doanh
nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá
trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, theo kịp
với nhịp độ phát triển chung, từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc
trong cạnh tranh.
11 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[12]
June 2012
1.2.3.3. Vai trò của hoạt động tín dụng đối ngân hàng
Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm
bảo nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ để tạo
nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng. Trong quá trình hoạt động của các
mà đề ra các chỉ tiêu định tính để đánh giá, phân tích chất lượng tín dụng đối với
DNVVN. Các chỉ tiêu định tính thường được sử dụng là:
Các văn bản, quy định hiên hành về hoạt động tín dụng.
Chính sách điều hành, chiến lược kinh doanh của ban lãnh đạo trong từng thời kỳ
nhằm phù hợp với yêu cầu của thi trường.
Uy tín của ngân hàng đối với các khách hàng của mình qua các giai đoạn
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng bên trong và bên ngoài ngân hàng.
1.3.2.2. Chỉ tiêu định lượng
Đây là một chỉ tiêu dùng để lượng hóa chất lượng tín dụng của ngân hàng qua các
giai đoạn. Thông qua chỉ tiêu này cho ta thấy được chất lượng tín dụng của ngân hàng
được biểu diễn qua các con số, thể hiện:
Mức tăng dư nợ: Là chỉ tiêu phản ánh mức tăng lên hay giảm xuống của mức dư nợ
cho vay đối với một đối tượng nhất định trong một khoảng thời gian nhất định và
được tính bằng cách lấy dư nợ cuối kỳ trừ đi dư nợ đầu kỳ.
Tốc độ tăng trưởng dư nợ: Đây là chỉ tiêu phản ánh sự gia tăng về nhu cầu của
DNVVN và khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn của các ngân hàng. Chỉ tiêu này được
tính bằng cách lấy dư nợ cuối kỳ trừ đi dư nợ đầu kỳ rồi chia cho dư nợ đầu kỳ.
Tỷ trọng dư nợ đối với DNVVN: Đây là một chỉ tiêu cho biết dư nợ cho vay
DNVVN chiếm bao nhiêu % trong tổng dư nợ của ngân hàng. Chỉ tiêu này còn cho
ta biết được mức độ ưu tiên trong chính sách tín dụng của ngân hàng đối với khách
hàng là các DNVVN. Nó được tính bằng cách lấy dư nợ cho vay đối với DNVVN
chia cho tổng dư nợ cho vay của ngân hàng.
Cơ cấu dư nợ của DNVVN: Việc phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế và ngành
nghề kinh doanh nhằm mục đích đánh giá hiệu quả chất lượng hoạt động tín dụng.
Giúp ngân hàng phân định cụ thể những thành phần kinh tế và ngành nghề kinh
doanh hiện có thực sự hoạt động hiệu quả để có chiến lược tập trung, quan tâm cụ
13 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[14]
June 2012
thể.
cho vay
Dư nợ quá hạn của DNVVN
x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Theo quyết định 493/QĐ-NHNN, nợ xấu là những khoản nợ của khách hàng
14 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[15]
June 2012
thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 của quyết định này. Tỷ lệ
nợ xấu trên tổng dư nợ là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng
của các ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu cho
vay ngắn hạn
Nợ xấu của DNVVN
x 100%
Tổng dư nợ cho vay
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: Là lợi nhuận hàng năm mà ngân hàng thu được
từ hoạt động cho vay và thường được tính vào thời điểm cuối năm. Chỉ tiêu này
phản ánh kết quả của hoạt động cho vay nên là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với DNVVN
1.4.1. Yếu tố bên trong
Chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng của ngân hàng là định
hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Thông thường chính sách tín
dụng có các khoản mục sau: các loại cho vay được thực hiện, giới hạn tín dụng, kỳ
hạn cho vay, hướng giải quyết tín dụng vượt giới hạn, thanh toán nợ…vì thế nó có
quyết định to lớn đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Một chính sách tín
dụng đúng đắn, rõ ràng và phù hợp sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư thu
hút được nhiều khách hàng đảm bảo chất lượng tín dụng cho ngân hàng.
Chất lượng của công tác thẩm định tín dụng: Khi đến ngân hàng để xin được cấp tín
Vấn đề thông tin tín dụng: Trong nền kinh tế mở thì thông tin là một yếu tố rất quan
trọng, là một kho tàng quý báu cho những ai biết cập nhật và sử dụng hiệu quả thông
tin. Ngân hàng hoạt động trong một lĩnh vực rất nhạy cảm đối với nền kinh tế và đầy
tính rủi ro do đó thông tin càng cực kỳ quan trọng. Đối với nghiệp vụ tín dụng, ngân
hàng thường không đủ về thông tin về lợi tức tiềm ẩn và rủi ro kèm theo với dự án
mà người vay định tiến hành. Việc thiếu thông tin tạo ra sự lựa chọn đối nghịch, đó
là hiện tượng người vay tạo ra một kết cục không mong muốn là rủi ro không trả
được nợ. Do vậy nắm bắt không đầy đủ chính xác về thông tin sẽ ảnh hưởng đến
chất lượng tín dụng.
1.4.2. Yếu tố bên ngoài
Hoạt động của mỗi ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh tế - xã
hội. Một ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh doanh của mình
nhưng nếu môi trường kinh tế - xã hội không ổn định thì cũng khó mà thành công. Ta
có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế - xã hội đến chất lượng hoạt động tín
dụng của ngân hàng từ các yếu tố sau:
16 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[17]
June 2012
Môi trường kinh tế: Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể tham
gia nền kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,
chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên. Nhưng môi trường kinh tế
cũng có thể có những thay đổi bất ngờ. Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất thực tế
sẽ giảm xuống và nếu như ngân hàng không cân đối giữa các khoản mục bên nguồn
vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín dụng đó có thể không
mang lại hiệu quả như mong đợi. Cũng có thể có những biến động về tỷ giá hoặc
biến động về thị trường làm các cho nhóm khách hàng DNVVN kinh doanh thương
mại, nhập khẩu hàng hóa vay bằng ngoại tệ sẽ gặp trở ngại. Khan hiếm ngoại tệ đặc
biệt là ngoại tệ mạnh như USD, dẫn đến những khoản theo món hoặc theo hạn mức
tín dụng của khách hàng DNVVN sẽ có nguy cơ không thu xếp được nguồn USD để
trả lãi hàng tháng hoặc trả gốc cho Ngân hàng đến kỳ đáo hạn của khoản vay. Ngoài
sẽ không đảm bảo tính hiệu quả và khả thi dẫn đến khả năng trả nợ của doanh
nghiệp kém ảnh hưởng xấu tới chất lượng tín dụng.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn sai mục đích:
Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay ngân hàng không đúng phương án, mục đích xin
vay vốn hoặc trong quá trình kinh doanh có thể quay vòng vốn nhanh, bán hàng tốt,
thu tiền về sớm hơn dự kiến nhưng đầu tư vào mục đích khác, lĩnh vực khác. Các
nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn của
doanh nghiệp quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ cán bộ công nhân viên, nợ
người bán hàng, nợ ngân hàng, nợ các đối tượng khác…). Cơ cấu về vốn đầu tư của
doanh nghiệp không hợp lý, dùng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn dẫn đến
không trả được nợ đúng hạn.
Tất cả những nguyên nhân trên gây nên khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn
của khách hàng đối với ngân hàng làm gia tăng những khoản nợ quá hạn, nợ xấu của
NHTM.
Đạo đức của khách hàng (DNVVN): Việc không trả nợ đúng hạn có thể xuất phát từ
khả năng chi trả yếu kém của khách hàng, cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan
của người đi vay không muốn trả nợ (Mặc dù có khả năng nhưng không muốn thực
hiện). Hiện tại, đã và đang có rất nhiều khách hàng cố tình lập hồ sơ giả bằng các
thủ đoạn rất tinh vi để qua mặt ngân hàng thông qua việc nghiên cứu rất kỹ lưỡng
quy trình tín dụng của ngân hàng hay kẽ hở của luật pháp để đạt được mục đích vay
tiền và lẩn trốn. Với việc ngày càng có nhiều ngân hàng được thành lập, với kinh
nghiệm non trẻ cùng với sức ép phải đảm bảo về doanh số cho vay và lợi nhuận phải
đạt được theo kế hoạch kinh doanh, nên một số ngân hàng tại một số chi nhánh,
phòng giao dịch đã chấp nhận rủi ro cho vay đối với các khách hàng kém chất lượng
và dẫn tới việc chất lượng tín dụng không được bảo đảm.
18 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[19]
June 2012
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của chuyên đề đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản, các tiêu chí và vai
vay ở mức 30.000 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 754 tỷ đồng
SHB Hà Nội được thành lập theo quyết định thành lập số SHB 98/TTG ngày
10/10/2006 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP SHB. Tại thời điểm thành lập, SHB
Hà Nội có 03 Phòng giao dịch bao gồm các phòng giao dịch Hoàng Quốc Việt, phòng
giao dịch Trần Duy Hưng và phòng giao dịch Hoàn Kiếm, với tổng số công nhân viên
là 42 người. Trải qua quá trình phát triển tới nay, SHB Hà Nội đã có những bước phát
triển vượt bậc với hệ thống 21 phòng giao dịch được phân bố trên toàn địa bàn Hà Nội,
với tổng số lượng công nhân viên là 296 người. Tổng hợp quy mô của SHB Hà Nội
qua các năm:
20 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[21]
June 2012
21 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[22]
June 2012
Bảng 2.1: Quy mô hoạt động của SHB Hà Nội qua các năm
Chỉ tiêu/năm 2009 2010 2011
Tổng tài sản ( tỷ đồng) 4.120,38 5.678,79 6.008,80
Lợi nhuận sau thuế ( tỷ đồng)
32.19 95.95 120.29
Số lượng các PGD (phòng) 18 20 21
Số lượng công nhân viên ( người) 144 195 296
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của SHB giai đoạn 2009 – 2011).
22 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11
[23]
June 2012
2.1.2. Cơ cấu, tổ chức bộ máy của SHB Hà Nội.
Hình 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy SHB Hà Nội
Giám đốc
Phó Giám đốc 1
với diễn biến của thị trường, quyết định các chính sách về quản lý rủi ro tín dụng,
thường xuyên giám sát hoạt động kinh doanh, hoạt động kiểm soát nội bộ và hoạt
động quản lý rủi ro trong ngân hàng.
Bộ máy hoạt động của chi nhánh ngân hàng được tổ chức tương đối gọn nhẹ gồm
các bộ phận kinh doanh (Phòng Dịch vụ khách hàng, Phòng quan hệ khách hàng
doanh nghiệp và cá nhân), Khối Back-Office (Gồm phòng công nghệ thông tin ,
Phòng kế toán và Phòng hỗ trợ tín dụng, thanh toán quốc tế, phòng tái thẩm và
phòng hành chính quản trị) và các Phòng Giao Dịch trực thuộc (gồm bộ phận
DVKH, bộ phận tín dụng và bộ phận ngân quỹ). Đứng đầu mỗi phòng ban chi nhánh
là các Trưởng phòng hoặc tại các Phòng giao dịch trực thuộc là Giám đốc phòng
giao dịch. Giữa các phòng ban có sự trao đổi thông tin thường xuyên qua các cuộc
họp ban điều hành, họp giao ban và các cuộc họp theo chuyên đề.
Bộ phận quản lý rủi ro của chi nhánh tập trung ở trụ sở chi nhánh bao gồm có phòng tái
thẩm định, phòng hỗ trợ tín dụng, tổ xử lý nợ. Bộ phận quản lý rủi ro thực hiện
nhiệm vụ tái thẩm các khoản tín dụng vượt mức phán quyết tín dụng của từng cấp
đối với cá nhân, tổ chức kinh tế, và định chế tài chính, rà soát rủi ro, kiểm soát việc
giải ngân toàn chi nhánh và đề ra các phương án xử lý nợ xấu. Định kỳ xây dựng cơ
cấu dư nợ theo loại tiền, ngành nghề, địa bàn kinh doanh, xây dựng các chính sách
tín dụng khách hàng trên định hướng các chính sách, chỉ tiêu của hội sở, theo dõi
việc trích lập - sử dụng dự phòng, và báo cáo kịp thời cho Ban giám đốc về chất
lượng tín dụng.
2.1.3. Nhiệm vụ hoạt động của SHB chi nhánh Hà Nội.
Huy động vốn:
o Khai thác, nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác
trong và nước ngoài dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và
các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ.
25 Nguyễn Ngọc Doanh | NHH – K11