TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Quản trị vốn lưu động ròng tại công ty
cổ phần xuất nhập khẩu than Coalimex
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Hiền Linh
Lớp : Anh 4
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thúy Anh Hà Nội - 11/2009 MỤC LỤC
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
3.3. QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU 25
3.3.1. KHÁI NIỆM KHOẢN PHẢI THU 25
3.3.2. CHÍNH SÁCH BÁN CHỊU 26
3.3.3. QUẢN TRỊ CHÍNH SÁCH BÁN CHỊU 28
3.4. QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI TRẢ 32
3.4.1. KHÁI NIỆM KHOẢN PHẢI TRẢ 32
3.4.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA KHOẢN PHẢI TRẢ 32
3.4.3. PHƢƠNG PHÁP QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI TRẢ 36
4. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ VỐN LƢU
ĐỘNG RÒNG CỦA DOANH NGHIỆP 36
4.1. CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ NHU CẦU VỐN LƢU ĐỘNG RÒNG 36
4.2. CHỈ TIÊU KHẢ NĂNG THANH TOÁN 37
4.2.1. HỆ SỐ THANH TOÁN NGẮN HẠN 37
4.2.2. HỆ SỐ THANH TOÁN NHANH 37
4.2.3. HỆ SỐ THANH TOÁN TỨC THỜI 37
4.3. CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ SỬ DỤNG 37
4.3.1. SỐ VÒNG QUAY VỐN LƢU ĐỘNG RÒNG 37
4.3.2. SỐ VÒNG QUAY HÀNG TỒN KHO 38
4.3.3. SỐ VÒNG QUAY KHOẢN PHẢI THU 38
4.3.4. SỐ VÒNG QUAY KHOẢN PHẢI TRẢ 38
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG
RÒNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN COALIMEX
40
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN
COALIMEX 40
1. QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 40
2. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN COALIMEX 41 3
CHƢƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG RÒNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
XUẤT NHẬP KHẨU THAN COALIMEX 70
I. MỤC TIÊU PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TRONG
THỜI GIAN TỚI 70
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG RÒNG TRONG CÔNG TY CỔ
PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU THAN COALIMEX 73
1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÔNG TY 73
1.1. VỀ NHU CẦU VỐN LƢU ĐỘNG RÒNG VÀ SỐ VÒNG QUAY VỐN
LƢU ĐỘNG RÒNG 73
1.2. VỀ QUẢN TRỊ TIỀN MẶT CỦA CÔNG TY 78
1.3. VỀ QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO CỦA CÔNG TY 81
1.4. VỀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU CỦA CÔNG TY 82
1.5. VỀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI TRẢ CỦA CÔNG TY 85
1.6. MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ TIÊU
THỤ SẢN PHẨM 86
2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC 89
2.1. HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THÔNG TIN KẾ TOÁN 90
2.2. BAN HÀNH NHỮNG CHÍNH SÁCH NGOẠI THƢƠNG HỖ TRỢ
NGÀNH XUẤT KHẨU THAN 90
2.3. CẢI THIỆN CÁC THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 91
2.4. ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ 91
2.5. TIẾN HÀNH HOÀN THIỆN, ĐỒNG BỘ CÁC BỘ LUẬT 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay, nâng cao hiệu quả kinh doanh
luôn là mục tiêu hàng đầu của bất kì doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển
bền vững. Để có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì việc quản
lý vốn đặc biệt là vốn lưu động ròng luôn là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp.
Với các doanh nghiệp thương mại nói chung và các doanh nghiệp thương
mại đã cổ phần hóa nói riêng, vốn lưu động ròng là loại vốn quan trọng nhất phục
vụ trực tiếp cho quá trình kinh doanh lưu chuyển hàng hóa và thường chiếm tỷ
trọng lớn tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động ròng được xác
định là mức chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Trên thực
tế, quản trị các loại tài sản lưu động có liên quan chặt chẽ đến quản trị các tài sản
ngắn hạn của doanh nghiệp nên thuật ngữ “quản trị vốn lưu động ròng” thường
được sử dụng để đề cập tới sự quản lí tất cả các loại tài sản lưu động và các khoản
nợ ngắn hạn. Do đó, việc sử dụng hiệu quả vốn lưu động ròng được các nhà quản trị
rất quan tâm vì vốn lưu động ròng luôn biến đổi không ngừng và là nhân tố có ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Một khi không
có phương thức thích hợp để quản lý hiệu quả dòng ngân lưu từ hoạt động kinh
doanh, như nguồn vốn tồn đọng quá nhiều trong hàng tồn kho và các khoản phải
thu, một công ty kinh doanh có lãi vẫn có thể bị phá sản do mất khả năng thanh
toán. Vì vậy, đã đến lúc, các nhà quản trị cần nhận ra rằng bên cạnh lợi nhuận, thì
quản trị vốn lưu động ròng sẽ đóng vai trò quyết định cho sự tồn vong của một công
ty.
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu than Coalimex, một doanh nghiệp thương
mại của tổng công ty than Việt Nam. Bên cạnh những thành tích, công ty không thể
tránh khỏi những khó khăn tồn tại nhất định, nhiều vấn đề đặt ra còn tiếp tục cần
được giải quyết như việc quản trị vốn lưu động ròng. Qua thời gian thực tập tại
công ty cổ phần xuất nhập khẩu than Coalimex em đã nhận thấy được tầm quan
trọng và tính cấp thiết của vấn đề này. Với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng
than Coalimex.
5. Kết cấu khóa luận
Nội dung của khóa luận chia làm 3 chương: 3
Chƣơng I : Những lý luận cơ bản về vốn lƣu động ròng và quản trị vốn
lƣu động ròng trong doanh nghiệp
Chƣơng II : Thực trạng hoạt động quản trị vốn lƣu động ròng của công
ty cổ phần xuất nhập khẩu than Coalimex
Chƣơng III : Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị
vốn lƣu động ròng tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu than Coalimex
Do thời gian và trình độ của người thực hiện khóa luận còn nhiều hạn chế
nên đề tài thực hiện chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất
mong được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô, và của các cô chú trong
công ty cổ phần xuất nhập khẩu than Coalimex để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hiện nay, ngoài thuật ngữ vốn lưu động ròng người ta còn nhắc đến vốn lưu
động trong doanh nghiệp. Vậy hai thuật ngữ này có điểm gì khác nhau?
Theo quan điểm của tác giả, về cơ bản, hai thuật ngữ này không có sự khác
nhau, vốn lưu động ròng thường được gọi tắt thành vốn lưu động. Tuy nhiên, khi
phân tích vốn lưu động ròng ta phải xét đến mối liên hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ
ngắn hạn, mối tương quan giữa hai yếu tố này.
Từ định nghĩa trên, ta có thể xác định vốn lưu động ròng trong doanh nghiệp
chính là sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn ( bao gồm hàng tồn kho, khoản phải
thu, vốn bằng tiền) trừ đi nợ ngắn hạn ( khoản phải trả). Đây là một chỉ tiêu quan
trọng đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, vốn lưu động ròng phản ánh
khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
2. Nội dung của vốn lƣu động ròng 1
Phân tích tài chính doanh nghiệp – Tập thể tác giả - NXB Thanh niên - 2000
2
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – Nguyễn Tấn Bình – Niên khóa 2008-2009 5
Nguồn vốn lưu động ròng được xác định là tổng giá trị các tài sản ngắn hạn
trừ các khoản nợ ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp: phản ánh giá trị của tài sản ngắn hạn
của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển ngắn (không quá một năm hoặc một chu
kỳ sản xuất kinh doanh). Theo chuẩn mực kế toán VAS 21, tài sản ngắn hạn của
doanh nghiệp được chia thành 5 mục sau:
- Tiền : bao gồm tiền mặt tại quỹ (gồm cả ngân phiếu), tiền gửi ngân hàng,
tiền đang chuyển. Loại này có tính lưu động cao nhất.
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Là các khoản đầu tư chứng khoán,
6
Nguyên tắc cơ bản của tài chính là tài sản ngắn hạn phải được hình thành từ
nguồn vốn ngắn hạn. Cách tài trợ này giúp cho doanh nghiệp có được sự ổn định,
an toàn về mặt tài chính. Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh, các giao dịch tài
chính không phải lúc nào cũng diễn ra theo nguyên tắc đó. Chính vì vậy xuất hiện
sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và các nguồn vốn ngắn hạn. Khoản chênh lệch
đó chính là vốn lưu động ròng. Vốn lưu động ròng là một chỉ tiêu rất quan trọng cho
việc đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp . Chỉ tiêu này cho biết doanh
nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn hay không.
- Vốn lưu động ròng > 0
Trong trường hợp này nguồn tài trợ từ các nguồn vốn là tốt. Toàn bộ tài sản
cố định được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn một cách rất ổn định. Doanh nghiệp
không những đủ vốn dài hạn tài trợ cho các tài sản cố định của mình mà còn thừa để
tài trợ cho các nhu cầu ngắn hạn. Đồng thời, khi vốn lưu động ròng dương cũng có
nghĩa là tổng tài sản lưu động lớn hơn nợ ngắn hạn. Điều đó chứng tỏ doanh nghiệp
có khả năng thanh toán tốt, có thể trang trải được các khoản nợ ngắn hạn với tài sản
quay vòng nhanh.
- Vốn lưu động ròng < 0
Trong trường hợp này, tài sản cố định lớn hơn nguồn vốn dài hạn. Điều này
có nghĩa rằng, doanh nghiệp đã dùng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho đầu tư dài
hạn. Điều này khá nguy hiểm bởi khi hết hạn vay thì phải tìm ra nguồn khác để thay
thế. Đây chỉ là một giải pháp tình thế. Nếu điều này xảy ra liên tục thì sự tồn tại của
doanh nghiệp bị đe dọa, doanh nghiệp có thể bị đẩy tới giải pháp là bán tài sản cố
định hay là thanh lý. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp không tốt và khả năng
rủi ro cao do tài sản cố định phải tài trợ bằng nợ ngắn hạn.
- Vốn lưu động ròng = 0 ( rất ít khi xảy ra)
Tình hình tài chính của doanh nghiệp như vậy là tương đối lành mạnh.
Nguồn vốn dài hạn đủ để tài trợ cho tài sản cố định. Còn tài sản lưu động đủ để
trang trải các khoản nợ ngắn hạn.
Ý nghĩa của việc phân tích vốn lưu động ròng: Đây là một chỉ tiêu quan
của vốn lưu động ròng.
- Tăng (giảm) hàng tồn kho: Tăng (giảm) hàng tồn kho phản ánh mối quan
hệ giữa thu (từ hàng xuất bán) và chi (mua hàng nhập kho), tức là nó liên quan đến
luồng tiền vào và luồng tiền ra của doanh nghiệp trong kỳ. Nếu hàng tồn kho cuối
kỳ tăng so với đầu kỳ chứng tỏ số hàng mua vào trong kỳ nhiều hơn số hàng xuất
bán trong kỳ. Điều này phụ thuộc vào chính sách sản xuất của mỗi doanh nghiệp, có
thể tạo nên một lượng dự trữ hàng hóa lớn làm tăng lượng hàng tồn kho, hay tùy
theo loại hình doanh nghiệp như các doanh nghiệp làm theo thời vụ, thì đến mùa vụ 8
số lượng hàng tồn kho sẽ giảm mạnh. Việc tăng (giảm) hàng tồn kho cũng làm tăng
(giảm) tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, điều này sẽ ảnh hưởng vốn lưu động
ròng của doanh nghiệp.
- Tăng (giảm) các khoản phải trả: Các khoản phải trả thể hiện số doanh
nghiệp đã có nhưng chưa trả tiền người cung cấp. Nếu các khoản phải trả cuối kỳ
giảm so với đầu kỳ chứng tỏ trong kỳ doanh nghiệp đã chi tiền để thanh toán các
khoản phải trả kỳ trước chuyển sang. Việc tăng (giảm) khoản phải trả trong kỳ sẽ
ảnh hưởng đến sự tăng (giảm) nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Nếu yếu tố này tăng
quá cao, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không đủ để tài trợ cho nợ ngắn hạn sẽ
dẫn đến ảnh hưởng không tốn của doanh nghiệp.
II. Quản trị vốn lƣu động ròng trong doanh nghiệp
1. Nhu cầu vốn lƣu động ròng của doanh nghiệp
Trong chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp phát sinh nhu cầu vốn lưu động.
Nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp là lượng vốn mà doanh nghiệp cần để
tài trợ cho một phần của tài sản ngắn hạn gồm hàng tồn kho và các khoản phải thu.
Nhu cầu vốn lưu động ròng được xác định theo công thức sau :
Nhu cầu vốn lưu động ròng = (Tồn kho + Khoản phải thu) – Nợ ngắn hạn
Trong thực tế, có thể xảy ra những trường hợp sau:
Nhu cầu vốn lưu động ròng âm tức là khoản tồn kho và các khoản phải thu
là +2. Để tài trợ cho phần chênh lệch này, doanh nghiệp cần phải sử dụng vốn lưu
dộng ròng tức là phần vốn dài hạn không dùng để tài trợ tài sản cố định. Trong
trường hợp này vốn lưu động ròng bằng 3 đủ bù vào nhu cầu phần trên. Còn lại 1
phần nguồn vốn mà doanh nghiệp không sử dụng tới, có hình thức vốn bằng tiền để
trong ngân quỹ. Như vậy, vốn lưu động ròng của doanh nghiệp không những đáp
ứng đủ nhu cầu về vốn mà còn dư tiền trong quỹ. Đối với các doanh nghiệp có nhu
cầu vốn lưu động ròng dương một cách thường trực như trường hợp trên thì vốn dài
hạn không những tài trợ cho tài sản cố định mà còn tài trợ cho một phần sử dụng
ngắn hạn nữa. Do đó, vốn lưu động ròng buộc phải dương thì tình hình tài chính
công ty mới lành mạnh.
Trường hợp 2: Tồn kho và khoản phải thu là +4, nợ ngắn hạn là +5, giả định
vốn lưu động ròng của doanh nghiệp là +2. Trong trường hợp này, nợ ngắn hạn lớn
hơn các khoản phải thu và toàn bộ tồn kho (5>4). Như vậy, vay ngắn hạn từ bên
ngoài thừa đủ để tài trợ cho các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp. Từ đó ta thấy,
nhu cầu vốn lưu động ròng của doanh nghiệp là âm (-1). Vốn lưu động ròng dương
(2). Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là +3. Ta có thể thấy doanh nghiệp quá nhiều
tiền nhàn rỗi chưa dùng đến, nếu tình trạng này là tạm thời thì có thể chấp nhận đc.
Thí dụ doanh nghiệp sắp được giao máy móc hoặc hàng hóa, lúc đó bên sử dụng 10
của bảng cân đối kế toán tăng lên,sự chênh lệch sẽ giảm hoặc mất đi, đồng thời
doanh nghiệp phải dùng vốn bằng tiền trong quỹ để thanh toán. Nếu đây là một tình
trạng lâu dài của doanh nghiệp thì ta có thể đánh giá rằng doanh nghiệp quá lãng phí
trong việc sử dụng vốn. Vốn lưu động ròng dương trong trường hợp này là không
cần thiết. Nguồn vốn dài hạn bằng tài sản cố định là đủ.
Trường hợp 3: Tồn kho và khoản phải thu là +5, nợ ngắn hạn là +2, giả định
vốn lưu động ròng là +1. Trong trường hợp này, tồn kho và khoản phải thu lớn hơn
nợ ngắn hạn (5>2). Nghĩa là nhu cầu về vốn lưu động ròng của doanh nghiệp là lớn
hơn không(+3). Trường hợp này vốn lưu động ròng chỉ là +2. Như vậy vốn lưu
- Động cơ hoạt động, giao dịch là một việc bình thường ở mọi doanh
nghiệp, mức tồn quỹ tiền mặt được hoạch định nhằm đáp ứng kịp thời các khoản chi
tiêu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Động cơ dự trữ là một hành động dự phòng trước khả năng gia tăng nhu
cầu chi tiêu do tăng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhanh chóng đáp
ứng những cơ hội kinh doanh đột xuất.
- Động cơ đầu cơ là một phản ứng trước dự báo khan hiếm, biến động giá cả
hàng hóa nguyên vật liệu hoặc sự biến động về tỉ giá hối đoái trên thị trường.
3.1.3. Các yếu tố của hoạt động quản trị tiền mặt
a. Tăng tốc độ thu hồi
Một nguyên tắc đơn giản trong quản trị tiền mặt là tốc độ thu hồi những tấm
séc được nhận và chậm viết séc chi trả. Nguyên tắc này cho phép công ty duy trì
mức chi tiêu tiền mặt trong nhiều giao dịch kinh doanh ở một mức thấp hơn, do đó
có nhiều tiền hơn cho đầu tư. Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt và giảm chi tiêu có liên
quan chặt chẽ với nhau trong quản trị tiền mặt.
Doanh nghiệp cần áp dụng nhiều biện pháp để đảm bảo rằng một khi một
khoản nợ được thanh toán thì tiền được đưa vào đầu tư càng nhanh càng tốt. Quy
trình này có thể được thực hiện bằng cách thiết lập một hệ thống thanh toán tập
trung qua ngân hàng. Hệ thống này là một mạng lưới các tài khoản ký thác tại các
ngân hàng, những tài khoản này cho phép doanh nghiệp duy trì các tài khoản tiền
gửi của họ. Đồng thời, các ngân hàng cũng mở các tài khoản chi tiêu cho doanh
nghiệp nhằm thực hiện và duy trì khả năng thanh toán, chi trả của họ. Bên cạnh đó,
tại nhiều quốc gia phát triển việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán cho các doanh
nghiệp còn được phối hợp tiến hành qua các hộp thư bưu điện (nghiệp vụ chuyển,
phát tiền nhanh).
b. Giảm tốc độ chi tiêu 4
Quản trị tài chính ngắn hạn – Nguyễn Tấn Bình – NXB Thống kê - 2007
đồng thời cũng phải liên tục chi tiền ra, theo một tỷ lệ ổn định.
- Nhu cầu tiền mặt trong một kỳ đoạn cụ thể (tháng, quý, năm) của công ty
có thể dự báo trước một cách chính xác. 13
- Khi số dư tiền mặt ban đầu giảm xuống bằng không, hay ở mức an toàn tối
thiểu, thì số dư tiền mặt lập tức sẽ được tăng lên do việc bán ra chứng khoán với
khối lượng xác định nhằm đạt được số dư tiền mặt ban đầu.
Tổng chi phí cho việc tồn quỹ tiền mặt sẽ gồm: chi phí giao dịch (chuyển đổi
chứng khoán về tiền mặt) và chi phí cơ hội của tiền mặt tồn quỹ.
Tổng chi phí = Chi phí giao dịch + Chi phí cơ hội
Công thức: Tổng chi phí(Z) =
2
C
r
C
14
Mức tồn quỹ tối ưu là: C =
r
FT2
, ta có: C =
%12
1000864,02
= 120 triệu đồng
Với tổng chi phí tối thiểu Z cho quyết định quản trị tiền mặt theo mô hình
này sẽ là:
Z =F
2
C
r
C
T
tối ưu để tổng chi phí Z đạt tối thiểu nếu như các giả định để áp dụng mô hình là
không chính xác.
Sự đơn giản hóa các mô hình bắt nguồn từ việc đơn giản hóa các chi phí
trong mô hình :
- Tổng nhu cầu tiền mặt T trong tương lai phụ thuộc hoàn toàn vào sự chính
xác tuyệt đối của việc dự báo nhu cầu tiền mặt.
- Chi phí giao dịch F cố định cho mỗi lần giao dịch, là một giả định hoàn
toàn không phù hợp với thực tế hoạt động của nhiều công ty cũng như điều kiện của
thị trường tiền tệ. Nhiều loại giao dịch, chẳng hạn “tài khoản ủy thác” có chi phí
giao dịch không căn cứ vào số lần mà là theo giá trị của giao dịch.
- Tiền mặt thì được nhận về theo định kỳ trong khi mức chi tiêu lại phải liên tục.
b. Mô hình Miller – Orr
Mô hình Miller – Orr được xây dựng trên hai giả định:
Giả định thứ nhất, giả định dòng ngân lưu của công ty là biến động ngẫu
nhiên và hoàn toàn không thể dự báo được. Tất nhiên có những khoản chi có thể
biết trước chẳng hạn như tiền lương hay trả nợ ngân hàng, nhưng hầu hết dòng tiền
của công ty là không thể dự báo. 15
Giả định thứ hai, số dư tiền mặt chỉ dao động trong phạm vi giới hạn trên và
giới hạn dưới.
Miller – Orr giải xác định hai “ mốc hành động” còn gọi là “ các giới hạn
kiểm soát” của số dư tiền mặt. Hai mốc này là các tín hiệu để quyết định mua, bán
chứng khoán.
Giới hạn trên U là tín hiệu mua vào một giá trị chứng khoán C đủ để làm tiền
mặt dư thừa giảm xuống mức tồn quỹ tối ưu.
Giới hạn dưới L là tín hiệu bán ra một giá trị chứng khoán C đủ để làm tồn
quỹ tiền mặt tăng lên đến mức tồn quỹ tối ưu.
Đồ thị minh họa
4
3
r
F
Trong đó
C: Số tiền chuyển đổi (mua, bán chứng khoán) tối ưu
F: Chi phí giao dịch chứng khoán cố định mỗi lần
2
: Phương sai của ngân lưu ròng hàng ngày
r : Chi phí sử dụng vốn (lãi suất) ngày
Ví dụ :
Ta vẫn dùng ví dụ của công ty A trên đây, trong mô hình Baumol công ty
phải dự đoán nhu cầu tiền mặt của mình một cách chính xác. Nhưng việc dự báo
nhu cầu ngân lưu là không đơn giản. Khi đó, ta áp dụng mô hình Miller-Orr.
Trước hết ta tính được phương sai của ngân lưu ròng là 1000 triệu đồng, chi
phí sử dụng vốn bình quân ngày là 0,33% (12% :360 ngày)
Áp dụng công thức : C =
3
2
4
3
r
F
=
3
%33,04
17
+ Mô hình này cho phép số dư tiền mặt biến động một cách ngẫu nhiên thay vì
phụ thuộc hoàn toàn vào con số giả định do cả năng dự báo của nhà quản trị cung cấp.
+ Mô hình này cho phép số dư tiền mặt biến động cả tăng lẫn giảm, khác với
giả định mô hình Baumol là biết được chính xác thời điểm cần bổ sung tiền mặt sau
khi giảm một số tiền nhất định.
- Nhược điểm:
+ Có những giả định trong mô hình đòi hỏi đáp ứng một cách nghiêm ngặt,
đó là bản chất thống kê của dòng ngân lưu. Mô hình cho rằng chúng biến động theo
phân phối chuẩn với phương sai cố định. Nhưng thực tế cho thấy dòng ngân lưu
công ty không phải bao giờ cũng tuân theo phân phối chuẩn và có mối tương quan
theo thời gian.
+ Cũng như mô hình Baumol, mô hình Miller- Orr thuộc dạng quá cứng
nhắc. Ví dụ, tại sao giám đốc tài chính phải bán ra chứng khoán khi tín hiệu của mô
hình xuất hiện, tức là số dư tiền mặt xuống bằng giới hạn dưới, trong khi biết rõ chỉ
ngay hôm sau thôi, công ty sẽ nhận được một số tiền khá lớn từ tài khoản vãng lai.
c. Mô hình Stone
Mô hình này cải tiến tính thực tiễn của quá trình tối ưu hóa ở mô hình Miller-
Orr bằng cách cho phép nhà quản trị căn cứ vào nhận thức và kinh nghiệm của mình
về dòng ngân lưu công ty để lựa chọn một mô hình thích hợp.
Mô hình này hứa hẹn sẽ tiết kiệm một khoản chi phí khá lớn do sẽ có những
lúc nhà quản trị nhận thấy mặc dù số dư tiền mặt xuống giới hạn dưới L nhưng
không có một chứng khoán nào được bán ra, bởi vì nhà quản trị biết được công ty sẽ
sớm nhận được một khoản tiền lớn.
Ngược lại, mặc dù số dư tiền mặt tăng lên đến giới hạn trên U nhưng không
có một chứng khoán nào được mua vào, bởi vì nhà quản trị biết được công ty sẽ
sớm phải chi ra một khoản tiền lớn.
Ngoài ra, mô hình cũng thấy chi phí thiệt hại do việc thiếu hụt tiền mặt chỉ
trong một số ngày cho phép là rất nhỏ. Do đó, nhà quản trị không cần phải bán hay
mua chứng khoán ngay khi thấy số dư tiền mặt vượt ra khỏi “giới hạn kiểm soát” U
6
7
8
9
10
0
90
(40)
50
10
20
(70)
(100)
80
(30)
45
200
290
250
300
310
330
260
160
240
210
255
Đầu tiên ta sẽ tính số dư tiền mặt của công ty, như bảng trên.
Sau đó, điều chỉnh các điểm giới hạn:
kiểm soát: L hay U theo Miller-Orr. Thay vào đó, nhà quản trị có thể đưa ra các
điểm giới hạn này dựa theo kinh nghiệm thực tiễn của mình. Và thêm vào đó là sử
dụng mô phỏng để dự báo dòng ngân lưu hàng ngày.
- Nhược điểm:
+ Mô hình không đề cập đến chi phí tối ưu.
3.2. Quản trị hàng tồn kho
3.2.1. Khái niệm hàng tồn kho
Hàng tồn kho bao gồm vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hóa trong kho, hàng
gửi bán, hàng đi đường, sản phẩm dở dang… Những tài sản này có thời gian luân
chuyển ngắn, thường không quá một năm và có giá trị thấp nên được xếp vào tài sản
lưu động (tuy nhiên có nhưng doanh nghiệp có hàng ứ đọng trong kho lâu ngày do
phẩm chất sản phẩm, vật liệu kém không tiêu thụ được hoặc không dùng cho sản
xuất… làm chậm quay vòng hàng tồn kho có thể có thời gian luân chuyển trên một
năm nhưng đó không phải là tài sản cố định vì nó có giá trị thấp và đặc tính của nó
là luân chuyển nhanh)
3.2.2. Mục đích của quản trị hàng tồn kho