thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam - Pdf 13

Mục lục
Trang
Lời nói đầu
Nội dung
Chơng I. Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế
1. Xu thế toàn cầu hoá hiện nay
1.1. Khái niệm chung về toàn cầu hoá
1.2. Tính tất yếu của toàn cầu hoá
1.3. Hai mặt của toàn cầu hoá
2. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
2.1. Việt Nam tất yếu, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.Nội dung và hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
2.2.1. Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
2.2.2. Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế
2.2. Một số lợi ích bớc đầu nớc ta đạt đợc trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế
Chơng II. Tiến trình thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam
1. Tiến trình hội nhập (trong thời gian vừa qua) của Việt Nam
2. Thực trạng hội nhập kinh tế của Việt Nam hiện nay
2.1. Việt Nam trong lộ trình AFTA
2.2. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ
2.3. Quan hệ kinh tế thơng mại Việt - Trung
2.4. Việt Nam với Liên minh Châu Âu EU
2.5. Việt Nam với tổ chức thơng mại thế giới WTO
3. Những khó khăn của nớc ta trong tiến trình hội nhập hiện nay
3.1. Trình độ phát triển thấp của nền kinh tế Việt Nam với hai đặc tr-
ng nghèo nàn và lạc hậu
3.2. Khó khăn thứ hai bắt nguồn từ đặc trng Việt Nam đang trong
quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng.
3.3. Làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế mà vẫn độc lập tự chủ

Việt Nam thì ngày nay, qua báo chí, truyền thanh truyền hình hàng ngày chúng
ta có thể thấy các tổ chức quốc tế, khu vực, các hoạt động văn hoá thể thao,
chính trị, đặc biệt là kinh tế diễn ra tại Việt Nam.
Chính trị ngoại giao có sự kiện: Tổng thống Mỹ Biclintơn và gia đình đến
Việt Nam vào tháng 4 - 2001 (bây giờ là cựu tổng thống).
Văn hoá thể thao có: Liên hoan quốc tế tại Việt Nam, thể thao Việt Nam
quen thuộc với các huy chơng vàng, bạc ngang tầm với khu vực quốc tế. năm
2002 Seagame 22 diễn ra tại nớc ta
Nổi bật nhất là kinh tế: Các Hội nghị khu vực, quốc tế tại Việt Nam, đó là
hội nghị EMM - 3 và ASM - 33, Việt Nam là thành viên của ASEAN, Hiệp định
Thơng mại Việt - Mỹ ký kết
Đồng thời nhìn ra thế giới ta cũng có thể thấy các quốc gia ngày càng gần
nhau hơn: ta có ASEAN 10 thành viên đầy đủ, các quốc gia Châu Âu hình thành
đồng tiền chung ERO. Trung Quốc gia nhập WTO, toàn cầu hoá hay hội nhập
quốc tế không còn xa lạ với chúng ta nữa. Và hơn bao giờ hết, bài toán hội nhập
kinh tế quốc tế đã làm đau đầu không chỉ Chính phủ mà đối với mỗi một doanh
nghiệp, mỗi một chủ thể tham gia vào nền kinh tế nớc ta. Chúng ta không thể
không hội nhập kinh tế quốc tế nhng chung ta hội nhập nh thế nào, chúng ta
đang có những thuận lợi và phải khắc phục khó khăn nào để hội nhập kinh tế với
khu vực và quốc tế.
Đảng và Nhà nớc ta đã và đang từng bớc đề ra phù hợp đúng đắn cho vấn
đề hội nhập kinh tế quốc tế.
Năm 1997 Luật Đầu t nớc ngoài ra đời cũng thể hiển chủ trơng của Đảng
đợc xác định qua đại hội VIII (1996) "đẩy nhanh quốc tế hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới". Đại hội Đảng (4/2001) vừa qua cũng đã xác định bối cảnh quốc
tế trong giai đoạn 2000 - 2010, đó là "Toàn cầy hoá kinh tế là xu thế khách
quan, lôi cuốn các nớc vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính
tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế" cũng chính vì vậy Đại hội Đảng IX
3
cũng khẳng định quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế: "Gắn chặt việc xây dựng

Thứ nhất: là sự gia tăng mạnh mẽ, vợt khỏi các đờng biên giới quốc gia tới
quy mô quốc tế, của các luồng giao lu hàng hoá, dịch vụ thơng mại, đầu t, tài
chính, công nghệ, công nghệ nhân lực.
Thứ hai là: sự hình thành và phát triển các thị trờng thống nhất trên phạm
vi toàn cầu và khu vực, cũng nh sự hình thành và phát triển các định chế và các
cơ chế điều tiết quốc tế để quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế.
Thực tế không phải bây giớ toàn cầu hoá mới bắt đầu hình thành và phát
triển, mà nó đã có tiền đề từ rất lâu trong lịch sử. Có ngời cho rằng những tiền đề
5
này đã có từ thời kỳ mở đầu của chủ nghĩa t bản, trên cơ sở quá trình xã hội hoá
của lực lợng sản xuất trên qui mô thế giới. Chính vì thế phải khẳng định lại rằng
toàn cầu hoá là một quá trình. Hơn nữa, đây là một xu thế khách quan là quy luật
tất yếu trong sự phát triển của xã hội loài ngời. Khẳng định trên dựa vào những
căn cứ, cơ sở thực tế sau:
1.2. Tất yếu của toàn cầu hoá:
Một là, một nền chủ nghĩa toàn cầu đang xuất hiện.
Thế giới đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp : lần thứ I: từ thế kỷ
XVIII, lần thứ II từ cuối thế kỷ XIX và lần thứ III từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại
đây. Những tiến bộ về khoa học - kỹ thuật và công nghệ của ba cuộc cách mạng
này đã làm giảm chi phí vận tải quốc tế xuống cả chục lần và giảm chi phí liên
lạc viễn thông xuống vài trăm lần; đã có tác động cực kỳ quá trình đến toàn bộ
quan hệ kinh tế quốc tế, đã biến các công nghiệp mang tính quốc gia thành
công nghiệp toàn cầu. Lấy công nghiệp may mặc làm ví dụ. Trớc đây với một
máy may dù có hiện đại đến đâu thì sản phẩm cũng chỉ bán trong một địa phơng,
một quốc gia hay một khu vực chi phí vận chuyển liên lạc quá cao đã làm mất
hết lợi thế so sánh nếu đa sản phẩm này đến thị trờng xa xôi. Nhng ngày nay,
Công ty NIKE chỉ nắm hai khâu: sáng tạo, thiết kế và phân phối toàn cầu, còn
sản xuất do Công ty các nớc thực hiện cũng đã làm cho công nghiệp may mặc
có tính toàn cầu. Hàng loạt công nghệ sản xuất xe máy, ô tô, máy tính điện tử
máy bay ngày càng toàn cấu hoá sâu rộng. Tính toàn cầu ở đây thể hiện ngay

Đặc biệt quá trình quốc tế hoá về tài chính đẩy mạnh nhanh chóng: hình thành
nên Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên nớc kinh tế và
tiền tệ Châu Âu gần 11 nớc thành viên với đồng tiền chung là đồng EURO. Cùng
với các tổ chức liên kết kinh tế là sự ra đời các cam kết này đã, đang và sẽ công
kích mạnh mẽ vào các bức tờng thành quốc gia, rào cản quốc gia. Các nớc thành
viên của tổ chức thơng mại thế giới (WTO) cũng đã cam kết một lộ trịnh giảm
bỏ hàng rào. Ngay cả đối với Mỹ, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay gây sức ép
thơng mại đối với các nớc có vẻ nh đã mất hiệu lực, với dấu hiệu là Mỹ đã ký tối
huệ quốc (MFN) đối với Trung Quốc.
Ba là: những vấn đề kinh tế toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều trở nên
bức xúc và ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu. Không có khó khăn
gì để có thể nhận ra các vấn đề nổi cộm hiện nay của kinh tế toàn cầu. Môi trờng
7
ngày càng bị phá hoại, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt; dân số thế giới
tăng nhanh đến mức nảy sinh nguy cơ bùng nổ dân số; đồng vốn toàn cầu vận
động tự do không có sự điều tiết là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các cuộc
khủng hoàng liên tiếp Châu Âu, Châu Mỹ, Châu á trong thời gian vừa qua;
chiến tranh lạnh chấm dứt, đồng nghĩa với nó là kết thúc sự đối đầu giữa các siêu
cờng, mở ra thời kỳ hợp tác, hoà bình, phát triển mới
Những vấn đề này đã trở thành tất yếu khách quan đẩy đến toàn cầu hoá
kinh tế với những đặc trng chủ yếu: Thứ nhất là, các hàng rào quan thuế và phi
thuế quan đang giảm dần và sẽ bị xoá bỏ theo các cam kết quốc tế đa phơng và
toàn cầu, tức là các biên giới quốc gia về thơng mại đầu t đang tiên vong. Thứ
hai là, các Công ty của các quốc gia có quyền kinh doanh tự do ở mọi quốc gia,
trên các lĩnh vực cam kết, không phân biệt đối xử; thực chất là sự xoá bỏ các
biên giới về đầu t, dịch vụ và các lĩnh vực kinh tế khác.
Tuy nhiên, đến đây chúng ta lại phải đối mặt với hàng loạt câu hỏi: làm
thế nào để giải quyết sự trói buộc của hệ thống tiền tệ quốc gia với hàng trăng
đồng tiền khác nhau, trao đổi theo các tỷ giá thả nổi bấp bênh? Làm thế nào để
dung hợp đợc với hệ thống luật pháp các quốc gia thủ cựu? Có cấn đến "một bàn

Một tác động tích cực của toàn cầu hoá mà không thể không nhắc đến. Có
thể nói đây là lợi ích hiện diện rõ ràng nhất đối với các nớc đang phát triển và
chậm phát triển. Đó là dòng chuyển vốn, công nghệ, kỹ thuật, phơng pháp quản
lý tiên tiến từ các nớc phát triển. Cơ hội này mở ra khả năng cho các nớc nhận
rút ngắn khoảng cách về thời gian và tiết kiệm tiền bạc cho giai đoạn từ nghiên
cứu cho đến khi triển khai, ứng dụng. Đây cũng là lợi thế cho các nớc đang phát
triển có điều kiện đi tắt, đơn đầu mọi phơng tiện. Nhng cũng chính dòng chảy
vốn, công nghệ, kinh tế, phơng pháp quản lý tiên tiến này tạo ra một thế lực cạnh
tranh đối với các nền kinh tế quốc gia trì trệ, kém hiệu quả. Trong một giới hạn
nào đó, dòng di chuyển này là nguyên nhân đẩy các doanh nghiệp Nhà nớc vào
tình trạng phá sản, đi kèm là tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, nảy sinh hàng loạt vấn đề
cho xã hội Chính phủ cần giải quyết.
Một biểu hiện của toàn cầu hoá hiện nay là hình thành các khối liên kết
kinh tế cùng với cam kết, thoả thuận nhằm dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan. Đây là
điều kiện quá trình thực hiện nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong
kinh tế trong các quan hệ mua bán và giao lu quốc tế. Không những thế các nớc
9
chậm phát triển đợc hởng u đãi đặc biệt, chế độ tối huệ quốc, đợc cung cấp thông
tin tự do mậu dịch, liên minh thuế quan, đợc bảo đảm các quyền thông qua các
tổ chức quám sát, giám định quốc tế. Chính vì vậy, các nớc chậm phát triển có
điều kiện cải thiện quốc tế hoá không, liệu các chính sách tài chính có bắt kịp
yêu cầu của xu thế thời đại? Các cuộc khủng hoảng Đông Nam á, Brazin, Nga,
trong những năm 1997 - 1998 vẫn còn là những bài học sâu sắc cảnh báo cho các
nớc có tình hình tơng tự.
Điểm cuối cùng nh phần tất yếu của xu thế toàn cầu hoá đã trình bày, đó
là các vấn đề mang tính toàn cầu mà không một quốc gia nào có thể tự mình giải
quyết đơn lẻ. Xu thế toàn cầu hoá tạo nền sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia
để cùng có lợi, tạo ra sức mạnh tổng hợp chống lại sự phân biệt đối xử sự đan
xen phụ thộc lẫn nhau có còn có tác động hai mặt, các nền kinh tế sẽ nhạy cảm
hơn với các biến động quốc tế, nhng đồng thời những rủi ro có tính chất cá biệt

theo những cam kết toàn cầu đa dạng. Do đó Đảng và Nhà nớc ta đã xác định t t-
ởng đúng đắn cho nền kinh tế nớc ta. Chủ động hội nhập, chỉ có chủ động hội
nhập thì nớc ta mới giữ gìn đợc bản sắc dân tộc trong tốc độ toàn cầu hoá hiện
nay. Chỉ có chủ động hội nhập mới đón bắt đợc những nguy cơ tiềm ẩn và
giành lấy những cơ hội quý báo để phát triển kinh tế trong nền kinh tế toàn cầu
đa dạng, phong phú. Chỉ có chủ động hội nhập, Đảng và Nhà nớc mới có đợc
những quyết định sáng suốt trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế gắn liền với
toàn cầu hoá về chính trị, văn hoá, xã hội.
Khi nghiên cứu cuộc khủng hoàn kinh tế Thái Lan năm 1997, các nhà
kinh tế học cho rằng: toàn cầu hoá tự bản thân nó không là nguyên nhân của
cuộc khủng hoảng mà chính là cái cách thức ngời ta điều hành quá trình của
cuộc khủng hoảng toàn cầu hoá. Tham gia vào một nền kinh tế thế giới rộng lớn
hơn có thể là một sự trợ giúp cho nền kinh tế trong nớc phát triển song chắc chắn
rằng: thành công hay thất bại của các nớc chủ yếu dựa vào công nhân của nớc đó
dựa bào các chính sách và đầu t của Chính phủ. Các nhà kinh tế học cũng đã
khẳng định: các nớc mà hiện nay đang vấp phải vô vàn khó khăn trong quá trình
hội nhập thì không phải là họ không biết lợi dụng hiện tợng toàn cầu hoá mà bởi
vì họ đã không thể trang bị cho mình một cách kịp thời những thể chế và những
cán bộ điều hành cần thiết để làm chủ quá trình hội nhập toàn cầu. Lấy Thái Lan
11
làm ví dụ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nền kinh tế năm
1997 là do Thái Lan đã không làm chủ đợc dòng vốn từ nớc ngoài. Từ những
năm 1990 Thái Lan đã dỡ bỏ hết mọi hàng rào kiểm soát ngặt nghèo sự dịch
chuyển t bản qua biên giới, do đó dòng chảy t bản đã ào ạt vào Thái Lan dới hình
thức đầu t ngắn hạn, và sau đó lại rút ra hết sức nhanh chóng gây nên sự rối loạn
thị trờng tài chính. Do đó các nhà kinh tế đã đa ra các biện pháp chủ yếu để cần
thiết, tiếp tục một chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh, cải cách thể chế và làm
chủ dòng chảy t bản quốc tế. Nh vậy có nghĩa là Thái Lan phải tham giatt quốc
tế một cách ổn định tốc độ vừa phải và thực sự chủ động trong quá trình hội nhập
đó bằng những hành lang thể chế. Bởi vì nếu không chủ động thì sự tự do hoá sẽ

suất đối với hàng nhập khẩu từ các nớc công nghiệp sẽ giảm từ 6,3% xuống
3,9%. Đối với mức giảm thuế quan các thành viên WTO (tức là GATT) cam kết
thực hiện tự do hoá thơng mại và dịch vụ, chống bán phá giá, đảm bảo quyền sở
hữu trí tựu
Thứ hai là công nhận quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các chủ thể và
cá nhân trong và ngoài nớc trên lãnh thổ của mình.
Lấy Mỹ và Việt Nam làm ví dụ. Nguyên tắc này cho phép các Công ty
Việt Nam sang Mỹ kinh doanh xuất nhập khẩu và ngợc lại với tất cả mọi quyền
nh Công ty của nớc sở tại, có nghĩa là sẽ thiết lập một môi trờng kinh doanh bình
đẳng ở mọi quốc gia, tạo ra một thế giới tơng đối thống nhất với các chsủ thể
kinh doanh và quyền hoạt động toàn cầu. Đây là con đờng phát triển bởi áp lực
cạnh tranh sẽ tăng lên, động lực phát triển sẽ tăng cờng. Bởi vì sự xuất hiện của
các Công ty nớc ngoài hùng mạnh vào hoạt động thì buộc các Công ty trong nớc
phải vơn mình để tồn taị và phát triển.
Về thơng mại dịch vụ:
Hiệp định dịch vụ của WTO quy định các nớc mở cửa thị trờng dịch vụ
cho nhau theo 4 phơng thức: (1) cung cấp dịch vụ qua biên giới từ lãnh thổ của
nớc thành viên này sang lãnh thổ thành viên khác. (2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
(3) hiện diện thơng mại của Công ty một nớc thành viên lãnh thổ một thành viên
khác với các hình thức lập liên doanh, chi nhánh, Công ty 100% vốn đầu t nớc
ngoài. (4) hiện diện chủ nhân, di chuyển t nhân. WTO cũng đã quy định: khi
đàm phán mở cửa thị trờng dịch vụ, các nớc phát triển theo phơng pháp loại trừ
13
tức là không chấp nhận dịch vụ nào thì đa ra đàm phán, còn các nớc đang phát
triển đợc quyền chỉ đa ra đàm phán lĩnh vực nào đợc chọn mở cửa.
Về đầu t, WTO cha có đợc một hiệp định chung mà mới chỉ có một số
quy đọnh về đầu t có liên quan đến thơng mại.
WTO cũng đã có những quy định trong các lĩnh vực khác.
Hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu trì trệ.
Quy định không phân biệt đối xử, nguyên tắc đối xử quốc gia áp dụng cho

Hiện nay, trên thế giới có thể kể đến hàng chục khối kinh tế khu vực khác
nhau, nhng hoạt động nổi bật hơn cả là: EU (Liên minh Châu Âu) NAFTA (Khối
kinh tế Bắc Mỹ), AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), APEC (Diễn đãn
kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng) Tuy nhiên mức độ hợp tác của các khối
kinh tế này khác nhau. Có khi chỉ dừng lại ở mức độ thỏa thuận buôn bán, có
khối đã thoả thuận xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong
khối, có khối đã lập ra liên minh thuế quan, tạo lập ra cả một thị trờng chung cho
phép tự do thơng mại hàng hoá, dịch vụ vốn, lao động. Nấc thang phát triển cao
nhất hiện nay của các khối kinh tế là liên minh kinh tế. Liên minh Châu Âu
(EU) bắt đầu hoạt động từ năm 1992 với các chính sách: tiền tệ, tài chính, thơng
mại công nghệ, an ninh chung, quốc hội, toà án, đồng tiền chung
Việc ra đời các khối kinh tế có tác động quan trọng, thúc đẩy tự do hoá
thơng mại đầu ra, thúc đẩy quá trình mở cửa thị trờng các quốc gia, tạo lập ra
những khu vực thị trờng rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá tiên tiến
3 - Những tổ chức kinh tế toàn cầu:
Thứ nhất là các tổ chức kinh tế có tác dụng điều chỉnh các quan hệ kinh tế
toàn cầu hiện có: Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO); Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng thế giới (WB), một số tổ chức kinh tế của Liên hiệp quốc:
VNDP, G8 (G7 Nga), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế DECD Hoạt động
nổi bật nhất hiện nay vẫn là WTO, IMF, WB. Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ có
những cam kết quốc tế về thơng mại hàng hoá là tơng đối có hiệu lực, còn các
lĩnh vực chính sách tiền tệ, đầu t chu chuyển vốn, bảo vệ, tiêu chuẩn về lao động
và di chuyển lao động quốc tế, chống tham nhũng vẫn cần có luật lệ toàn cầu
hữu hiệu hơn. Ngay cả hoạt động của IMF và WB cũng chỉ kiểm soát một phần
dòng vốn, tiền tệ chính thức của Nhà nớc, còn việc buôn bán tiền tệ, và dòng vốn
15
t nhân vẫn vận động ngoài vòng kiểm soát. Do đó việc cải tổ thích hợp những tổ
chức này là điều cần thiết trong thời gian tới.
Thứ hai là các tổ chức kinh doanh toàn cầu: đó là các Công ty xuyên quốc
gia với các con số đáng kể: 60.000 Công ty xuyên quốc gia với 500.000 chi

Hai là, song song với việc xâm nhập thị trờng quốc tế, Việt Nam đã tăng
khả năng thu hút vốn đầu t từ nớc ngoài. Kể từ khi có luật đầu t nớc ngoài tại
Việt Nam đợc chính thức ban hành đầu năm 1988 và từng bớc đợc điều chỉnh
đến cuối năm 2000 đã có trên 700 Công ty thuộc 62 nớc và vùng lãnh thổ đầu t
trực tiếp vào nớc tă với hơn 3.000 dự án, có tổng số vốn đăng ký trên 36 tỷ USD
trong đó vốn đã thực hiện 17 tỷ USD.
Mặc dù do khủng hoảng tài chính - tiền tệ trong khu vực và sự chậm đổi
mới trong chính sách kinh tế, song sự đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu
t nớc ngoài vẫn có xu hớng gia tăng những năm gần đây, cụ thể là tỷ trọng của
khu vực này trong GDP tăng lên, 6,3% năm 1995; 7,4% năm 1996; 9,1% năm
1997; 9,8% năm 1998; 10% năm 1999; trên 10% năm 2000 và đến hết ngày
30/10/2001 cả nớc thêm 1,9 tỷ USD vốn đầu t nớc ngoài tăng 200% về vốn so
với cùng kỳ năm 2000. Bên cạnh đó, ngoài thúc đẩy tăng trởng kinh tế, các dự án
có vốn đầu t nớc ngoài tạo ra khoảng 35 việc làm trực tiếp và hàng chục vạn việc
làm gián tiếp.
Hiện nay Việt Nam đợc đánh giá là đặc điểm an toàn nhất khu vực Châu
á - Thái Bình Dơng. Đây có phải là cơ hội cho dòng chảy vốn đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam tăng lên?
Ba là, không chỉ các dòng vốn trực tiếp, nhiều tiến bộ kỹ thuật và công
nghệ mới đợc đa vào nớc ta. Trong những dự án liên doanh hoặc 100% vốn nớc
ngoài thuộc các ngành bu chính viễn thông, dầu khí, điện, điện tử, dệt may, da
giày các công nghệ đợc chuyển giao là tơng đối hiện đại. Mặc dù vẫn có những
công nghệ trung bình không còn phù hợp với các nớc Mỹ, Nhật nhng vẫn có
hiệu quả ở nớc ta trong một số ngành sự khác do yêu cầu sử dụng lao động của
các công nghệ đó cao, có khả năng tạo thêm nhiều việc làm mới.
Quả thực thu hút vốn đầu t trực tiếp đồng thời tiếp nhận chuyển giao công
nghệ và sử dụng nó có hiệu quả là con đờng thích hợp với trình độ Việt Nam
hiện nay hơn cả, mặc dù nớc ta vẫn có khả năng nhập khẩu công nghệ từ bên
ngoài vào.
17

quốc" Ngời lại viết "Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam
sẽ tuân thủ những nguyên tắc dới đây":
1) Đối với Lào và Miên (Campuchia), nớc Việt Nam luôn tôn trọng nền
độc lập của hai nớc đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng
tuyệt đối giữa các nớc có chủ quyền.
2) Đối với các nớc dân chủ, nớc Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Một là nớc Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu t của nhà t bản,
nhà kỹ thuật nớc ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
Hai là, nớc Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đờng xá giao
thông cho việc buôn bán quá cảnh quốc tế.
Ba là, nớc Việt Nam tham gia một tổ chức hợp tác quốc tế dới sự lãnh đạo
của Liên hiệp quốc.
Tuy nhiên trong thời gian đó, do hoàn cảnh lịch sử, quan hệ quốc tế của n-
ớc ta chỉ giới hạn trong Hội đồng tơng trợ kinh tế (SEV) khối liên kết kinh tế xã
19
hội chủ nghĩa. Có nghĩa là Việt Nam chỉ có quan hệ kinh tế với các nớc xã hội
chủ nghĩa, mà chủ yếu là nớc ta dựa vào sự giúp đỡ của họ, đặc biệt là Liên Bang
Xô Viết.
Tiếp theo đó là hai cuộc kháng chiến trờng kỳ thần thánh chống Pháp và
chống Mỹ của dân ta. Mọi nguồn lực, sức ngời, sức của đểu đợc tập trung tối đa
cho chiến tranh, các vấn đề khác tạm thời gác lại.
Đến khi đất nớc hoàn toàn giải phóng, nớc ta lại tập trung khôi phục nền
kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung có sự giúp đỡ to lớn của xã hội chủ
nghĩa trong Hợp đồng tơng trợ kinh tế (SEV)?
Đồng thời nhận thấy xu thế toàn cầu hoá đang ngày càng tăng lên, các
quốc gia ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc vào nhau, do đó nếu nớc
nào đóng cửa với thế giới là đi ngợc xu thế của thời đại mà mở cửa và hội nhập
kinh tế quốc tế là yêu cầu tất yếu hớng tới sự phát triển. Đại hội VI của Đảng (12
- 1986), trong khi quyết định chuyển từ mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung

Gần đây nhất, Đại hội IX của Đảng (4 - 2001) tiếp tục vạch ra phơng
châm cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian 10 năm tới 2001 -
2010: " nâng lên một bớc mới gắn với việc thực hiện các cam keets quốc tế đòi
hỏi chúng ta phải ra sức nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh và khả năng độc lập tự
chủ của nền kinh tế, tham gia có hiệu quả vào phân công lao động quốc tế".
Nghị quyết Đại hội Đảng lần này lại nhấn mạnh thêm: "Chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế và khu vực theo tinh thần tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hớng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trờng".
Quán triệt t tởng Hồ Chí Minh và những luận điểm có ý nghĩa phơng
châm chỉ đạo hành động của Đảng, 15b năm qua cùng với việc đẩy mạnh sự
nghiệp đổi mới toàn diện đất nớc, Nhà nớc ta lần lợt thi hành một loạt biện
pháp để thúc đẩy tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tháng 12 - 1987, Quốc hội nớc ta thông qua Luật đầu t nớc ngoài Việt
Nam và cho đến nay vẫn liên tục đợc bổ sung, sửa đổi để phù hợp với tình hình
trong nớc và quốc tế từng giai đoạn.
Năm 1989, Việt Nam đã mở các cuộc đàm phán để nối lại quan hệ quỹ
tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) và đến tháng 10 - 1993 đã
21
bình thờng hoá quan hệ tín dụng với hai tổ chức tài chính, tiền tệ lớn nhất thế
giới này.
Tháng 7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, và từ ngày
01/01/1999 bắt đầu thực hiện cam kết trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do
ASEAN tức AFTA, cũng tháng 7 này, Việt Nam đã ký kết Hiệp định chung về
hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật, và một số lĩnh vực khác với cộng đồng Châu
Âu (nay là Liên minh Châu Âu EU), đồng thời bình thờng hoá quan hệ với Mỹ.
Tháng 3/1996 Việt Nam tham gia với t cách thành viên sáng lập diễn đàn
hợp tác kinh tế á - Âu (ASEM).
Tháng 11/1998, Hiệp định Thơng mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã đợc ký kết
và sau bao nhiêu nỗ lực, Hiệp định chính thức có hiệu lực vào ngày 10/12/2001

năm 1998, ta đã công bố lịch trình giảm thuế để thực hiện AFTA vào năm 2006.
Tiếp đó, luật thuế xuất nhập khẩu đợc sửa đổi nhằm tạo điều kiện để xây dựng hệ
thống thuế nhập khẩu 3 cột (phổ thông, u đãi chung theo Quy chế trí tuệ quốc -
MFN và u đãi đặc biệt) cũng nh các quy định về thuế chống phá giá và thuế đối
kháng, Việt Nam cũng đã cam kết tăng số dòng thuế sản phẩm có thuế suất dới
5% vào năm 2006.
Nhìn chung cho đến nay, Việt Nam đã đáp ứng cơ bản những đòi hỏi về lộ
trình của CFPT/AFTA. Hết năm 2001 tiến trình cắt giảm thuế quan
CEPT/AFTA đợc chuẩn bị và bớc đầu đạt đợc những kết quả đáng kích lệ. Tuy
nhiên cũng có rất nhiều vấn đề đặt ra cần quan tâm, xử lý đó là: không ít các kết
quả đã có chỉ mang tính thủ tục, tiến bộ giảm thuế suất xuống 5% và dới 5%
thực tế vẫn diễn ra chậm. Mặc dù đến 2006 Việt Nam mới thực hiện đầy đủ
AFTA, song sự chậm chạp đó có nghĩa là việc cắt giảm thuế sẽ dồn vào những
năm sau này. Đó là ngay bây giờ chúng ta phải xét đến tình hình hiện nay. Hiệp
định thơng mại Việt - Mỹ đã có hiệu lực, Trung Quốc đã gia nhập WTO.v.v
Cũng cần nhìn nhận rằng đối với Việt Nam, trong quan hệ so sánh với các
thành viên ASEAN khác thực hiện đầy đủ AFTA chủ yếu có nghĩa là phải chấp
nhạan cạnh tranh sòng phẳng với nhiều đặc điểm bất lợi hơn. Việt Nam có
khoảng thời gian u đãi hơn nhng nó chỉ có giá trị với điều kiện là có sự nố lực
23
rất lớn trong việc cải thiện sức cạnh tranh. Quãng thời gian 3 năm quả thực là
quá ngắn nếu so quãng thời gian mà các nớc ASEAN khác đã có để đạt tới sức
cạnh tranh hiện tại.
Chính vì vậy, Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa, năm 2006 đã gần kề tình
hình kinh tế trong nớc và khu vực luôn biến đổi. Do đó việc học tập rút kinh
nghiệm từ các thành viên ASEAN là không thể bỏ qua.
2.2. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ.
Quan hệ Việt - Mỹ là một quan hệ đặc biệt so với các quá trình giữa Việt
Nam và các nớc khác không chỉ bởi vì Mỹ là cờng quốc trên thế giới. Trớc
đây Mỹ là kẻ thù của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh. Mỹ cũng đã từng cấm

Việt Nam và Hoa Kỳ đối với ASEAN, khu vực và thế giới. Chính vì vậy tiếp tục
nghiên cứu ảnh hởng đối với toàn bộ nền kinh tế nớc ta của các chơng trình điều
chỉnh chính sách thơng mại trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cần đợc u
tiên và đầu t thích đáng.
2.3. Quan hệ kinh tế thơng mại Việt - Trung.
Trung Quốc là ngời bạn láng giềng "khổng lồ" của nớc ta, không chỉ là
một đất nớc rộng lớn với 1,3 tỷ dân mà còn là một cờng quốc về kinh tế. là hai
nớc láng giềng quá trình giao lu buôn bán đã có từ rất lâu và rất sâu sắc.
Thực tệ, ngời tiêu dùng Việt Nam đã quen thuộc với hàng hoá Trung
Quốc với các đặc tính: rẻ, mẫu mã phong phú đa dạng nhng chất lợng cha cao
lắm (thực ra, đây không phải là do công nghệ kém mà là "chiến thuật" của Trung
Quốc). Ngày 10/11/2001, Trung Quốc chính thc là thành viên của WTO. Sự kiện
này càng làm cho nền kinh tế Trung Quốc có cơ hội tăng mạnh tính cạnh tranh
đồng thời có tác động mạnh mẽ đến thị trờng hàng hoá thế giới, trong đó Việt
Nam là một trong những nớc chịu ảnh hởng nhiều nhất, đặc biệt là phải đối mặt
với những thách thức về khả năng giảm kim ngạch xuất khẩu và thu hút vốn đầu
t nớc ngoài.
Thách thức về xuất khẩu đối với Việt Nam xuất phát từ khả năng cạnh
tranh của hàng hoá Trung Quốc đợc tăng cờng do đợc hởng những điều kiện th-
ơng mại bình đẳng và u đãi của WTO. Trớc hết là cơ cấu hàng xuất khẩu hai nớc
có tính tơng đồng trùng lặp khá cao nh: dệt may, giày dép, điện tử, linh kiện máy
tính, thủ công mỹ nghệ mà chi phí lao động và chi phí sản xuất của họ thấp
hơn nên sẽ ảnh hởng đến khả năng tăng xuất khẩu của hàng hoá nớc ta. Việt
25

Trích đoạn Xác định quan điểm chủ động quốc tế. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình hiện nay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status