Hội nhập WTO – cơ hội và thách thức
Nền kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn toàn cầu hoá sâu rộng, sự ra
đời và phát triển của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với 150 nước thành
viên tác động sâu sắc đến nhiều quốc gia, các quốc gia có hội nhập mới khai
thác, phát huy được lợi thế so sánh của mình. Việt Nam có xuất phát điểm
muộn trong tiến trình gia nhập WTO, đến nay Việt Nam đã chính thức là thành
viên thứ 150 của tổ chức này. Nhưng để có thể cạnh tranh được trên thị trường
rộng lớn này, chúng ta cần rất nhiều sự cố gắng thực sự!
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ WTO:
WTO (World Trade Organization) là chữ viết tắt của Tổ chức Thương
mại Thế giới - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại
giữa các quốc gia trên thế giới. Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã
và đang được các nước đàm phán và ký kết.
Mục tiêu:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới
phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo về môi trường.
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng
tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống
thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp
quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém
phát triển được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương
mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và
khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế
thế giới.
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước
thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.
Chức năng:
- 1 -
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương
mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật
tranh chấp (DSB) của WTO là cơ quan trọng tài duy nhất và giải quyết các
mâu thuẫn thương mại mang tính xây dựng. Khi có tranh chấp, DSB khuyến
khích và cho phép các nước thành viên đàm phán để đi đến một biện pháp hoà
giải. Nếu thất bại, một ban giải quyết tranh chấp sẽ được thành lập để phân xử
và nhờ một cơ quan kháng án đưa quyết định cuối cùng. Các phán quyết cuối
cùng này phải được các bên có liên quan chấp thuận. Nếu kết quả giải quyết
tranh chấp không được thi hành nghiêm túc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể
áp dụng những biện pháp trả đũa. Việc thiết lập toà án quốc tế này đã nâng cao
hiệu quả của hệ thống thương mại đa biên, bằng việc đưa những luật lệ chung
vào thế giới thương mại.
- Hoạt động của WTO hoàn toàn dựa trên những nguyên tắc chung chứ
không phải là sức mạnh, cho nên đã thật sự làm giảm bớt một số bất bình đẳng,
giúp cho các nước nhỏ có nhiều tiếng nói hơn, và đồng thời cũng giải thoát cho
các nước lớn khỏi sự phức tạp trong việc thoả thuận các hiệp định thương mại
với vô số đối tác thương mại của họ. Hơn nữa, các nước nhỏ có thể hoạt động
hiệu quả hơn nếu họ tận dụng những cơ hội để thành lập các liên minh và góp
chung các nguồn lực. Việc gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam có được tiếng nói
bình đẳng hơn và giảm bớt nhiều những chi phí nguồn lực cho việc đàm phán
song phương với các đối tác.
- Việc gia nhập WTO sẽ giúp chất lượng cuộc sống được nâng cao. Người
tiêu dung có được nhiều sự lựa chọn hang hoá hơn, tiết kiệm được nhiều nguồn
lực và chi phí. Chất lượng của hang sản xuất nội địa có thể nâng lên do chính
sự cạnh tranh từ hang nhập khẩu. Hơn nữa, hàng nhập khẩu còn được sử dụng
làm nguyên liệu linh kiện và thiết bị cho sản xuất trong nước dẫ tới mở rộng
phạm vi của các thành phần và dịch vụ do các nhà sản xuất trong nước làm.
- 3 -
- Việc gia nhập WTO sẽ buộc Chính phủ hoạt động có hiệu quả và thận
trọng hơn khi ra các quyết sách về kinh tế. Việt Nam phải cam kết áp dụng và
giám sát hệ thống luật của mình theo các nguyên tắc quốc tế: minh bạch, hợp
lý, công bằng và đồng bộ. Gia nhập WTO, Việt Nam phải tăng cường thực hiện
nước về thủ tục hành chính, về cơ chế chính sách, giảm chi phí đầu vào, mở
rộng lĩnh vực và phạm vi đầu tư theo lộ trình hội nhập sẽ làm tăng tính hấp dẫn
của môi trường đầu tư ở nước ta so với các nước trong khu vực, khuyến khích
nàn song đầu tư mới vào Việt Nam.
- WTO có những nguyên tắc ưu đãi riêng đối với nước đang phát triển,
Việt Nam là nước có thu nhập thấp. Do đó sẽ nhận được những đối xử đặc biệt,
miễn trừ khỏi sự ngăn cấm, hỗ trợ xuất khẩu (nếu hàng hoà là loại cạnh tranh
cao, sự miễn trừ này sẽ bị loại bỏ trong vòng 8 năm).
- Gia nhập WTO tạo đà cho các doanh nghiệp Việt Nam vươn lên, thích
nghi với những tiêu chuẩn và tập quán mới, tạo điều kiện nâng cao khả năng
cạnh tranh và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Thách thức
- Việc thực thi Hiệp định Quyền Sở hữu trí tuệ và xây dựng luật Sở hữu
trí tuệ đồng nghĩa với việc tăng chi phí sản xuất và khả năng đổi mới nhanh
chóng của các doanh nghiệp, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam phải tự xác lập thương hiệu, thiết kế kiểu
dáng riêng và mua quyền sở hữu trí tuệ cho sản phẩm của mình.
- Một thách thức nữa đối với Việt Nam là phải cắt giảm thuế, bãi bỏ hàng
rào phi thuế quan. Doanh nghiệp trong nước sẽ phải tham gia cạnh tranh thực
sự với các doanh nghiệp nước ngoài ngay chính tại tị trường nội địa. Nhưng
thực tế cho thấy, khả năng của các doanh nghiệp trong nước lại thấp hơn rất
nhiều so với các doanh nghiệp nước ngoài là thành viên của WTO, điều đó bất
lợi trong việc phát triển nền kinh tế ổn định và tự chủ. Việc Chính phủ Việt
Nam muốn duy trì sự bảo hộ nhất định đối với các ngành công nghiệp non trẻ
để xây dựng một cơ cấu công nghiệp hợp lý, và trước mắt là đảm bảo nguồn
thu ngân sách, sẽ khó thực hiện được.
- 5 -
- Việc phân phối không đồng đều giữa các Quốc gia phát triển, giữa các
bộ phận dân cư trong Quốc gia phát triển nên nguy cơ phá sản của một bộ phận
doanh nghiệp làm cho thất nghiệp gia tăng, phân hoá giàu nghèo diễn ra mạnh
Cụ thể trong ngành dệt may - một trong những mặt hang chủ lực của Việt
Nam, và cũng là mặt hang Việt Nam có được những lợi thế so sánh do tính
chất sử dụng nhiều lao động. Việc gia nhập WTO là điều kiện thuận lợi để mở
rộng thị trường cho ngành, nhưng không phải là phép tính cộng đơn giản của
việc mở rộng thị phần. Tại thị trường thế giới, khi Hiệp định dệt may (ATC)
kết thúc, sự cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt do các đối thủ của Việt Nam
không chỉ là một số quốc gia trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Inđônêxia
mà là những đại gia trong ngành may mặc thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ.
Do vậy, khi Việt Nam gia nhập WTO với mức thuế bị đòi hỏi cắt giảm khá lớn
thì thị phần hàng may mặc Trung Quốc tại Việt Nam sẽ có thể gia tăng đáng
kể. Ngoài ra, tại cả hai khu vực hàng may mặc cao cấp và hàng may mặc bình
dân, có thể thấy, hàng may mặc cao cấp với đặc trưng về chất lượng và tính
thời trang của EU, Mỹ, Hàn Quốc sẽ thuyết phục được khách hang thuộc tầng
lớp người giàu đang phát triển khá nhanh tại Việt Nam. Hàng bình dân sẽ chịu
tác động rất lớn từ Trung Quốc. Doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam, lực
lượng khá yếu so với các doanh nghiệp nhà nước, lại đang chiếm lĩnh thị
trường nội địa, sẽ không thể cạnh tranh nổi với những nhà máy Trung Quốc
khổng lồ với thế mạnh tự cung ứng được nguyên liệu.
- Bảo hộ của Nhà nước bị thu hẹp:
Với chính sách thúc đẩy tự do hoá thương mại, WTO chỉ cho phép bảo
hộ sản xuất trong nước bằng thuế quan với mức thuế bình quân ngày càng
giảm sau các vòng đàm phán chung về thương mại và chỉ trong những bối cảnh
nhất định mới cho phép sử dụng một số biện pháp phi thuế với những điều kiện
cụ thể. Từ khi WTO được thành lập năm 1995 đến tháng 01/2000, thuế suất đối
- 7 -
với hàng hoá công nghiệp đã giảm từ mức bình quân 15,9% xuống còn 12,3%
(giảm 20% trong vòng 5 năm). Kinh nghiệm của các nước mới gia nhập WTO
cho thấy, họ phải cam kết mức thuế trung bình thấp đối với 100% số dòng thuế
công nghiệp và không được áp dụng các biện pháp phụ thu đối với hàng nhập
khẩu. Đồng thời, các nước thành viên còn tham gia Sáng kiến cắt giảm thuế
ngành dược phẩm – ngành có những đặc điểm đặc thù liên quan đến các quy
định trong TRIPs.
Ngành công nghiệp ôtô:
Ngành công nghiệp ôtô là một trong những ngành quan trọng của nền
kinh tế Việt Nam. Việt Nam chủ trương phát triển ngành công nghiệp ô tô theo
hướng đi từ lắp ráp đơn giản đến nội địa hoá sản xuất phụ tùng. Đồng thời, để
phát triển ngành công nghiệp ô tô, trong thời gian qua, Chính phủ đã sử dụng
một loạt biện pháp phi thuế quan nhằm bảo hộ ngành công nghiệp quan trọng
này. Với chính sách bảo hộ phù hợp (chủ yếu bằng các biện pháp phi thuế
quan) và sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, ngành công nghiệp ô tô của Việt
Nam đã có bước phát triển đáng kể, góp phần thu hẹp dần khoảng cách giữa
Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, việc thực hiện các nghĩa vụ của Hiệp định TRIMs cũng như
các cam kết quốc tế có liên quan khác đã đặt ngành công nghiệp này trước
những thách thức đáng kể. Với cam kết xóa bỏ yêu cầu nội địa hóa vào năm
2006 hoặc vào thời điểm Việt Nam gia nhập WTO (tùy thuộc thời điểm nào
diễn ra trước), Việt Nam hầu như không còn cơ hội để tiếp tục triển khai
chương trình nội địa hóa đối với ngành công nghiệp này. Bên cạnh đó, quy mô
thị trường tiêu thụ của ngành ôtô Việt Nam còn quá nhỏ bé, chỉ khoảng 45.000
chiếc/năm, bằng 10% lượng xe tiêu thụ tại Malaixia và 5% lượng xe tiêu thụ
của Thái Lan. Số lượng các nhà sản xuất phụ tùng ôtô trong nước cũng rất hạn
chế và mới chỉ dừng lại ở chỗ sản xuất các phụ tùng, chi tiết đơn giản. (Đây là
lý do giải thích tại sao tỷ lệ nội địa hoá thực tế tại Việt Nam thấp hơn nhiều so
- 9 -
với mức đã cam kết trong Giấy phép đầu tư). Do vậy, khả năng thu hút vốn đầu
tư mới vào những ngành này sẽ hạn chế ngay cả khi các rào cản đối với đầu tư
đã được xoá bỏ theo quy định của Hiệp định TRIMS.
Ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp xe máy:
Ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp xe máy cũng là một trong những
ngành được ưu tiên phát triển tại Việt Nam nhằm tạo động lực cho ngành cơ
nhân. Trong điều kiện nguồn nguyên liệu cung cấp ở trong nước còn hạn chế
(khoảng 460.000 tấn/năm, chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu sản xuất) và
với tốc độ tăng trưởng chậm của đàn bò sữa (11% so với tốc độ tăng lượng sữa
tiêu dùng hàng năm khoảng 20%), thì hoạt động chế biến của các doanh nghiệp
ĐTNN đã làm gia tăng xu hướng nhập khẩu nguyên liệu sữa bột từ nước ngoài.
Việc thực hiện TRIMs sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp ĐTNN chủ
động quyết định nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến sữa từ các nguồn khác
nhau, trong đó chủ yếu sẽ là nguồn nhập khẩu. Về mặt lý thuyết, điều này sẽ
làm gia tăng nhập khẩu sữa, không tạo điều kiện để Việt Nam thúc đẩy chương
trình phát triển đàn bò sữa nhằm tạo nguồn nguyên liệu trong nước. Tuy nhiên,
hạn chế này không hẳn là do tác động trực tiếp của việc thực hiện Hiệp định
TRIMs mà xuất phát chủ yếu từ những bất cập trong cơ chế, chính sách của
Việt Nam như: (i) chưa có biện pháp và chế tài thích đáng để buộc các doanh
nghiệp thực hiện đúng cam kết tại Giấy phép đầu tư về chế biến sữa gắn với
đầu tư phát triển đàn bò; (ii) chưa có chính sách ưu đãi thỏa đáng nhằm khuyến
khích sự hợp tác giữa nông dân và doanh nghiệp để phát triển đàn bò; (iii) chất
lượng giống bò sữa thấp, không đạt tiêu chuẩn cho chế biến sữa. Sau khi bỏ
yêu cầu phát triển nguồn nguyên liệu sữa trong nước đối với dự án ĐTNN theo
quy định tại Hiệp định TRIMs, nếu Việt Nam có chính sách giải quyết thỏa
đáng những bất cập nói trên thì ĐTNN vào ngành chăn nuôi và chế biến bò sữa
tại Việt Nam sẽ có khả năng tăng mạnh.
Ngành công nghiệp chế biến gỗ:
- 11 -
Chế biến gỗ là một ngành rất hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài,
thu hút rất nhiều nhà ĐTNN nhưng chủ yếu là các dự án quy mô nhỏ và vừa.
Pháp luật hiện hành yêu cầu dự án ĐTNN trong lĩnh vực này phải gắn với đầu
tư phát triển rừng để tạo nguồn nguyên liệu trong nước. Tuy nhiên, hầu hết các
doanh nghiệp ĐTNN không thể thực hiện yêu cầu nói trên do một số nguyên
nhân chủ yếu sau: (1) quy mô sản xuất nhỏ, không có khả năng đầu tư vào dự
án trồng rừng đòi hỏi vốn lớn; (2) chưa có cơ chế, chính sách thích hợp về sử
Phân tích một số đặc điểm của Hiệp định TRIPs liên quan tới vấn đề
dược phẩm, có thể thấy, những lĩnh vực trong hiệp định này có liên quan tới
việc tiếp cận dược phẩm là bằng phát minh sáng chế (patent), nhãn hiệu hàng
hoá và các bí mật kinh doanh, trong đó các quy định về phát minh sáng chế có
vai trò quan trọng nhất. Nguyên nhân là vì các dịch vụ y tế phụ thuộc rất lớn
vào những sáng chế để tạo ra các loại thuốc và vắc-xin mới. Trong khi đó, đối
với hoạt động nghiên cứu và phát triển, sẽ khó đảm bảo đầy đủ nhu cầu tài
chính nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước mà không có đầu tư của các khu vực
khác. Ngoài ra, công nghệ trong lĩnh vực này thường rất dễ bắt chước. Do vậy,
việc thực hiện nghiêm túc các quy định trong hệ thống phát minh sáng chế, sẽ
làm tăng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực dược phẩm, từ đó
sẽ thúc đẩy sự phát triển của các quy trình sản xuất và các sản phẩm mới trong
lĩnh vực này.
Tuy nhiên, những quy định liên quan đến phát minh sáng chế sẽ làm
tăng giá thuốc do những người nắm giữ phát minh sáng chế có quyền hạn chế
đối với việc sản xuất, sử dụng và buôn bán các sản phẩm được bảo hộ, từ đó
tác động tới khả năng tiếp cận thuốc của người dân. Đặc biệt, đối với Việt
Nam, điều này sẽ làm tăng gánh nặng cho những người dân nghèo vì khả năng
tiếp cận thuốc của họ vốn đã rất thấp do thu nhập thấp và ngân sách cấp cho y
tế còn hạn hẹp.
Cũng cần nói thêm rằng, ngoài những nghĩa vụ trong Hiệp định TRIPs,
Việt Nam còn phải thực hiện các điều khoản [TRIPs + ] liên quan đến sở hữu
trí tuệ trong lĩnh vực dược phẩm khi ký kết Hiệp định thương mại song phương
- 13 -
Việt Nam - Mỹ. Điều khoản [TRIPs + ] cấm bên thứ ba sử dụng các trắc
nghiệm lâm sàng dược phẩm trong vòng 5 năm. Những nhà sản xuất các thế
phẩm rẻ tiền (có cùng công dụng như các chính phẩm đã được cấp bằng sáng
chế) sẽ phải lặp lại những thí nghiệm kéo dài và tốn kém để thu được những dữ
liệu cần thiết cho việc phê chuẩn theo quy định của pháp luật, hoặc là phải đình
hoãn đưa sản phẩm ra thị trường. Khi các công ty dược phẩm lớn xin được phê
tốt. Chất lượng, hiệu quả, sự phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, chưa có
chuyển biến rõ rệt, những nhược điểm trong chính sách kinh tế và cơ chế quản
lý cũng khiến chúng ta chưa tận dụng được lợi thế về ổn định chính trị - xã hội
để thu hút mạnh mẽ nguồn đầu tư của nước ngoài.
Trở thành thành viên chính thức của WTO, chúng ta bước đầu với nhiều
cơ hội mới mà thách thức cũng không nhỏ. Việc tận dụng các thời cơ, biến khó
khăn thách thức thành thời cơ đòi hỏi phải có sự thống nhất về nhận thức tư
tưởng, hành động thống nhất của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp. Chủ
động và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Đẩy
mạnh xúc tiến thương mại, đầu tư, tham gia hệ thống phân phối toàn cầu, tăng
cường quảng cáo, tiếp thị tại các thị trường chiến lược EU, Mỹ, Trung Quốc.
Phải tìm lối đi riêng, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam!
- 15 -
MỤC LỤC
- 16 -