lờI Mở đầu
Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng cùng với đờng lối phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và
bên ngoài cho mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, doanh nghiệp vừa
và nhỏ Việt Nam (DN V&N) đã hình thành và phát triển nh một thực thể năng
động của nền kinh tế với số lợng lớn (chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp,
đóng góp đến 50% GDP), phạm vi hoạt động rộng khắp, đủ dạng ngành nghề, tạo
phần lớn việc làm cho ngời lao động. Điều đó cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng
của DN V&N đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, đặc điểm của
DN V&N là vốn ít, trình độ công nghệ và năng lực quản lý hạn chế nên khó khăn
trong sản xuất kinh doanh, trong đó thiếu vốn là đặc điểm nổi bật nhất. Vì vậy,
các DN V&N hiện nay trông chờ chủ yếu vào nguồn vốn vay mà quan trọng nhất
là từ các Ngân hàng thơng mại và tổ chức tín dụng.
Trong khi đó, các ngân hàng thơng mại (NHTM) Nhà nớc với t cách là
những ngời dẫn đạo trên thị trờng Ngân hàng thờng chỉ chú trọng cho vay đối với
các đối tợng là doanh nghiệp lớn hoặc dự án lớn và dờng nh còn bỏ ngỏ thị trờng
cho vay các DN V&N, chỉ có một số ngân hàng thơng mại cổ phần thực hiện cho
vay với đối tợng này. Các NHTM không muốn cho vay các DN V&N một phần vì
cơ chế (vốn tự có ít, tài sản thế chấp không đảm bảo, tình hình tài chính doanh
nghiệp khó khăn) và một phần do đầu t cho vay các DN V&N rủi ro hơn các
doanh nghiệp lớn, thêm vào đó Nhà nớc lại cha có cơ chế chính sách hỗ trợ phù
hợp đối với khu vực DN V&N.
Tại Nghị quyết Trung ơng lần thứ 5 của Đảng khẳng định chủ trơng phát
triển thành phần kinh tế t nhân, coi kinh tế t nhân là một bộ phận cứu cánh của
kinh tế thị trờng XHCN. Về phía các ngân hàng, muốn đứng vững và phát triển tất
yếu phải tìm cách mở rộng tín dụng, không chỉ riêng khu vực kinh tế quốc doanh
mà cần chú trọng cả kinh tế ngoài quốc doanh. Vấn đề đặt ra là giải quyết mâu
thuẫn giữa một bên là NHTM cần mở rộng thị trờng cho vay và một bên là các
DN V&N thiếu vốn mà không vay đợc. Riêng đối với Ngân hàng Ngoại thơng
1
Việt nam, một trong những biện pháp triển khai định hớng hoạt động trong thời
quả.
Có thể hiểu NHTM nh là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi, đồng thời có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay, đầu t vào các lĩnh vực sinh lợi, chiết khấu các loại giấy tờ
có giá, làm phơng tiện thanh toán v.v
Với đặc trng là một trung gian tài chính, hoạt động chủ yếu của (NHTM)
gồm có:
1.1.1- Huy động vốn
Để thực hiện chức năng của mình, NHTM cần có một số vốn nhất định. Vốn
này có thể là vốn tự có của ngân hàng, nhng vốn tự có thờng chỉ chiếm một tỉ lệ
nhỏ, phần lớn là nguồn vốn huy động từ nền kinh tế (từ dân c và các tổ chức kinh
tế xã hội). Do đó huy động vốn là hoạt động chủ yếu, thờng xuyên, là mối quan
tâm chính của mỗi ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn chủ yếu dới hai hình thức
:
Thứ nhất: Khách hàng gửi tiền xin mở tài khoản để hởng các lợi ích của các
phơng tiện mà ngân hàng có thể cung cấp cho họ, VD: thực hiện giao dịch thanh
toán, phát hành các loại séc, sử dụng thẻ thanh toán, nhờ ngân hàng thu hộ chi hộ
nh uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu Số tiền gửi vào sẽ đợc ngân hàng sử dụng nh
một nguồn vốn cho hoạt động của ngân hàng.
3
Thứ hai: Ngân hàng nhận tiền của khách hàng bằng việc mở cho khách hàng
các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, hay tiền gửi tiết kiệm,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng dới hình thức
này chủ yếu để hởng một tỷ lệ lãi suất trên số tiền gửi vào. Đối với ngân hàng, đây
là nguồn vốn chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng
vì tính tơng đối ổn định của nó.
Ngoài ra, ngân hàng có thể huy động vốn trên thị trờng tiền tệ qua các con đ-
ờng nh vay từ Ngân hàng Nhà nớc, vay các tổ chức tín dụng khác. Việc huy động
vốn từ nguồn này tuỳ thuộc vào tình hình sử dụng vốn của ngân hàng trong từng
thời điểm, từng giai đoạn.
ngân hàng từ hoạt động này cũng tăng tơng ứng.
1.2. Ngân hàng thơng mại với hoạt động cho vay trung dài hạn các
doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
1.2.1.1 Quan niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ (DN V&N)
Bớc vào cơ chế thị trờng với nhiều thành phần kinh tế, sự gia tăng số lợng
DN V&N có thể coi là một xu thế tất yếu và có tính quy luật. Mặc dù cho tới nay,
quan niệm và tiêu chí đánh giá doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ chỉ mang tính t-
ơng đối và còn phải đợc tiếp tục nghiên cứu. Nhng có thể hiểu DN V&N nh sau:
DN V&N là những cơ sở sản xuất kinh doanh với mục đích chính là m u cầu lợi
nhuận, có qui mô trong một giới hạn nhất định
Hầu hết các nớc trên thế giới đều xác định qui mô doanh nghiệp theo tính
ứng dụng với hai tiêu thức: Tổng số vốn kinh doanh và số lợng lao động của
doanh nghiệp để phân biệt qui mô lớn với qui mô vừa và nhỏ. ở mỗi nớc sự phân
chia về số lợng lao động trong mỗi chỉ tiêu cũng không giống nhau và còn phụ
thuộc vào lĩnh vực kinh doanh. Ví dụ tại Phillippin, tiêu chí phân loại căn cứ vào
tổng số vốn doanh nghiệp nhỏ có số vốn dới 15 triệu peso (tơng đơng với
375.000 USD), doanh nghiệp vừa có số vốn từ 15 triệu đến 60 triệu peso.
5
ở Việt Nam tiêu chí phân loại đợc thực hiện theo Nghị định số 90/2001-NĐ-
CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ. Nghị định nêu rõ DN V&N là cơ sở sản
xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn
đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá
300 ngời. Dựa vào những tiêu thức này, DN V&N ở nớc ta tồn tại trong tất cả các
thành phần kinh tế, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và thuộc các hình thức sở
hữu sau:
DN nhà nớc
DN t nhân
Công ty cổ phần
Công ty TNHH
Tại các nớc đang phát triển trong đó có Việt Nam, vốn là nguồn lực khan
hiếm nghiêm trọng. Do vậy, yêu cầu tiết kiệm vốn là một trong những yêu cầu
hàng đầu. Trên con đờng tiến lên công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, DN
V&N có thể hoàn thành vai trò của mình với việc tiết kiệm vốn. Những DN V&N
có những nhà máy nhỏ, có thời hạn hoạt động ngắn hơn những doanh nghiệp lớn
có thể đa vào hoạt động sớm hơn, không để xảy ra tình trạng máy móc thiết bị
nhàn rỗi, hơn nữa có thể giảm các chi phí về lắp đặt sửa chữa so với những DN
lớn. Ngoài ra, những DN V&N có thể sử dụng máy móc thiết bị không đồng bộ
hoặc mua lại máy móc đã qua sử dụng nên có khả năng tiết kiệm vốn.
DN V&N hỗ trợ các DN lớn nâng cao hiệu quả kinh tế
Thực tiễn cho thấy một nền kinh tế công nghiệp sản xuất hiện đại sẽ không
hoàn chỉnh và không hiệu quả nếu không có những doanh nghiệp lớn và doanh
nghiệp qui mô nhỏ hơn. Mối liên hệ này thể hiện qua việc những doanh nghiệp
lớn cung cấp nguyên liệu, nguyên liệu sơ chế, thành phẩm, thiết bị, máy móc,
công cụ cho DN V&N. Trong khi đó, các DN V&N tiếp nhận việc xây dựng cơ sở
sản xuất và trang bị, cung cấp thiết bị chế tạo các bộ phận đơn giản hay chế tạo
7
những thiết bị gài sẵn trong các sản phẩm công nghiệp (các phụ, linh kiện thay
thế, sản phẩm cơ khí chính xác ), cung cấp các dịch vụ công nghiệp nh lắp đặt,
sửa chữa, bảo dỡng và các dịch vụ khác cho DN lớn. Ngoài ra, các DN quy mô
lớn, quy mô vừa và nhỏ có thể cùng nhau hợp tác sản xuất: các DN lớn sản xuất
hàng tiêu dùng hay t liệu sản xuất đến một công đoạn nào đó, các công đoạn còn
lại thì dành cho DN V&N.
DN V&N là môi trờng phát triển các nhà kinh doanh và nhà quản trị
Khi hoạt động tích cực và lành mạnh, một trong những đóng góp quan trọng
của khu vực DN V&N là phát triển nhân tố con ngời. Một khi nhà nớc có những
khung pháp chế hỗ trợ DN V&N phát triển một cách vững chắc, khu vực DN
V&N sẽ là nơi đào tạo ra những nhà kinh doanh, nhà quản lý tài giỏi. Các chủ DN
V&N sẽ trở thành những chủ doanh nghiệp hay nhà công nghiệp lớn và sẽ đảm đ-
ơng những vị trí kinh tế quan trọng. Họ đã đợc đào tạo theo trình tự từ đơn giản
kinh doanh của mình. Để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, các DN V&N vay vốn
chủ yếu từ các tổ chức phi tài chính, thông thờng từ bạn bè, ngời thân với mức lãi
suất không chính thức gấp từ 3 đến 6 lần lãi suất ngân hàng. Một trong những
nguyên nhân mà DN V&N khó có thể vay đợc các khoản tín dụng ngắn hạn, trung
và dài hạn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác là do khó khăn về tài sản
thế chấp. Hơn nữa, thủ tục tín dụng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
chính thức thờng khá phức tạp dẫn đến chi phí giao dịch cao và tiêu tốn mất nhiều
thời gian của các doanh nghiệp. Thêm vào đó, các ngân hàng không muốn cho
DN V&N vay vì mặc dù DN V&N vay những khoản không lớn nhng mức độ phức
tạp có thể cao hơn là cho DN lớn vay, nguyên nhân là do áp dụng cùng một thủ
tục cho vay mà không phân biệt qui mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ, hơn nữa không
phải DN V&N nào cũng có tình hình tài chính tốt.
9
Công nghệ: Phần lớn công nghệ mà các DN V&N sử dụng là lạc hậu. Lý do
là vốn đầu t cho các DN V&N rất thấp so với các DN có qui mô lớn. Hơn nữa, DN
V&N đợc xác định với tiêu chí về vốn tơng đối thấp. Các DN V&N rất khó có thể
vay đợc một khoản tín dụng trung dài hạn cần thiết để nâng cấp công nghệ. Bên
cạnh đó, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị bị đánh thuế với thuế suất cao trong
khi các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài lại đợc miễn trừ. So với các DNNN
(qui mô lớn), các DN V&N rất khó tiếp cận với thị trờng công nghệ, máy móc và
thiết bị quốc tế. Ví dụ một doanh nghiệp thuộc ngành giấy nhập khẩu đợc một dây
chuyền sản xuất giấy tráng phấn đã qua sử dụng của nớc ngoài có năm sản xuất
của thiết bị từ đầu thập kỷ 60 (dây chuyền này nớc ngoài bỏ đi không dùng nữa để
thay thế dây chuyền mới), song vẫn có quyền tự hào là dây chuyền hiện đại so với
Việt nam. Do thiếu thông tin về thị trờng này, các DN V&N cũng khó tiếp cận
những dịch vụ t vấn hỗ trợ trong việc xác định công nghệ thích hợp và hiệu quả,
giúp họ cải tiến và nâng cao sức cạnh tranh.
Sức cạnh tranh trên thị trờng trong nớc: Các DN V&N gặp khó khăn do
những thủ tục và điều kiện cạnh tranh không bình đẳng ở thị trờng trong nớc mà
nguyên nhân chủ yếu là bản quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp ch-
Cho vay là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển
giao tiền hoặc tài sản cho bên kia. Bên nhận tiền hoặc tài sản sẽ cam kết hoàn trả
trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
ở nớc ta, các NHTM cho vay chủ yếu dới hình thức cho vay tiền. Cho vay
tiền của ngân hàng là nghiệp vụ trong đó ngời cho vay chuyển giao cho ngời đi
vay một lợng giá trị tiền tệ nhất định, ngời đi vay chỉ đợc sử dụng tạm thời trong
một thời gian và cam kết sẽ hoàn trả sau thời gian do hai bên thoả thuận (tuỳ
thuộc vào thời hạn khoản vay). Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay, phần
chênh lệch đó là lãi cho vay. Lãi cho vay tỉ lệ với số lợng tiền và thời hạn vay.
Căn cứ vào thời hạn vay, hoạt động cho vay đợc phân thành 3 loại:
11
Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn dới 1 năm và đợc sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các
nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Loại tín
dụng này chủ yếu đợc dùng để đầu t mua sắm TSCĐ, cải tiến hoặc đổi
mới thiết bị, công nghệ, mở rộng SXKD, xây dựng các dự án mới có quy
mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài
hạn chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu dài hạn nh xây dung nhà ở, các thiết
bị, phơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Mở rộng tín dụng trung dài hạn có thể hiểu là sự đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
của nhiều loại khách hàng về quy mô và các hình thức tín dụng trung dài hạn.
Những khoản tín dụng trung dài hạn thờng có qui mô lớn hơn và lãi suất
cao hơn các khoản tín dụng ngắn hạn sẽ mang lại lợi nhuận không nhỏ cho ngân
hàng ổn định trong một thời gian tơng đối dài. Mở rộng qui mô tín dụng trung dài
hạn cả về số lợng và chất lợng là hoạt động mang tính chiến lợc của NHTM, đồng
thời nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng. Khi Ngân hàng cấp tín dụng cho
khách hàng chính là ngân hàng đang tạo ra và duy trì khách hàng cho tơng lai, tạo
điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động và ngày càng khẳng định vị
ngân hàng ngày càng ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng
thông qua việc hạ lãi suất tiền vay cũng nh cung cấp cho khách hàng các dịch vụ
với mức phí hấp dẫn, thủ tục đơn giản nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng với
thời gian nhanh nhất và đạt hiệu quả cao.
* Về hình thức cho vay:
Xét riêng về cho vay trung dài hạn, trớc đây hình thức cho vay chủ yếu của
các ngân hàng thơng mại là cho vay theo dự án đầu t. Khi doanh nghiệp có nhu
cầu đầu t một dự án nào đó, doanh nghiệp lập dự án và mang đến ngân hàng để
13
xem xét cho vay. Cán bộ ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định chủ đầu t và thẩm
định dự án đối với các nội dung liên quan, trong đó quan trọng nhất là thẩm định
về mặt hiệu quả tài chính để xem xét tính khả thi của dự án, xem xét khả năng
liệu ngân hàng cho vay có thu hồi đợc nợ gốc, nợ lãi và các loại phí đúng hạn hay
không. Nếu dự án đạt đợc hiệu quả nh mong muốn thì chủ đầu t sẽ đợc ngân hàng
cho vay vốn, tất nhiên là phải đảm bảo các điều kiện khác về năng lực tài chính
của doanh nghiệp, vốn tự có tham gia vào dự án hoặc điều kiện về tài sản thế
chấp, cầm cố
Tuy nhiên, trong điều kiện hoạt động kinh doanh hiện nay, ngoài hình thức
cho vay chủ yếu này, các NHTM còn áp dụng nhiều loại hình cho vay trung dài
hạn khác nh cho vay tuần hoàn, cho vay dới hình thức cho thuê tài chính. Mặt
khác, xét về chủ thể tham gia cho vay, trớc đây từng ngân hàng tự tham gia cho
vay riêng lẻ với khách hàng của mình, song gần đây, các ngân hàng có sự liên kết
với nhau và cùng tìm kiếm khách hàng và cùng hơph vốn để cho vay dới hình thức
cho vay đồng tài trợ. Việc cho vay đồng tài trợ sẽ giúp các NHTM có điều kiện
nâng cao chất lợng thẩm định dự án và chia sẻ đợc rủi ro trong trờng hợp xấu là
không thu hồi đợc vốn đầu t.
* Chỉ tiêu về doanh số cho vay và tổng d nợ:
Một chỉ tiêu không kém phần quan trọng trong việc xem xét đánh giá về mở
rộng cho vay trung dài hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh số cho vay.
Nếu các NHTM dù có cố gắng đến đâu song không tăng đợc doanh số cho vay
phụ thuộc nhiều vào trình độ của cán bộ tín dụng. Nếu trình độ của họ yếu sẽ ảnh
hởng bất lợi đến hoạt động cho vay của Ngân hàng.
Nguồn vốn cho vay: Việc cho vay của ngân hàng luôn bị giới hạn bởi khả
năng cung ứng vốn. Nếu nguồn vốn của ngân hàng phong phú, d thừa thì ngân
hàng luôn mong muốn mở rộng cho vay, đồng thời có khả năng đáp ứng đa dạng
15
nhu cầu của khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Nhng ngợc lại, năng lực về vốn
của ngân hàng bị hạn chế tất yếu dẫn đến thu hẹp cho vay. Ngân hàng chỉ muốn
duy trì các khách hàng truyền thống, chứ thực sự cha thể mở rộng đối tợng đầu t.
* Về phía doanh nghiệp
Năng lực tài chính: Một trong những chỉ tiêu quan trọng để quyết định việc
ngân hàng có cho vay đối với doanh nghiệp hay không chính là khả năng tài chính
của bản thân doanh nghiệp đó. Nếu doanh nghiệp ở trong tình trạng tài chính tốt
(kinh doanh có lãi hay lãi thực dơng, đủ khả năng thanh toán các khoản nợ, không
có nợ xấu ), ngân hàng có thể dễ dàng chấp thuận cho doanh nghiệp vay. Ngợc
lại, ngân hàng sẽ khó có thể chấp thuận việc xin vay của khách hàng có tình hình
tài chính xấu do lo sợ gặp phải rủi ro.
Sự trung thực: Các ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ
khách hàng về các yếu tố liên quan nh khả năng tài chính, tính khả thi của dự án,
năng lực kinh doanh Tuy nhiên tính trung thực và trách nhiệm của khách hàng
sau khi khoản vay đợc giải ngân có ảnh hởng lớn đến hiệu quả của khoản vay
trung dài hạn. Khách hàng có thể lợi dụng mối quan hệ với ngân hàng để chiếm
đoạt vốn vay, hoặc sử dụng vốn vay sai mục đích. Ngoài ra tình trạng hoạt động
của doanh nghiệp cũng tác động đến hiệu quả sử dụng khoản vay thể hiện qua các
chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp và trình độ quản lý của ban lãnh đạo.
* Những yếu tố khách quan khác
- Môi trờng kinh tế:
Sự phát triển của nền kinh tế có tác động nhiều tới công tác tín dụng do nhu
cầu tín dụng trong nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự tăng trởng kinh tế. Một nền
2.1. Khái quát về Ngân hàng Ngoại Thơng Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
Thành lập vào ngày 1- 4-1963 với tổ chức tiền thân là Cục quản lý Ngoại hối
của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, trải qua gần 40 năm xây dựng và trởng thành,
đến nay NHNT VN đã đợc Nhà nớc xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệp đặc
biệt, là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, thành viên Hiệp hội Ngân
hàng Châu á. NHNT VN luôn đợc biết đến nh là ngân hàng hàng đầu của Việt
Nam trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán, xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối,
bảo lãnh Ngân hàng, các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế, kể cả nghiệp vụ thẻ
tín dụng Visa, Mastercard
Trớc năm 1990, NHNT VN là Ngân hàng của Chính phủ thực hiện các chính
sách tiền tệ, quản lý ngoại hối, kinh doanh đối ngoại của NHNN và cung ứng tín
dụng cho các ngành kinh tế chủ chốt của đất nớc theo qui định của NHNN.
NHNT VN đợc coi là Ngân hàng duy nhất của Nhà nớc thực hiện chức năng của
một Ngân hàng đối ngoại.
Với pháp lệnh Ngân hàng (5/1990) chuyển hệ thống Ngân hàng Việt Nam
sang cơ chế hai cấp và Quyết định 286 QĐ-NH5 do thống đốc Ngân hàng ký
thành lập lại NHNT VN theo mô hình Tổng công ty, đồng thời hành lang pháp lý
ngày càng thích hợp và mở rộng các hoạt động Ngân hàng, đa dạng hoá các
nghiệp vụ và giúp ngành ngân hàng có những đóng góp to lớn vào quá trình tăng
trởng, phát triển kinh tế của đất nớc, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
Trên chặng đờng gần 40 năm qua, NHNT VN đã đặt đợc những nền tảng quí
báu. Đến nay, NHNT VN phát triển lớn mạnh rất nhiều, trở thành một hệ thống
gồm 30 chi nhánh trong cả nớc; 1 Công ty cho thuê tài chính và 1 Công ty Chứng
18
khoán mang tên NHNT; NHNT VN còn vơn phạm vi hoạt động ra cả nớc ngoài
với 1 công ty tài chính và 3 văn phòng đại diện ở Hongkong, Singapore, Pháp và
Nga. Với tổng số trên 2800 cán bộ có trình độ, năng động, nhiệt tình; đầu t cổ
phần vào 14 doanh nghiệp; 3 liên doanh với nớc ngoài; 6 ngân hàng cổ phần; 2
2.1.2.1 Huy động vốn
Hoạt động cơ bản chủ yếu của Ngân hàng là huy động vốn để cho vay, do
vậy kết quả huy động vốn của Ngân hàng là cơ sở để đánh giá tính hiệu quả của
các chính sách huy động vốn, cơ cấu vốn huy động. Trong những năm qua, nguồn
vốn huy động của NHNT VN vẫn tăng trởng mạnh. Tình hình ổn định của đồng
vốn thể hiện uy tín của NHNT VN và nỗ lực của Ngân hàng trong công tác này
qua chính sách huy động vốn mềm dẻo và linh hoạt, cũng nh Ngân hàng đã tạo đ-
ợc niềm tin với khách hàng, tạo ra nhiều thuận lợi về vốn cho Ngân hàng trong
hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt đối với hoạt động cho vay thông thờng.
Bảng 1: Chỉ tiêu nguồn vốn của NHNT VN năm 1999-2001
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Số d Tỷ trọng
%/TNV
Số d Tỷ trọng
%/TNV
So sánh Số d Tỷ trọng
%/TNV
So sánh Số d Tỷ trọng
%/TNV
So sánh
1.TG của các TCKT
5859 23 8702 24,94 48,52 9515 17,92 9,34 15141 24,77 59,13
tr/đó :TG KKH
3617 14,20 4912 14,10 35,80 6127 11,54 24,74 7925 12,96 29,35
TG CKH
530 2,10 640 1,83 20,75 2493 4,70 289,5 5665 9,27 127,2
2. Tiết kiệm và kỳ phiếu
4664 18,31 6618 18,96 41,90 10157 19,13 53,47 12645 20,69 24,50
tổng vốn huy động tại chỗ và bằng 25% tổng nguồn vốn, tỷ trọng này năm 2000 là
36,8%.
Trong 2 năm 1998 và 1999, cơ cấu tiền gửi của các tổ chức kinh tế dờng nh
không thay đổi thì đến hết năm 2001, cơ cấu tiền gửi đã có sự dịch chuyển. Nếu
nh năm 2000 tiền gửi có kỳ hạn qui ra đồng là 2.493 tỷ đồng chiếm 9% vốn huy
động và 4,7% tổng nguồn vốn thì sang năm 2001 con số này là 5.665 tỷ đồng
chiếm 15,4% và 9,3% tổng nguồn vốn. Sự dịch chuyển cơ cấu sang tiền gửi có kỳ
hạn của các tổ chức kinh tế phần nào phản ánh sự đình trệ của nền kinh tế, vì các
tổ chức kinh tế có xu hớng gửi tiền vào Ngân hàng để hởng lãi suất tiền gửi. Riêng
năm 2001, tiền gửi không kỳ hạn bằng ngoại tệ chỉ tăng 53 triệu USD (tăng
khoảng 19%) so với năm trớc, trong khi tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ tăng lên
191 triệu USD (272%). Mặc dù lãi suất ngoại tệ của các loại kỳ hạn bằng ngoại tệ
đều giảm (theo xu hớng chung của thị trờng), nhng tỷ giá vẫn tăng liên tục khiến
cho doanh nghiệp gia tăng giữ ngoại tệ ở dạng tiền gửi có kỳ hạn để tránh rủi ro tỷ
giá. Từ năm 2002, khả năng tỷ giá vẫn tiếp tục tăng nên xu hớng dịch chuyển cơ
cấu tiền gửi từ không kỳ hạn sang có kỳ hạn là không thay đổi. Vốn huy động có
sự thay đổi về cơ cấu kỳ hạn song chủ yếu vẫn là các khoản vốn huy động có thời
hạn ngắn. Một khó khăn đặt ra cho ngân hàng là tình trạng vốn huy động dài hạn
21
không đủ để đáp ứng các nhu cầu tín dụng trung dài hạn trong khi Ngân hàng
đang có xu hớng mở rộng và đa dạng hoá khách hàng.
* Huy động tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu
Huy động tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu của dân c đến ngày 31/12/1999 đạt
6.618 tỷ đồng chiếm 31,68% tổng nguồn vốn huy động. Do tỷ giá ổn định ngay từ
đầu năm 1999 nên tiền gửi tiết kiệm tăng đều và vững chắc bằng VNĐ và ngoại
tệ. Sang năm 2000 con số này là 10.157 tỷ đồng, tăng so với năm trớc là 3.539 tỷ
đồng (53,5%). Trong đó năm 2001, tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 8250
tỷ đồng chiếm 65%. Đây là tỷ trọng tơng đối ổn định trong tổng nguồn vốn của
NHNT VN trong vài năm gần đây. Nguồn vốn huy động bằng tiết kiệm, kỳ phiếu,
trái phiếu là nguồn chủ yếu hình thành vốn để cho vay trung dài hạn của Ngân
100 15,16
Cho vay tr.tiếp nền k. tế
2853
11,2
2626
7,53 -7,96
3095
5,83 17,85
3881
6,35 25,39
- Cho vay UTĐT
251 0,99 237 0,68 -5,55 208 0,39 -12,2 168 0,27 -19,3
- Chiết khấu ch.từ có giá
10 0,04 6 0,02 -38,4 5 0,01 -25,1 7 0,01 45,68
- Cho vay thông thờng
2573 10,1 2326 6,67 -9,54 2774 5,23 19,27 3457 5,66 24,61
- Góp vốn cho vay ĐTT
_ 0 47 0,14 _ 40 0,08 -15,5 180 0,29 351,8
- Cho vay khác
19 0,08 9 0,03 -52,1 68 0,13 631,5 69 0,11 1,38
QH với TT LNH
15694
62,1
26874
77,02 68,53
42432
79,94 57,89
45767
74,87 7,86
- QH với NHNN
UTĐT: cho vay uỷ thác đầu t
Cho vay khác: CV thanh toán công nợ, CV do bảo lãnh, cho thuê tài chính
Biểu đồ 1: Cơ cấu sử dụng vốn năm 2001
(Nguồn: báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001 của NHNTVN)
Đối với hoạt động cho vay thông thờng, tổng d nợ cho vay khách hàng của
NHNTVN đến 31/12/1999 là 2.326 tỷ giảm 9,88% so với cuối năm 1998. Đến
năm 2000 tăng lên 5,23% và năm 2001 tăng 5,66% so với năm 2000. Việc tăng
d nợ tín dụng thông thờng trong hai năm liên tiếp 2000 - 2001 thể hiện hoạt động
tín dụng của NHNT đã đợc cải tiến về nhiều mặt nên đảm bảo đợc chất lợng tốt.
23
6%
63%
1%
18%
CV TT nền kinh tế
QH TT liên NH
Góp vốn liên doanh
Sử dụng vốn khác
Công tác tiếp thị đợc tăng cờng nên Ngân hàng đã thu hút đợc một số khách hàng
mới. Đặc biệt từ năm 2001, Ngân hàng đã bắt đầu chú trọng cho vay đối với các
đối tợng là DN V&N ngoài quốc doanh, nhng hoạt động cho vay này khá mới mẻ nên
Ngân hàng tỏ ra tơng đối thận trọng.
Biểu đồ 2: Cho vay trực tiếp nền kinh tế trong tổng nguồn vốn sử dụng
từ 1998 - 2001
(Nguồn: báo cáo hoạt động kinh doanh năm 1998-2001 của NHNTVN)
Ngoài các hoạt động cho vay thông thờng, NHNT đã tăng cờng hoạt động
qua thị trờng liên ngân hàng trong nớc và quốc tế, nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận. Có thể thấy hoạt động qua thị trờng liên ngân
hàng của NHNT VN trong năm 2001 phát triển mạnh, chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt
đến 75% cơ cấu sử dụng vốn. Cho vay uỷ thác cũng phát sinh qua các năm, hình
năm 2001, Ngân hàng không mở rộng sử dụng vốn đối với nghiệp vụ này.
2.1.2.3 Các mặt hoạt động khác
* Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
Doanh số thanh toán XNK năm 2001 của Sở Giao dịch NHNT VN ớc đạt
3.026 triệu USD, tăng 476 triệu USD (17%) so với năm 2000, chiếm 34% doanh
số thanh toán XNK của toàn hệ thống NHNT. So với mức tăng của năm 2000 thì
mức tăng của năm 2001 có phần thấp hơn nhng kết quả nh vậy là tơng đối khả
quan. Trong năm 2001, doanh số thanh toán các mặt hàng xuất khẩu nh thuỷ sản,
gạo, dệt may đều tăng mạnh. Nhng mặt hàng dầu thô giảm do suy thoái kinh tế
toàn cầu và giá dầu thô trên thị trờng thế giới liên tục giảm dẫn đến doanh số
thanh toán mặt hàng này qua NHNT giảm mạnh. Doanh số thanh toán nhập khẩu
qua NHNT VN giảm nhẹ. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu đợc thanh toán qua
NHNT là xăng dầu, máy móc thiết bị, sắt thép, hoá chất, xe máy Doanh số thanh
toán nhập khẩu giảm do giảm tới 60% doanh số thanh toán nhập khẩu bằng vay nợ so
với năm 2000.
* Phát hành và thanh toán thẻ
Hoạt động thanh toán thẻ năm 2001 đã có những thành quả đáng khích lệ. Số
lợng thẻ phát hành năm 2001 qua NHNT đạt hơn 5.000 thẻ (trong đó có hơn 2.000
thẻ Master và hơn 3.000 thẻ Visa), tăng 95% so với năm 2000. Số lợng thẻ phát
hành trong năm 2001 tăng nhiều là do NHNT VN đã cải tiến công nghệ và chất l-
ợng thẻ đợc nâng cao nên đã tăng thời hạn hiệu lực của thẻ lên 2 năm. Doanh số
sử dụng thẻ năm 2001 là 90 tỷ đồng. Hạn mức sử dụng thẻ tăng mạnh (hơn 80%),
tuy nhiên khách hàng dùng thẻ để chi tiêu ở nớc ngoài là chủ yếu, chiếm 75% hạn
mức sử dụng thẻ. Từ tháng 7.2002, NHNT VN độc quyền kinh doanh thẻ Amex ở
Việt nam. Đồng thời, từ tháng 5.2002 NHNT phát hành thẻ Vietcombank ATM,
đến nay đã phát hành đợc trên 10.000 thẻ với doanh số thanh toán trên 30 tỷ đồng.
25