ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định:
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều 18, Chương II); Luật Đất đai 2003 quy
định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một trong các nội dung quản lý Nhà
nước về đất đai.
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003; Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29 tháng
10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và Thông tư số 30/2004/TT-
BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn
việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; UBND Thành
phố Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện Dự án Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010) của Thành phố.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong các điều kiện tiên quyết để Thành phố
Hồ Chí Minh thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
1. Vai trò, vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất của cả nước, một trung tâm lớn về
kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng.
Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt và ảnh hưởng trực tiếp đến Vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam và cả nước, những năm qua nền kinh tế của Thành phố đã phát
triển với tốc độ tăng trưởng cao, thu hút mạnh mẽ đầu tư trong nước và nước ngoài.
Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố đã và đang phù hợp
với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết hợp tốt giữa xây dựng phát
triển với bảo đảm an ninh quốc phòng, giữa cải tạo và xây dựng mới. Sự phát triển của
Thành phố phù hợp với mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị đặc
biệt, trung tâm cấp quốc gia vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc; là một trung tâm
lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao thương và hợp tác quốc tế,
môi trường đầu tư có vị trí chính trị quan trọng đối với cả nước và các tỉnh phía Nam,
xứng đáng tầm cỡ với các đô thị lớn văn minh, hiện đại trong khu vực và trên thế giới.
Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp, Đại hội X của Đảng xác định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
đến năm 2010 với mục tiêu chung là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân
+ Khu vực Nông nghiệp: tốc độ tăng trưởng 5%/năm trở lên.
- Cơ cấu kinh tế được xác định như sau:
+ Khu vực Dịch vụ - thương mại: tỷ trọng chiếm 50,6 %;
+ Khu vực Công nghiệp - xây dựng: tỷ trọng chiếm 48,5%;
+ Khu vực Nông nghiệp: tỷ trọng chiếm 0,9%.
- Bên cạnh đó, đối với từng khu vực kinh tế, Thành phố đã xác định và định hướng các
ngành mũi nhọn ưu tiên phát triển là:
+ Đối với khu vực thương mại – dịch vụ: Các dịch vụ sẽ phát triển rất nhanh bao
gồm: Tài chính – tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm; Thương mại (tập trung vào các loại
dịch vụ phục vụ xuất khẩu); Vận tải, kho bãi, dịch vụ cảng; Bưu chính - viễn thông và
công nghệ thông tin truyền thông; Kinh doanh tài sản – bất động sản; Dịch vụ tư vấn
khoa học – công nghệ; Du lịch; y tế và giáo dục – đào tạo chất lượng cao.
+ Đối với khu vực Công nghiệp – xây dựng: Chuyển dịch mạnh theo hướng tăng
nhanh các ngành công nghiệp công nghệ kỹ thuật cao, giá trị sản phẩm lớn, có hàm
lượng tri thức và giá trị gia tăng cao như các ngành cơ khí chế tạo máy, công nghệ
điện tử tin học, phần mềm, hóa chất, vật liệu mới.
Chú trọng giải quyết mục tiêu tăng trưởng bền vững song song với bảo vệ môi
trường, hạn chế sử dụng nhiều năng lượng và tạo ra các chất thải độc hại đồng thời
với nâng cao đời sống xã hội, giữ vừng an ning quốc phòng.
Quy hoạch lại, điều chỉnh các khu, cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn theo
hướng chuyên môn hóa và hợp tác hóa; Phân công hợp lý, thống nhất với toàn Vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam
+ Đối với khu vực Nông nghiệp: Xây dựng nền nông nghiệp đô thị năng suất
cao. Tiếp tục thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu cây trồng,
vật nuôi, thủy sản; phát triển mạnh các loại cây con và nông sản chủ lực theo hướng
nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất tập trung. Hỗ trợ việc nuôi trồng các sản phẩm
có hiệu quả kinh tế cao, xuất khẩu được lâu dài như rau sạch, cây kiểng, hoa, cá
kiểng....
Sản xuất giống cây, giống con chất lượng cao, thực hiện có kết quả các pháp
lệnh về công tác giống cây trồng, vật nuôi.
- Điều chỉnh, bổ sung một số công trình công viên cây xanh như: Thảo cầm
viên tại Củ Chi 580 ha (trước đây là 300 ha), bổ sung công viên hồ sinh thái quận
Bình Tân, khu công viên Gia Định huyện Củ Chi khoảng 100 ha.
- Bố trí thêm một số khu làng Đại học lớn tại quận 9 (100 ha), huyện Hóc Môn
500 ha (trong khu đô thị Tây bắc), huyện Bình Chánh (50 ha).
- Bổ sung các Trung tâm Viện trường và các cơ sở y tế tại 4 cửa ngõ của thành
phố khoảng 220 ha.
- Phát triển thêm một số khu đô thị như Khu đô thị Cảng Hiệp Phước (2.000
ha), Khu Đô thị lấn biển Cần Giờ (quy mô khoảng 2.000 ha, giai đoạn từ nay đến
năm 2010 dự kiến 800 ha).
2.3. Luật Đất đai thay đổi
Đồng thời với những thay đổi về các chỉ tiêu kinh tế xã hội, hệ thống chỉ tiêu
về đất đai cũng có sự thay đổi cơ bản.
Do Quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 của Thành phố Hồ Chí Minh đã xây
dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trước khi các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật Đất đai 2003 có hiệu lực nên hệ thống chỉ tiêu trong phương án quy hoạch cơ bản
theo hệ thống chỉ tiêu của Luật Đất đai 1993. Mặt khác, năm 2005 thực hiện Chỉ thị của
Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm kê đất đai với
hệ thống chỉ tiêu theo Luật Đất đai năm 2003 (trong khi đó, hệ thống chỉ tiêu đất đai
giữa Luật Đất đai 1993 và Luật Đất đai 2003 không đồng nhất) nên sự khác biệt số liệu
giữa phương án quy hoạch với hiện trạng kiểm kê là không tránh khỏi, do đó nếu không
có sự điều chỉnh sẽ gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch.
Như vậy, để đảm bảo tính đồng nhất của hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất và đồng
thời phù hợp với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010, cần thiết phải tiến
hành điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của Thành phố.
3. Căn cứ để điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
3.1. Các căn cứ pháp lý
- Luật đất đai 2003;
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về
thi hành Luật Đất đai;
- Quy hoạch phát triển hệ thống mạng lưới Chợ – Siêu thị, trung tâm thương
mại của 22 quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 (Sở
Thương mại);
- Định hướng quy hoạch phát triển công nghiệp TP.Hồ Chí Minh đến năm 2010
có tính đến năm 2020 theo QĐ 188/2004/QĐ-TTg ngày 01/11/2004 của Thủ tướng
Chính phủ;
- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành Y tế Thành phố Hồ Chí
Minh đến năm 2020 (Sở Y tế);
- Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh (Sở Giáo dục
và đào tạo);
- Quy hoạch phát triển mạng lưới ngành thể dục thể thao đến năm 2020 (Sở
Thể dục - Thể thao);
- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành văn hóa thông tin đến
năm 2010 (Sở Văn hóa và thông tin);
- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đến năm
2020;
- Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2010 và Quy hoạch cây xanh đô thị dài hạn
đến năm 2020 (Công ty công viên cây xanh);
- Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010
(Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn);
- Các quyết định phê duyệt quy hoạch: Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu đô thị
Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh;
- Nhiệm vụ quy hoạch chung Khu đô thị Tây bắc và kế hoạch sử dụng đất 5
năm (2006-2010) trên địa bàn Khu đô thị Tây bắc (Ban Quản lý Khu đô thị Tây bắc);
- Tài liệu kiểm kê đất đai năm 2000, năm 2005 của toàn thành phố Hồ Chí
Minh và của các quận huyện;
- Tài liệu đo đạc bản đồ địa chính trên địa bàn các quận huyện.
4. Cơ sở khoa học và phương pháp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5
năm 2006 – 2010 của thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng theo trình tự từ trên
sử dụng hợp lý các loại đất phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của Thành phố và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, đồng thời đảm
bảo sự phù hợp với tiến độ đầu tư giai đoạn 2006 – 2010;
- Định hướng và xây dựng bộ số liệu gốc, làm cơ sở để lập quy hoạch sử dụng
đất cho các quận, huyện; làm cơ sở cho cấp xã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
chi tiết, đồng thời là tiền đề để các ngành xây dựng dự án, lập quy hoạch chi tiết các
công trình, dự án đầu tư.
- Làm cơ sở để quản lý thống nhất đất đai theo quy định của pháp luật, bảo vệ
tài nguyên đất, môi trường sinh thái và nâng cao đời sống xã hội, phát triển kinh tế
phù hợp với việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững.
Phần I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực Nam Bộ, trong vùng phát triển kinh tế
trọng điểm phía Nam, nơi hội lưu của các con sông như sông Đồng Nai và sông Sài
Gòn. Thành phố Hồ Chí Minh trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có tọa độ địa lý
từ 10
0
22’13” đến 11
0
22’17” vĩ độ Bắc và 106
0
01’25” đến 107
0
01’10” kinh độ Đông,
giáp ranh với các tỉnh:
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía Đông Nam giáp tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu.
khoảng 11% tổng diện tích tự nhiên. Dạng địa hình này phân bố chủ yếu ở huyện Củ Chi
và một phần ở Quận 9, Thủ Đức.
- Dạng đất bằng thấp:
Chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên. Độ cao 2 - 4 m, điều kiện tiêu thoát
nước tương đối thuận lợi. Phân bố chủ yếu ở các quận nội thành, một phần ở Thủ Đức,
Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và phía Nam huyện Bình Chánh.
- Dạng trũng thấp, lầy ở phía Tây Nam:
Chiếm khoảng 34% diện tích tự nhiên, độ cao phổ biến từ 1 - 2 m. Phân bố dọc
theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tam Tân, Thái Mỹ kéo dài từ các huyện
Bình Chánh đến Củ Chi, khu vực trung tâm huyện Nhà Bè, Bưng Sáu Xã của Thủ
Đức (cũ) và phía Bắc huyện Cần Giờ.
- Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển:
Chiếm khoảng 21% tổng diện tích tự nhiên. Dạng địa hình này có độ cao phổ
biến khoảng 0 - 1 m, nhiều nơi có độ cao thấp hơn mực nước biển, nhìn chung đa số
chịu ảnh hưởng của thuỷ triều hàng ngày.
1.3. Khí hậu
Thành phố nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận
xích đạo với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm khoảng 28
0
C
(dao động trong khoảng 26,6 - 30,1
0
C). Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và
tháng lạnh nhất khoảng 4
0
C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4, thấp nhất là tháng
12.
thông qua sông Sài Gòn bằng hệ thống kênh Rạch Chiếc). Tại địa phận Quận 9, sông
rộng 400 - 600 m. Lòng sông không sâu so với các sông khác, độ sâu trung bình 12 -
15 m, dòng chảy trung bình 500 m
3
/s.
- Sông Sài Gòn:
Là sông có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa do vậy thuỷ triều
truyền vào rất sâu và mạnh. Chế độ thuỷ văn, dòng chảy của các kênh rạch trong
Thành phố chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Sài Gòn.
- Sông Vàm Cỏ Đông:
Sông Vàm Cỏ Đông có rất nhiều sông nhánh nối với hệ thống kênh rạch khu
vực Tây Nam Thành phố.
- Hệ thống kênh rạch của Thành phố có thể khái quát làm hai hệ thống chính:
Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là rạch Bến
Cát và kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.
Hệ thống kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh Tẻ như rạch Tân
Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hoá - Lò Gốm... Đặc điểm của các kênh rạch này là chúng
tương đối độc lập và bắt nguồn từ vùng đất cao.
Nét nổi bật chi phối tất cả các chế độ dòng chảy trong khu vực Thành phố là sự
xâm nhập của thuỷ triều. Phân tích biên độ dao động của thuỷ triều tại các trạm Bến
Lức, Gò Dầu Hạ (trên sông Vàm Cỏ Đông), các trạm Nhà Bè, Phú An, Thủ Dầu Một
(trên sông Sài Gòn) cho thấy biên độ dao động thuỷ triều dọc sông Sài Gòn thay đổi
và giảm dần từ cửa sông đến Dầu Tiếng và biên độ dao động của thuỷ triều trên sông
Vàm Cỏ Đông nhỏ hơn trên sông Sài Gòn rất nhiều. Với chế độ dòng triều như vậy
cho nên hầu như các ảnh hưởng và sự trao đổi dòng chảy giữa hai sông Sài Gòn và
Vàm Cỏ Đông rất yếu và đó cũng là nguyên nhân tạo ra các giáp nước (nơi dòng
chảy đổi chiều, tốc độ dòng chảy bằng 0 hoặc gần bằng 0) trên sông Bến Lức và kênh
Thầy Cai.
2. Các nguồn tài nguyên
2.1. Tài nguyên đất
3+
, Al
3+
rất cao. Nhìn chung đất
có độ pH thấp, hàm lượng Cl
-
và các muối tan rất cao vì đất thường xuyên chịu ảnh
hưởng của nước biển làm cho đất phèn trở nên phức tạp và diễn biến nhanh chóng
theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất cũng như môi trường. Mg
2+
và Na
2+
chiếm vai
trò chính trong thành phần các cation trao đổi.
Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, cùng với sự tích luỹ muối
phá vỡ các keo đất làm cho đất dính dẻo khi ướt, nứt nẻ và cứng khi khô. Do đất phèn
được hình thành trên trầm tích Holocen, cùng với quá trình trầm tích là quá trình vùi
lấp các thân xác thực vật biển trong điều kiện yếm khí nên đất phèn thường rất giầu
các hợp chất hữu cơ (5 - 12%).
Các loại đất phèn có tầng sinh phèn sâu, không còn chịu ảnh hưởng của nước
biển và thường có nguồn nước tưới. Hiện nay, đất phèn đã được khai thác trồng lúa 2
- 3 vụ, rau màu và các loại cây ăn quả. Còn lại một diện tích lớn các đất phèn có tầng
sinh phèn nông, còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều được sử dụng cho việc trồng và
bảo vệ rừng ngập mặn.
2.1.4. Đất phù sa:
Có diện tích khoảng 26.397 ha, chiếm 12,6% diện tích tự nhiên, trong đó loại
đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5%. Phân bố chủ yếu ở vùng Nam Bình Chánh và
một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5 m. Các chất dinh dưỡng về mùn,
đạm, lân và kali rất giàu. Đây là loại đất tốt, cần thiết phải được cung cấp nước tưới,
ưu tiên sản xuất lúa nước 2 - 3 vụ và sử dụng một phần diện tích cho việc trồng cây ăn
chỉ làm thay đổi lượng nước theo mùa nhưng không thay đổi về tổng lượng nói
chung.
Nước mặt trên địa bàn Thành phố hiện nay chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản tại các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần
Giờ với lưu lượng khoảng 100 triệu m
3
/năm.
2.2.1.2. Nước dưới đất
Nguồn nước dưới đất phân bố khá rộng, nước dưới đất ngọt phân bố chủ yếu ở
các tầng chứa nước Pliocen ở độ sâu 100 - 300 m, cá biệt có nơi 20 - 50 m. Tập trung tại
các huyện Củ Chi, Hóc Môn, phía Bắc huyện Bình Chánh, các quận Tân Bình, Gò
Vấp... trữ lượng khai thác ước tính 300 - 400 m
3
/ngày.
Nước dưới đất đã được khai thác và sử dụng từ những năm đầu thế kỷ XX và bùng nổ việc
khai thác từ sau năm 1991. Tổng lưu lượng nước hiện đang khai thác khoảng 600.000 m
3
/ngày, chiếm
trên 30% nhu cầu nước sinh hoạt của Thành phố. Hiện nay, Thành phố đang mở rộng mạng lưới cấp
nước, tăng khai thác nước mặt để dần dần giảm khai thác lượng nước dưới đất.
2.2.2. Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 33.857,86
ha đất lâm nghiệp; chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên.
Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi, trong đó chủ yếu là
diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ (chiếm khoảng 94% diện tích rừng). Số diện tích
còn lại phân bố ở Bình Chánh và Củ Chi dưới dạng rừng thứ sinh tự nhiên và rừng
trồng, với các loại thực vật chủ yếu là bạch đàn và keo lá tràm.
Rừng Cần Giờ không những là rừng phòng hộ mà còn là khu dự trữ sinh quyển
được UNESCO công nhận. Động thực vật chủ yếu là các chủng loại chịu mặn (đước,
sú, vẹt,...; khỉ, chim, cá,...).
3
.
- Cát xây dựng: Chủ yếu từ các thành tạo trầm tích Pleistocen muộn và
Pleistocen giữa - muộn ở các khu vực Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn và trên các tuyến
sông. Cát xây dựng chưa được đánh giá trữ lượng. Riêng đoạn sông từ cầu Đồng Nai
đến ngã ba sông Sài Gòn (ngã ba Đèn đỏ) với chiều dài khoảng 40 km, tổng trữ lượng
tài nguyên cấp C là 37.500.000 m
3
.
- Sét gạch ngói: Phân bố nhiều nơi trên địa bàn tThành phố với 2 kiểu nguồn
gốc trầm tích và phong hóa. Mỏ sét phong hóa Long Bình đã được khai thác hết với
trữ lượng 11.000.000 m
3
. Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo trên 50.000.000 m
3
, trong
đó điển hình mỏ Tân Quy (17.000.000 m
3
), Vĩnh Lộc (13.365.000 m
3
), Tân Túc
(7.764.000 m
3
), Nhị Bình (7.200.000 m
3
),…
- Sét Keramzit: Là loại vật liệu làm từ sét có tính trương phồng khi nung nhanh
ở nhiệt độ thích hợp, có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất bê tông nhẹ xây dựng nhà
cao tầng, vật liệu cách nhiệt, cách âm, chất độn xà phòng, dung dịch khoan, ngoài ra
còn có rất nhiều ứng dụng khác. Chỉ ghi nhận được được một điểm Keramzit ở Cần
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Mối liên quan giữa việc quản lý, sử dụng và
bảo vệ tài nguyên, môi trường đôi khi lại bị bỏ qua hoặc không được chú ý đúng mức
do không có công cụ hoặc giải pháp thích hợp. Do vậy, khi lập quy hoạch sử dụng đất
của Thành phố Hồ Chí Minh cần phải đặc biệt quan tâm đến các vấn đề chính về môi
trường dưới đây.
3.1. Môi trường không khí
Từ năm 1995, Thành phố đã thiết lập hệ thống quan trắc chất lượng môi trường
không khí bán tự động; năm 1996 bổ sung thêm 01 trạm. Các thông số đo đạc bao
gồm: NO
2
, CO, bụi, chì và tiếng ồn. Đến tháng 8 năm 2000 với sự tài trợ của UNDP,
hệ thống quan trắc chất lượng môi trường không khí tự động được thiết lập; tiếp đó
đến tháng 8 năm 2002 với sự tài trợ của NORAD – Na Uy bổ sung thêm 5 trạm. Các
thông số đo đạc: PM
10
, SO
2
, NOx, CO, O
3
. Ngoài ra còn có 6 trạm quan trắc không
khí bán tự động để quan trắc chất lượng không khí ven đường.
Kết quả quan trắc chất lượng không khí cho thấy nồng độ các chất ô nhiễm
không khí đo được trong khu dân cư đạt tiêu chuẩn cho phép (nồng NO
2
và SO
2
dao
động trong khoảng từ 2,3 – 40,49 µg/m
3
và 2,52 – 86,65 µg/m
cầu nước sinh hoạt cho Thành phố.
Do Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở phần hạ lưu của lưu vực sông Ðồng Nai,
chất lượng nguồn nước mặt bị ảnh rất lớn của hoạt động kinh tế ở thượng nguồn, do
khu vực khai thác nằm ngoài địa phận nên khó kiểm soát chất lượng nước và phụ thuộc vào địa
phương bạn về bảo vệ nguồn nước.
Bảng 1.1. Thống kê lưu lượng nước khai thác phục vụ sinh hoạt (Đvt: m
3
)
Thời gian Trước 1950 1960 1996 1998 1999 Hiện nay
Q khai thác 80.000 130.000 357.628 475.492 524.456 600.000
Hệ thống quan trắc:
Từ năm 1993, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường nước mặt và thủy
văn được thiết lập bao gồm 8 trạm Phú Cường, Bình Phước, Phú An (sông Sài
Gòn), Hoá An (Đồng Nai), Nhà Bè, Bình Điền, Tam Thôn Hiệp và Lý Nhơn. Đến
năm 2001, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường nước của TP. Hồ Chí Minh
bổ sung 10 trạm quan trắc chất lượng của các kênh rạch chính trong nội thành
gồm: Nhiêu Lộc - Thị Nghè (tại cầu Lê Văn Sỹ, cầu Điện Biên Phủ), Bến Nghé -
Tàu Hủ – Đôi - Tẻ (cầu Chà Và, cầu Nhị Thiên Đường, bến Phú Định, rạch Ruột
Ngựa), Tân Hoá - Lò Gốm (cầu Ông Buông, Hoà Bình) và Tham Lương - Bến Cát
(cầu Tham Lương, cầu An Lộc) với tần suất 02 lần trong năm vào mùa khô (tháng
4) và mùa mưa (tháng 9).
Hệ thống quan trắc chất lượng nước dưới đất bắt đầu hoạt động từ năm 2001
gồm 11 trạm. Các thông số đo đạc gồm pH, T
0
C, EC, TDS, Cl
-
, NO
3
-
, NH
Nguồn nước dưới đất chưa được bảo vệ và khai thác một cách hợp lý. Thể hiện
ở chỗ việc khai thác nước dưới đất một cách bừa bãi, các giếng khai thác lại quá tập
trung một khu vực, nhiều giếng kết cấu không đảm bảo việc cách ly chống ô nhiễm
do thông tầng. Công tác quản lý nguồn nước dưới đất đã được quan tâm từ lâu, song
việc đầu tư cho công tác quản lý vừa thiếu lại vừa yếu.
Do còn một số những bất cập trên, nguồn nước dưới đất đang bị ô nhiễm cả về
quy mô và độ ô nhiễm, nhất là đối với tầng chứa nước gần mặt đất. Mực nước đang
cạn kiệt, nhiều nơi mực nước đã hạ thấp đến trên 30 m so với mặt đất và xu hướng
này vẫn đang tiếp diễn với tốc độ từ 2 – 3 m/năm. Chính sự hạ thấp mực nước lớn
như vậy, hiện tượng xâm nhập mặn đã và đang xảy ra khu vực phía Tây, Tây Nam
thành phố đối với các tầng chứa nước Pliocen trên và dưới. Trong vùng phễu hạ thấp
mực nước hiện tượng trồi ống chống các giếng khoan đã và đang xảy ra.
- Chất lượng nước dưới đất tầng nông đang ở mức báo động, bị ô nhiễm hữu cơ, ô
nhiễm vi sinh và nhiễm mặn ở một số khu vực. Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới
đất trong 6 tháng đầu năm cho thấy giá trị pH tại các trạm dao động từ 4,4 – 6,8; đa số
các mẫu đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước dưới đất (TCVN 5994-1995: pH: 6,5
– 8,5); tổng cacbon hữu cơ dao động từ 0,6 – 89,8 mg/l, thấp hơn so với khuyến cáo
(nồng độ cacbon hữu cơ phải nhỏ hơn 2 mg/l).
3.3. Môi trường đất
3.3.1. Thoái hoá đất
Nhìn chung tình trạng thoái hoá đất ở Thành phố diễn ra khá phổ biến. Đất bị thoái
hoá dưới các hình thức: Nhiễm mặn (Cần Giờ); nhiễm phèn (phía Nam huyện Bình
Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và Bắc Cần Giờ); xói mòn rửa trôi bề mặt ở
các vùng có địa hình cao và dốc (Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn); sụt lún đất (Thủ Đức, Củ
Chi, Hóc Môn, Tân Bình, Quận 3, Quận 10); lầy hoá (Nhà Bè, Thủ Đức, Quận 8, Bình
Chánh), xói lở bờ sông (ở một phần kênh rạch Nhà Bè).
3.3.2. Ô nhiễm đất do thuốc bảo vệ thực vật
Các quan trắc trong đề án phân tích môi trường đất cho thấy các vùng trồng rau
3.3.4. Ô nhiễm kim loại nặng tại vùng chịu ảnh hưởng của nước thải công
nghiệp và đô thị
Nước thải công nghiệp và đô thị cũng là một trong những nguyên nhân quan
trọng gây ô nhiễm môi trường đất. Môi trường đất tại một số khu vực sản xuất nông
nghiệp bị ô nhiễm bởi nước thải sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và bùn thải
của các cống rãnh đô thị. Kết quả phân tích các mẫu bùn lắng trong hệ thống sông, kênh
rạch và các mẫu đất tại các vùng ven, khu vực sản xuất nông nghiệp cho thấy môi trường
đất bị ô nhiễm dầu và ô nhiễm kim lọai nặng.
Thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày các khu công nghiệp đã thải ra hơn 600
ngàn m
3
nước thải với mức độ ô nhiễm khác nhau. Nước thải có thể xâm nhập vào đất
trực tiếp do các cống thải bị vỡ thông qua hệ thống kênh rạch. Kết quả quan trắc ở
vùng đất trong khu vực thuộc 2 huyện Nhà Bè và Bình Chánh là vùng đất chịu ảnh
hưởng trực tiếp của nước thải do các hoạt động công nghiệp và sinh hoạt từ các quận
nội thành (Quận 5, 6, 7, 11, Tân Bình) qua hệ thống kênh Tân Hoá - Lò Gốm tiếp nối
với kênh Tàu Hủ, kênh Đôi, kênh Tẻ, kênh Bến Nghé và các hệ thống rạch nhỏ chằng
chịt trong toàn bộ khu vực quan trắc (rạch Ông Lớn, Xóm Củi, Bà Lào...).
Kết quả điều tra, quan trắc cho thấy do bị ảnh hưởng của nước thải, việc ô
nhiễm môi trường đất ở vùng quan trắc đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất
lượng nông sản, vì vậy đến năm 2002 hầu hết diện tích đất trong vùng quan trắc đều
bị bỏ hoang. Kết quả phân tích mẫu đất, nước tại 4 điểm quan trắc cho thấy có sự tích
luỹ một số kim loại nặng như Pb, Cd, Co, Cr gần bằng hoặc vượt ngưỡng cho phép.
Độ dẫn điện trong đất (EC) trong tầng đất mặt khá cao đến mức có thể gây ảnh hưởng
xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng.
3.3.5 Xử lý chất thải rắn:
Thành phố hiện có 01 Công ty Môi trường Đô thị Thành phố, 22 Công ty Dịch vụ
công ích quận, huyện và 01 Hợp tác xã Công nông tham gia công tác thu gom, vận
chuyển rác thải. Trong năm 2005, lượng rác sinh hoạt được thu gom là 1.733.351 tấn
(bình quân 4.749 tấn/ngày); lượng rác xà bần là 305.328 tấn (bình quân 836,5 tấn/ngày).
vùng phía Nam TP. Hồ Chí Minh”.
b. Động đất
Theo các kết quả nghiên cứu khoa học, động đất cực đại khu vực thành phố Hồ
Chí Minh có thể xảy ra từ 5-6 độ Ritchter với độ sâu tâm chấn từ 10-15km; kết hợp
với đặc điểm địa chất công trình thì chấn động có thể đạt cấp VII-VIII. Các nhà khoa
học cho rằng các đới đứt gãy phương Tây Bắc-Đông Nam, Sài Gòn-Vàm Cỏ Đông và
đới đứt gãy phương kinh tuyến Lộc Ninh-Thủ Dầu Một-thành phố Hồ Chí Minh là
các đứt gãy có khả năng sinh chấn.
4. Nhận xét chung:
4.1. Những thuận lợi, lợi thế
- Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, một khu vực có tốc độ phát triển
kinh tế cao và năng động hàng đầu thế giới. Với vị trí địa lý của mình và lợi thế phát triển so với cả
nước, Thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển thành một đô thị hiện đại
ngang tầm với các nước trong khu vực.
- Là trung tâm khu vực Nam bộ, trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
khu vực kinh tế phát triển nhất và hiệu quả nhất cả nước, với hệ thống giao thông
huyết mạch, Thành phố Hồ Chí Minh có đủ điều kiện để phát triển các loại hình dịch
vụ cao cấp như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ khoa học, viễn thông, cảng,
vận tải, hậu cần... cho toàn vùng và khu vực.
- Hệ thống sông rạch tự nhiên phong phú góp phần làm giàu cảnh quan và tạo
điều kiện thuận lợi cho việc bố trí hệ thống tiêu thoát nước đô thị.
- Địa hình, địa mạo tương đối bằng phẳng, quỹ đất đai còn có khả năng đáp
ứng cho nhu cầu phát triển đô thị trong tương lai.
- Đặc điểm khí hậu ôn hòa, ít chịu của thiên tai bão lụt của Thành phố Hồ Chí
Minh thuận lợi cho môi trường sống dân cư.
4.2. Những khó khăn, hạn chế:
- Lượng mưa phân bố không đều trong các mùa đã ảnh hưởng lớn đến lưu
lượng dòng chảy, xâm mặn... gây khó khăn trong công tác cấp thoát nước và ảnh
hưởng tới nông nghiệp.
- Phần diện tích thấp, trũng có độ cao dưới 2 m và diện tích mặt nước chiếm
quân là 9,8%/năm (kế hoạch đề ra là 9,5%);
- Khu vực nông nghiệp (bao gồm nông lâm nghiệp và thủy sản) có tốc độ
tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân 3,5%/năm (kế hoạch đề ra là 2%).
Với tốc độ tăng trưởng như vậy, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiếp
tục diễn ra theo xu hướng như giai đoạn 1996-2000, tức là khu vực công nghiệp có
tỷ trọng tăng dần trong cơ cấu GDP của Thành phố.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nếu cơ cấu kinh tế Thành phố năm 2000 là: nông nghiệp (khu vực I) 2,0%, công
nghiệp (khu vực II) 45,4%, dịch vụ (khu vực III) là 52,6%. So với mục tiêu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Thành phố đến 2005 là: Nông nghiệp 1,4%; công nghiệp 48,8%; dịch vụ
49,8%. Nghĩa là cơ cấu kinh tế Thành phố xét về tỷ trọng thứ tự vẫn là dịch vụ- công
nghiệp - nông nghiệp; trong đó khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Thực tế tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh trong 10 năm qua, tỷ trọng khu vực công nghiệp
ngày càng tăng do có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 3 khu vực và diễn biến này cũng
hoàn toàn phù hợp với thực tiễn phát triển của Thành phố đang trong giai đoạn công
nghiệp hóa nhanh.
Đến cuối năm 2005, trong cơ cấu GDP của Thành phố tỷ trọng khu vực I:
1,7%; khu vực II (công nghiệp - xây dựng): 47,5% và khu vực III (dịch vụ): 50,8%.
Những kết quả đạt được phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành
phố; đặc biệt, khu vực dịch vụ đã đạt tốc độ tăng trưởng bình quân cao hơn kế hoạch
đề ra.
2.1. Khu vực dịch vụ
Nét nổi bật trong cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2005
là các ngành của khu vực dịch vụ đã bắt đầu phát triển khởi sắc. Tuy vậy các ngành
dịch vụ cao cấp vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ và hầu như không có sự thay đổi
trong suốt thời qua. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,8%/năm so với 8,4%/năm
của giai đoạn 1996-2000. Một điểm đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn
năm trước, từ 7,0% năm 2000 tăng lên 7,4% năm 2001, 9,3% năm 2002, 9,4% năm
2003, 11,1% năm 2004 và 12% năm 2005.
Xét về cơ cấu nội bộ các ngành dịch vụ, nhận thấy:
Minh giai đoạn 2001-2005 có tăng lên nhưng không đáng kể (96,2% năm 2001 lên
khoảng 97,2% năm 2005). Điều này cho thấy công nghiệp thành phố mới đạt được sự
thay đổi về số lượng và còn chậm thay đổi về chất lượng. Những ngành có tỉ trọng lớn
vẫn là những ngành thâm dụng lao động và hàm lượng giá trị gia tăng thấp; 4 lĩnh vực
có hàm lượng chất xám cao mà Thành phố chọn làm “mũi nhọn” (điện tử, công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, cơ khí chế tạo) chưa có sự phát triển vượt trội so với các
ngành khác.
Ngành cơ khí chế tạo rất yếu kém, không làm được vai trò chủ đạo trong đổi
mới thiết bị, do vậy hầu hết thiết bị mới đều phải nhập khẩu.
Đầu tư thiếu tầm nhìn dài hạn đã làm cho nhiều doanh nghiệp đầu tư không đúng nhu cầu. Trong
công nghiệp thiếu các “nhạc trưởng” của từng lĩnh vực; mạnh ai nấy làm, nên xảy ra tình trạng nhập trùng
lắp, cạnh tranh dìm lẫn nhau không cần thiết. Trong khi đó thị trường còn bỏ ngỏ để hàng ngoại nhập
chiếm lĩnh.
Trong lĩnh vực xây dựng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt bình quân
11,86% trong giai đoạn 2001 – 2005. Tuy tốc độ có chậm hơn các ngành công
nghiệp, nhưng vẫn cao hơn tốc độ của giai đoạn 1996 – 2000, chỉ đạt dưới 10%.
2.3. Khu vực nông nghiệp
Trong cơ cấu GDP, khu vực nông nghiệp cũng chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỉ trọng
ngành thủy sản và chăn nuôi, giảm tỉ trọng ngành trồng trọt. Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp như
sau: chăn nuôi 32,3%, thủy sản 29,5%, trồng trọt 27,9%, dịch vụ nông nghiệp 8%, lâm nghiệp 2,3%.
Điểm nổi bật trong 5 năm qua là sự chuyển dịch mạnh sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất
hiệu quả hơn đối với quỹ đất nông nghiệp với sự phát triển của các ngành chăn nuôi, thủy sản, cây
kiểng, cá kiểng ...
3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
3.1. Khu vực kinh tế công nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước. Năm
2004 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 101.962 tỷ đồng, tăng 15,07% so với năm
2003 (giá cố định 1994), chiếm 28,8% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và
chiếm 59,32% giá trị sản xuất công nghiệp vùng Đông Nam bộ.
Năm 2004, trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 35.096 cơ sở sản xuất công
Các khu công nghiệp – chế xuất tập trung trên địa bàn Thành phố phần lớn là
các khu công nghiệp tổng hợp, chưa phân định rõ ngành nghề chủ đạo khó kiểm soát
chất lượng môi trường.
Định hướng quy hoạch xây dựng công nghiệp trong quy hoạch chung của Thành phố đến năm
2020 theo quyết định 123/1998/TTg chưa quan tâm đến việc bố trí các khu công nghiệp gắn với các
khu dân cư, đặc biệt dân cư nông thôn nhằm thực hiện chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn. Chính sách giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân các khu công
nghiệp chưa đồng bộ. Đặc biệt chương trình di dời các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm trong nội
thành vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung đã làm phát sinh thêm nhu cầu sử dụng
đất tại các nơi này.
Ngành xây dựng
Giá trị sản xuất và GDP của ngành xây dựng liên tục tăng trong giai đoạn
2001 - 2004, năm năm 2001 đạt 12.497 tỷ đồng, năm 2002 đạt 17.866,4 tỷ đồng,
năm 2003 đạt 21.282 tỷ đồng và đến năm 2004 đạt 23.436,2 tỷ đồng (giá thực tế);