Việt nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển - Pdf 14

Lời nói đầu
Trong bối cảnh thế giới hiện nay với những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ
về tất cả các mặt. Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ, nền kinh tế tri
thức chiếm vị thế ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển. Do vậy hợp
tác kinh tế giữa các nớc, các khu vực và toàn cầu có xu hớng ngày càng phát
triển bởi nó không chỉ mang lại lợi ích cho mỗi quốc gia, khu vực mà còn mang
lại lợi ích trên thế giới. Nhất là Việt Nam với một nền kinh tế đang phát triển và
thành tựu khoa học công nghệ thấp kém thì việc hội nhập khu vực và thế giới sẽ
mang lại hiệu quả rất lớn cho tiến trình phát triển kinh tế xã hội mà đờng lối
của Đảng đã xác định: Việt Nam làm bạn với tất cả các nớc trên thế giới, cùng
nhau hợp tác, đôi bên cùng có lợi.
Toàn cầu hoá là xu thế khách quan của quá trình phát triển, Việt Nam
tham gia hội nhập sẽ có đợc những cơ hội to lớn nhng cũng đứng trớc những thử
thách nặng nề. Việc chủ động hội nhập quốc tế những và một số giải pháp thực
hiện là những nội dung đợc đề cập trong bài viết.trong bài viết chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế mong thầy cô và các bạn góp ý.
Bài viết này đã đợc hớng dẫn và giúp đỡ rất tận tình của giáo viên
Nguyễn Thị Hào.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
B. Nội dung chính:
Thời đại chúng ta đã bớc sang một trang mới với những thành tựu quan
trọng có tính chất đột phá trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong
bối cảnh mà cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển
mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và xu hớng quốc tế hoá ngày càng sâu rộng, thì
Đảng ta đã đa ra quan điểm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các
nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển. Để
hiểu sâu hơn về quan điểm này chúng ta đi tìm hiểu một số vấn đề sau:
Chơng I:
Toàn cầu hoá kinh tế và tính tất yếu khách
quan của quá trình toàn cầu hoá kinh tế

phi có mật độ dân số thấp, song bình quân GDP trên đầu ngời chỉ có 660
USD/ngời/năm. Sự phân bố không đều về tài nguyên, khí hậu và môi trờng dẫn
đến sự khác nhau về trình độ phát triển, thu nhập, mức sống vật chất và tinh thần.
Đây là nguyên nhân của những làn sóng di dân từ vùng có mật độ dân số cao,
điều kiện kiếm việc khó khăn, thu nhập thấp đến nơi có dân c tha thớt dễ kiếm
việc làm, thu nhập cao đời sống, môi trờng tốt hơn. Điều đó diễn ra thờng xuyên
trong quá trình phát triển của xã hội loài ngời.
Mặt khác con ngời phải tìm các giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm
tài nguyên bằng cách giao thơng, trao đổi, mua bán hàng hoá tiêu dùng và các
loại tài nguyên khoáng sản nhằm khai thác tài nguyên d thừa của các nớc để
khắc phục tình trạng khan hiếm, thiếu hụt nguồn lực phát triển của nớc mình.
Những yếu tố này góp phần tạo nên xu thế tất yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển
của tất cả các quốc gia trên thế giới. Bởi vì trên thế giới không có một quốc gia
nào có đầy đủ các yếu tố nguồn lực để tự mình xây dựng một nền kinh tế phát
triển bền vững.
Nh vậy toàn cầu hoá kinh tế nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm và
phân bố tài nguyên không đều, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao và số l-
ợng dân c ngày một nhiều. Nhng nhiệm vụ đó chỉ đợc diễn ra khi mà khoa học
công nghệ và lực lợng sản xuất phát triển ở trình độ cao.
Trong điều kiện hiện nay cùng với quá trình hội nhập thì việc đẩy mạnh
phân công lao động không chỉ xuất phát từ yêu cầu phát triển các ngành kinh tế
văn hoá xã hội mà còn để đáp ứng yêu cầu mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế bởi
lẽ nền sản xuất vật chất càng cao, càng đòi hỏi sự hợp tác càng sâu. Trong thế
giới ngày nay một sản phẩm thờng là kết quả của sự hợp tác phân công lao động
trên phạm vi quốc tế. Sự ra đời và phát triển của các Công ty xuyên quốc gia
(TNC) ngày càng làm cho nền sản xuất mang tính toàn cầu. Ngày nay trên thế
giới có 60.000 TNC chiếm 25% giá trị nền sản xuất toàn cầu. 65% kim ngạch
3
mậu dịch quốc tế, 70% đầu t nớc ngoài, 90% công nghệ cao, các quan hệ thơng
mại, các dòng vốn đầu t, các hoạt động dịch vụ phát triển rộng khắp cha từng có

Ba là, toàn cầu hoá tác động đến phát triển kinh tế và quá trình hình
thành các tổ chức chính trị, xã hội, t pháp quốc tế và khu vực. Toàn cầu hoá kinh
tế có mối quan hệ biện chứng với các vấn đề chính trị, xã hội.
4
Bốn là, toàn cầu hoá gắn liền với sự tiến bộ xã hội và các thành tựu về
cách mạng khoa học- công nghệ và bùng nổ thông tin tự động hoá cao.
2. Tính tất yếu khách quan của quá trình toàn cầu hoá.
Bớc vào thế kỷ XXI, tình hình thế giới có những biến đổi sâu sắc và mạnh
mẽ. Khoa học công nghệ có những bớc nhảy vọt cha từng thấy, nền kinh tế tri
thức sẽ chiếm vị trí càng lớn mạnh trong quá trình phát triển. Toàn cầu hoá kinh
tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu trong quan hệ kinh
tế hiện nay.
Hội nhập, tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế không chỉ tạo ra những điều
kiện thuận lợi mà cả những khó khăn thách thức cho phát triển kinh tế xã hội của
nhiều quốc gia trên thế giới. Trong xu thế đó, ở các mức độ khác nhau, các nớc
không thể không tham gia hội nhập bởi lẽ. Toàn cầu hoá đã lôi cuốn tất cả các n-
ớc, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy vừa hợp tác, vừa tăng sức ép
cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.
Quan hệ song phơng, đa phơng giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả
trong kinh tế, văn hoá và bảo vệ môi trờng phòng chống tội phạm, thiên tai và
các đại dịch các Công ty xuyên quốc gia tiếp tục cấu trúc lại, hình thành
những tập đoàn khổng lồ chi phối nhiều linh vực kinh tế, vì vậy các quan hệ đa
phơng không chỉ giới hạn ở các quan hệ lợi ích kinh tế mà còn có các lợi ích
khác, nh liên kết các nớc đang phát triển cùng nhau đấu tranh vì sự toàn cầu hoá,
chân chính chống lại sự áp đặt không công bằng, thiếu bình đẳng của các nớc
phát triển và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia.
Nh vậy, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là một xu thế tất yếu và là
yêu cầu khách quan đối với bất cứ một nớc nào trên con đờng phát triển trong
điều kiện thế giới ngày nay. Thực chất của hội nhập là đấu tranh để giành thị tr-
ờng hàng hoá, vốn kỹ thuật, kinh nghiệm tham gia phân công lao động quốc tế

có nhiều khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam, do vậy thâm hụt
cán cân thơng mại có thể sẽ tăng lên.
Nhiều ý kiến còn lo ngại về tình trạng nhập siêu lớn (2,7 tỷ USD, gấp đôi
năm 2001), theo thông tin có đợc thì mức nhập siêu phần lớn rời vào các nhóm
hàng nh máy móc, công nghệ và nguyên phụ liệu để sản xuất hàng gia công cho
xuất khẩu.
Thứ hai, giữa hệ thống chính sách, pháp luật của Việt Nam và định chế
của các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế còn có sự khác biệt lớn. Ngoài ra, sự
thiếu ổn định và nhất quán trong chính sách thu hút đầu t nớc ngoài và đầu t của
t nhân trong nớc, những thiếu sót trong quy hoạch, đầu t, thuế, tín dụng cho phát
6
triển các ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển vùng còn phải đáng lu tâm thêm
nữa.
Chúng ta cần phải giải quyết nhanh chóng những mâu thuẫn những khó
khăn còn tồn tại để có thể tranh thủ các điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh và hội nhập có hiệu quả.
1.2. Đầu t vốn:
Không chỉ đối với riêng nớc ta mà với tất cả mọi nớc trên thế giới, việc
khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực luôn có ý nghĩa quyết định đối
với tăng trởng, phát triển nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong bối
cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, ý nghĩa của chính sách đầu t lại
càng quan trọng hơn. Bởi lẽ, một chính sách đầu t đúng đắn sẽ cho phép phát
huy và sử dụng có hiệu quả không chỉ các nguồn nội lực mà cả các nguồn ngoại
lực có đợc từ những lợi thế so sánh, những u thế của phân công lao động và hợp
tác quốc tế.
Ngợc lại, một chính sách đầu t không đúng sẽ không những cản trở việc
phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, mà còn là nguyên nhân dẫn đến
khủng hoảng thậm chhí làm sụp đổ cả nền kinh tế.
Trong những năm qua, nớc ta đa chủ động hội nhập kinh tế thế giới và khu
vực. Hiện nay nền kinh tế nớc ta đợc đánh giá là một nền kinh tế tơng đối mở xét

tăng trởng, phát triển cần phải tiếp tục nghiên cứu kỹ lỡng bài học thành công
cũng nh cha thành công trong thời gian qua để tiếp tục đổi mới nâng cao hiệu
quả hoạt động thu hút, sử dụng ODA, vay và trả nợ nớc ngoài theo tinh thần bản
Đồng thuận Mông - tơ - Sây (tháng 4 - 2002, Mêhicô) về tài trợ cho phát triển.
Nh vậy, thu hút vốn đầu t nớc ngoài trở thành bộ phận chủ yếu trong quan
hệ kinh tế thế giới, là nhân tố quan trọng hàng đầu của nhiều nớc nhằm phát huy
lợi thế của mỗi quốc gia để phát triển. Nhu cầu đầu t càng trở nên thiết thực
trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật và phân công lao động quốc tế ngày
nay, sẽ không có sự phát triển hoàn chỉnh nếu không có sự đầu t t bản và công
nghệ giữa các nớc và khu vực trên thế giới.
1.3. Chuyển giao công nghệ
Chiến lợc phát triển đất nớc ta là chiến lợc phấn đấu đến năm 2020 nớc ta
cơ bản trở thành nớc công nghiệp, để đạt đợc mục tiêu đó, chúng ta phải có đợc
một nền khoa học hiện đại áp dụng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế - xã hội.
Trong thời đại ngày nay khoa học và công nghệ thực sự là nền tảng của sự
phát triển. Nhận thức rõ vai trò đó của khoa học và công nghệ, Đảng ta đã có
nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học và công nghệ. Đặc biệt, Hội nghị lần
thứ hai ban chấp hành trung ơng khoá VIII một lần nữa nhấn mạnh: Cùng với
giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát
triển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập và xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội.
8
Thực tiễn phát triển của hơn 15 năm đổi mới, đã chứng tỏ việc chúng ta áp
dụng những tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ, tiếp thu công nghệ tiên tiến và
một yếu tố rất quan trọng làm thay đổi bộ mặt đất nớc và cuộc sống của nhân
dân. Để đạt đợc tốc độ tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc (GDP) liên tục đạt
khoảng 8% những năm qua, ngoài yếu tố chuyển đổi cơ chế, mở cửa, chủ động,
hội nhập với thị trờng khu vực và thế giới thì yếu tố quan trọng.
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thờng thấy nổi lên vấn đề vốn, nhng

kinh tế thế giới, nhằm thu hút các nguồn lực kinh tế từ bên ngoài và phát huy lợi
thế kinh tế trong nớc, mở rộng phân công lao động quốc tế tăng cờng liên doanh,
liên kết, hợp tác.
Đến nay, trên thế giới đã có đến hàng trăm hình thức tổ chức liên chính
phủ và hàng nghìn hình thức tổ chức phi chính phủ hoạt động trong các lĩnh vực
kinh tế và thơng mại khoa học và công nghệ, văn hoá xã hội, tiêu biểu nh có tổ
chức thơng mại thế giới (WTO); tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD); tổ
chức các nớc xuất khẩu dầu lửa (OPEC), Liên Hiệp Châu Âu (EU - 15), Hiệp hội
các nớc Đông Nam á (ASAN) vv .
Ngày nay xu thế chung của thế giới là đi vào hoà hoãn mọi vấn đề có tính
quốc tế giải quyết bằng con đờng đối thoại và chuyên môn hoá sản xuất hợp tác
sản xuất giữa các quốc gia, giữa các khu vực, giữa các vùng đã trở nên là điều
nghiễm nhiên, bởi lẽ chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác sản xuất là sự lợi dụng
hợp lý nhất những điều kiện vốn có của vùng - nhằm tiết kiệm và tăng năng suất
lao động xã hội, nâng cao hiệu quả vốn đầu t hiệu quả sản xuất - kinh doanh để
tạo ra một khối lợng sản phẩm hàng hoá vừa tốt vừa rẻ, có sức cạnh tranh thoả
mãn nhu cầu của vùng, vừa đáp ứng nhu cầu nhất định của nền kinh tế quốc dân
nghĩa là thông qua chuyên môn hoá sản xuất vùng, tham gia tích cực vào các
hoạt động kinh tế - xã hội giữa các vùng, góp phần thúc đẩy quá trình phân công
lao động xã hội theo lãnh thổ trên phạm vi cả nớc.
Đứng trớc xu thế toàn cầu hoá thì sự chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác
sản xuất thực sự là cần thiết, có nh vậy mới có đợc sự hỗ trợ nhau tốt nhất trong
sản xuất kinh doanh cũng nh trong các hoạt động phát triển khác, có thể khai
thác và sử dụng đợc hợp lý những nguồn tài nguyên thiên nhiên những nguồn lao
động hơn nữa lại có thể giải quyết đ ợc những vấn đề mang tính toàn cầu nh
nạn ô nhiễm môi trờng căn bệnh thế kỷ, chiến tranh hạt nhân . liên quan đến
vận mệnh nhân loại, số phận của nhiều cộng đồng, dân tộc mà sự giải quyết
chúng cần có sự phối hợp, hợp tác của nhiều quốc gia.
1.5. Xuất khẩu lao động
Đảng và Nhà nớc đã khẳng định, con ngời giữ vị trí trung tâm trong toàn

kinh tế tạo ra nhiều chỗ làm.
Hai là: Dân số nớc ta đông, tăng nhanh trong điều kiện nền kinh tế nớc ta
còn yếu kém, của cải thặng d còn ít, tích luỹ nhỏ, do đó đã gây ra những sức ép
nặng nề đối với chất lợng cuộc sống, tài nguyên môi trờng, quá trình đầu t trở lại
cho sản xuất và phát triển kinh tế.
Vì vậy, đứng trớc xu thế toàn cầu hoá của thời đại, chúng ta cần có sự
chuẩn bị, có sự khắc phục, có chính sách hợp lý để khai thác tốt tài nguyên nhân
lực của nớc ta cũng nh đáp ứng những đòi hỏi trong quá trình hội nhập.
11
1.6. Phát triển thị trờng trong nớc trong bối cảnh hội nhập
Để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực phải tập chung u tiên
giải quyết nhiều vấn đề, trong đó phát triển thị trờng trong nớc cũng là một vấn
đề hết sức quan trọng, bởi vì nếu không có sự chuẩn bị, không chủ động phát
huy nội lực thì không thể hội nhập thành công.
Sản xuất và thị trờng luôn gắn kết thúc đẩy nhanh phát triển. Phát triển sản
xuất sẽ thúc đẩy mở rộng thị trờng trong và ngoài nớc, ngợc lại, có thị trờng rộng
lớn sẽ tạo điều kiện để đẩy mạnh sản xuất về quy mô, chất lợng và hiệu quả.
Trong những năm gần đây, thị trờng nội địa nớc ta có bớc phát triển, nhiều mặt
hàng đã bớc đầu tìm đợc chỗ đứng trên thị trờng, thu nhập của ngời dân tăng dẫn
đến sức mua tăng, thúc đẩy tăng trởng của các ngành khác và góp phần làm cho
thị trờng nội địa phong phú, đa dạng và cạnh tranh cao hơn.
ở nớc ta hiện nay, thị trờng đã đợc hình thành nhng vẫn còn nhiều yếu
kém, các quy luật của cơ chế thị trờng cha phát huy vai trò tích cực. Cung và cầu
mất cân đối: giá cánh kéo giữa hàng nông sản thực phẩm và hàng công nghiệp,
dịch vụ vẫn còn lớn, trong khi Việt Nam là một nớc công nghiệp, gần 80% dân
số sống ở vùng còn khá lớn nên sức mua không cao, cha kích thích mạnh cầu
tiêu dùng. Vẫn còn tiềm ẩn nhiều của tình trạng thiểu phát, cha thiết lập đợc mối
liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất và các nhà kinh doanh nên cha tạo thành
hệ thống lu thông lu thông lâu dài và ổn định ngay cả thị trờng trong nớc, cha
nói đến thị trờng nớc ngoài. Chất lợng hàng hoá thấp, mức cạnh tranh cha cao,

ngoài và trong nớc, thu hút ngoại tệ trong xã hội vào hệ thống ngân hàng, tạm
thời chấp nhận tình trạng đô la hoá tài sản có trong ngân hàng hơn là đô lá hoá
phổ biến trong xã hội khi thị trờng hối đoái ở Việt Nam đang dần hội nhập với
quốc tế, các ngân hàng thơng mại cần nắm diễn biến lãi suất và tỷ giá trên thị tr-
ờng thế giới để kinh doanh tiền tệ trong dân nhng khó cho vay trong nớc thì phải
năng động đem gửi ở ngân hàng nớc ngoài hởng thu nhập từ nghiệp vụ tiền gửi.
Đó là một hoạt động phù hợp với cơ chế thị trờng và cũng có lợi cho cả nền kinh
tế quốc gia có khoản dự trữ ngoại tệ lớn. Các ngân hàng có nguồn vốn lớn và có
thu nhập, ngời dân có tiền gửi thu đợc khoản lãi, ngoại tệ không bị trôi nổi trong
lu thông.
2. Những tác động toàn cầu hoá kinh tế
2.1. Tác động tích cực
Thứ nhất, việc Việt Nam hội nhập kinh tế với khu vực ASEAN (AFTA)
sẽ cho phép hàng hoá của Việt Nam xuất sang các nớc ASAN đợc thuận lợi hơn,
nhanh chóng hơn do giảm thuế quan và các thủ tục hải quan. Việt Nam sẽ từng
bớc tham gia sâu rộng hơn vào quá trình phân công lao động khu vực, phân chia
thị trờng khu vực và hợp tác kinh tế với các nớc ASEAN. Các nớc ASEAN sẽ
hình thành một thị trờng có tính chất tự do khu vực, vì vậy đầu t nớc ngoài vào
Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn.
13
Thứ hai, khi tham gia hội nhập kinh tế thế giới, đợc công nhân là thành
viên chính thức của WTO, Việt Nam sẽ đợc các thành viên của WTO giành cho
các đãi ngộ về tối huệ quốc, không phân biệt đối xử đãi ngộ quốc gia và các đãi
ngộ khác, gạt bỏ khả năng bị phân biệt, ứng xử trong thơng mại. Những đãi ngộ
này là điều kiện thuận lợi để Việt Nam thâm nhập vào thị trờng thế giới, nhất là
các thị trờng có tiềm năng nh Mỹ, Nhật, EU. Tham gia vào WTO, Việt Nam sẽ
thiết lập đợc quan hệ chặt chẽ và đợc sự ủng hộ mạnh mẽ hơn các tổ chức tài
chính thế giới nh: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á
(ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Khi có t cách thành viên của WTO, Việt Nam
mới có thể tham gia những cuộc thơng lợng phân chia quyền lợi và thị trờng, có

Nh vậy, mặt tiêu cực của toàn cầu hoá kinh tế có thể đợc khái quát lại nh
sau:
Một là, toàn cầu hoá khoét sâu hố ngăn cách giữa các nớc giàu và nghèo,
làm trầm trọng hơn sự bất công xã hội trong từng quốc gia và giữa các nớc với
nhau. Toàn cầu hoá mang lại lợi ích cho các nớc phát triển, ngợc lại 85 nớc có
mức sống bị suy giảm so với 10 năm trớc. Khoảng cách giầu nghèo ngày một xa,
các nớc giàu có chiếm 20% dân số nghèo chỉ chiếm 1% ONP của thế giới. So
sánh 5% số dân giầu nhất với 5% số dân nghèo nhất thì khoảng cách ngày càng
xa rõ rệt. Ví dụ, năm 1820 khoảng cách 5% ngời giàu và 5% ngời nghèo là 2 lần,
năm 1913 là 11 lần, năm 1960 là 30 lần và năm 2000 là 74 lần. Nh vậy, toàn cầu
hoá càng phát triển thì hố ngăn cách giàu nghèo càng lớn.
Hai là, toàn cầu hoá mở rộng thị trờng, tạo ra môi trờng cạnh tranh, song
là cuộc chạy đua không cấn sức giữa các nớc, các tập đoàn t bản khổng lồ với
các nớc đang và kém phát triển, có nền kinh tế lạc hậu. Trong cuộc cạnh tranh đó
lợi thế thuộc về các nớc phát triển và tập đoàn kinh tế mạnh.
Ba là, toàn cầu hoá cũng tạo ra nguy cơ làm biến dạng hoặc mất đi bản
sắc văn hoá dân tộc, mất tính độc lập, tự chủ của quốc gia. Đồng thời nó cũng
tạo ra khả năng quốc tế hoá các tệ nạn xã hội và các hiện tợng tiêu cực khác.
15
Chơng II:
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
I. Sự cần thiết phải chủ động hội nhập
1. Quản điểm của Đảng và Nhà nớc ta về toàn cầu hoá kinh tế.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định Toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nớc, bao
trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và
tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong kinh tế,
văn hoá và bảo vệ môi trờng, phòng chống tội phạm, thiên tai và các đại dịch.
Nớc ta có điểm xuất phát thấp lại thiếu kinh nghiệm hoạt động trên thị tr-
ờng thế giới nên khi hội nhập quốc tế phải chủ động và có lộ trình chu đáo nhằm

đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định h-
ớng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trờng sinh thái
Trong chính sách đối ngoại mở rộng, đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan
hệ quốc tế, một trong những vấn đề quan trọng mà Đảng ta nêu lên trong những
vấn đề chính sách đối ngoại đó là: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Đây là một vấn đề có tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất n-
ớc, tuy có nhiều thuận lợi song cũng đặt ra những thử thách hết sức gay gắt cho
chúng ta.
Trên thực tế chúng ta đã bắt đầu quá trình hội nhập với kinh tế khu vực và
trên thế giới từ hơn 1 thập niên trớc đây. Với đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ,
đa phơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chúng ta đã có quan hệ ngoại
giao với 167 nớc trong đó có hầu hết các nớc lớn và các trung tâm kinh tế chính
trị thế giới. Trong thời gian qua chúng ta đã có nhiều cố gắng khẩn trơng hội
nhập với các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới nh Hiệp hội các nớc ASEAN
(AFTA), Diễn đàn Châu á Thái Bình Dơng (APEC) và chuẩn bị hội nhập với tổ
chức thơng mại thế giới WTO
Mặt khác, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế còn là đòi hỏi cấp bách của
sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật của CNXH, phát triển kinh tế đất nớc, nâng cao đời sống nhân dân. Sự
nghiệp này đòi hỏi phải có vốn, có kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, là những yếu
tố mà nớc ta đang thiếu, trong khi đó ở các nớc phát triển lại có u thế, có tiềm
lực khổng lồ. Nớc ta phải biết tận dụng những yếu tố thuận lợi của hoàn cảnh
quốc tế, tận dụng tối đa ngoại tệ để phát huy nội lực.
Từ xuất phát trên, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng việc kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, coi đó là một trong những nguyên tắc
cơ bản trong đờng lối đối ngoại của mình.
17
Nh vậy, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam là thực sự cần
thiết, bởi lẽ nó không chỉ mang lại những lợi thế, những mặt tích cực mà còn cho

cha có hoà bình thực sự, xung đột tôn giáo, dân tộc vẫn diễn ra liên miên ở nhiều
nơi, các nguy cơ gây mất ổn định nh chủ nghĩa khủng bố chủ nghĩa ly khai, chủ
nghĩa dân tộc cực đoan đang tồn tại vì vậy trong hội nhập, phải luôn đề cao
18
cảnh giác trớc mọi âm mu phá hoại cua các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ
kinh tế, quan hệ thơng mại để thực hiện diễn biến hoà bình, lật đổ chế độ ta.
II. Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, giải pháp để hội nhập
1. Những vấn đề đặt ra cho quá trình phát triển kinh tế xã hội nớc ta.
Một là, nền kinh tế nớc ta có điểm xuất phát thấp, GNP bình quân đầu ng-
ời còn cha thoát khỏi ranh giới nghèo đói. Theo số liệu thống kê GDP bình quân
đầu ngời năm 2002 đạt khoảng 440 USD; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn cao
gần 6,28% tỷ lệ nghèo 12,4%, trẻ em suy dinh dỡng khoảng 28%. Tốc độ tăng
trởng kinh tế năm 2002 đặt 7,04% song cha thật vững chắc cơ cấu kinh tế
chuyển dịch chậm, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn, công nghiệp tăng,
ổn định, trong khi dịch vụ có tốc độ tăng trởng chậm và thiếu ổn định.
Hai là, Máy móc, thiết bị, công nghệ thuộc tất cả các ngành, các lĩnh vực
kinh tế nớc ta còn thấp hơn mức trung bình của thế giới từ 1 - 3 thế hệ công nghệ
nên ảnh hởng rất lớn đến năng suất lao động , chất lợng sản phẩm kém, thiếu sức
cạnh tranh trên thị trờng quốc tế khu vực, thậm chí ngay ở thị trờng trong nớc.
Ba là, Tổng giá trị hàng hoá xuất nhập khẩu năm 2001 đạt 31,189 tỷ USD,
bình quân đầu ngời mới đạt 405 USD. Trong khi đó bình quân giá trị xuất nhập
khẩu trên đầu ngời của Châu Phi là 282 USD/ngời/năm và toàn thế giới là 2091
USD/ngời/năm nh vậy mức trao đổi hàng hoá của nớc ta với các nớc trên thế giới
và khu vực còn thấp.
Bốn là, Hệ thống pháp luật nớc ta vừa thiếu, vừa cha đồng bộ đội ngũ cán
bộ am hiểu luật pháp quốc tế, có kinh nghiệm trong thơng trờng còn ít.
Năm là, do phải cam kết cắt giảm dần thuế quan và cắt bỏ những biện
pháp phi thuế quan nên những năm đầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nếu
cha tổ chức tốt cơ cấu thuế và hiệu quả thu thuế, nguồn ngân sách có thể bị ảnh
hởng.

doanh ở nớc ngoài, có chính sách thích hợp tranh thủ nguồn vốn ODA, và chính
sách tỷ giá thích hợp.
2.2. Điều chỉnh, xây dựng cơ cấu kinh tế mới. Nâng cao hiệu quả và
năng lực cạnh tranh.
Trong điều kiện nớc ta quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
cũng nh hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu phải là quá trình chủ động chuyển dịch
cơ cấu kinh tế dựa trên những nguyên tắc sau đây.
Khai thác hết mọi khả năng hiện trạng của nền kinh tế. Kiên trì thực hiện
nhất quán, lâu dài cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong kinh tế Nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo. Tận dụng mọi nguồn lực bên ngoài có lợi cho phát triển kinh tế trên
cơ sở mở rộng hơn nữa hợp tác kinh tế quốc tế.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển tiến lên của bản thân nền kinh tế nớc ta,
đồng thời để phù hợp vói yêu cầu hội nhập quốc tế, cần tích cực xây dựng các
loại thị trờng định hớng XHCN, bao gồm thị trờng hàng hoá, vốn tiền tệ, lao
động, công nghệ, bất động sản
20
Ngày nay, khi khoa học công nghệ không ngừng phát triển, kinh tế thế
giới có nhiều đột biến thì tính cạnh tranh và lợi thế so sánh của nền kinh tế đều
rất năng động, thờng xuyên thay đổi. Vì vậy, kịp thời điều chỉnh bộ phận này
hay bộ phận khác, nhằm hợp lý hoá hơn nữa cơ cấu kinh tế. Bồi bổ năng lực
cạnh tranh là nhiệm vụ thờng xuyên, hàng đầu của mọi quốc gia, nhất là đối với
nớc ta.
2.3. Đổi mới cơ chế quản lý.
Để thích ứng với yêu cầu hội nhập, lộ trình đổi mới cơ chế quản lý phải
đáp ứng những cam kết của nớc ta về mở cửa thơng mại, đầu t, dịch vụ, về thuế
và phí thuế Thực hiện nguyên tắc " đổi mới quốc gia", cạnh tranh lành mạnh
theo pháp luật, không cho phép hình thành các tập đoàn độc quyền t nhân trong
nớc hay nớc ngoài, đồng thời hỗ trợ và kiểm soát hoạt động của những doanh
nghiệp Nhà nớc còn đợc phép giữ vị trí độc quyền.
Từng bớc tăng thêm dự trữ ngoại tệ, để ứng phó với những biến động tài

sản xuất và đê ra các biện pháp có tác dụng tối đa những lợi thế so sánh, đẩy
mạnh phát triển kinh tế hóng về xuất khẩu vừa đáp ứng đợc yêu cầu tiêu dùng
trong nớc và xuất khẩu để tránh bị thua thiệt trong thơng mại Quốc tế .
Bốn là, đào tạo cán bộ có đủ năng lực và kiến thức để tiến hành đàm phán
và thực hiện thành công quá trình hội nhập nhanh tróng nâng cao nhận thức của
các nhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế của mọi
ngời dân Việt Nam về cơ hội và thách thức mà hội nhập sẽ mang lại, để mọi ngời
phát huy tính năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, nâng cao ý thức tự
hào dân tộc, bảo vệ dân tộc chống lại diễn biến hoà bình của kẻ thù. Đồng thời
phải dữ vững sự ổn định về chính trị đảm bảo an toàn của xã hội.
Nh vậy, trên đây là bốn giải pháp chủ yếu trong hệ thống các giải pháp
mỗi giải pháp có vị chí khác nhau và sự phân định cũng chỉ có ý nghĩa tơng đối.
Để mở rộng và nâng cao hiệu quả việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cần
phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, đồng thời cần cần phải đợc chi tiết
hoá, thể chế hoá bằng các chính sách quy chế quy định ề tổ chức thực hiện triệt
để thì mới có tác động tích cực đến nền kinh tế.
22
Kết luận
Toàn cầu hoá xu hớng chung và tất yếu khách quan của quá trình phát
triển. Toàn cầu hoá đợc biểu hiện giữa các nớc, khu vực, các nền kinh tế ở các
hình thức nh Ngoại thơng, vốn đầu t, chuyển giao công nghệ, chuyên môn hoá
sản xuất .
Từ đó nó sẽ tác động tới các nớc khi tham gia hội nhập toàn cầu sẽ mang
lại lợi ích rất to lứon khắc phục sự khác biệt, khan hiếm nguồn lực sự u đĩ và các
nền kinh tế đợc điều chỉnh cải cách để thích ứng ví dụ nh : quyền tối huệ quốc,
phân công lao động quốc tế, tài nguyên, khoa học công nghệ , điều chỉnh cơ cấu
kinh tế
Tuy nhiên trong quá trình hội nhập nếu không nhậy cảm sẽ mang lại khó
khăn cho nền kinh tế trong một nớc mà chủ yếu mà các doanh nghiệp do khó
cạnh tranh với nuớc ngoài ,khoét sâu hố ngăn cách giữa các nớc giầu ngèo, làm

Nguyễn Quang Trung - (Tạp chí : kinh tế phát triển số chuyên đề về
khoa Mác Lê Nin tháng 11/2001)
8. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại trong điều kiện hội
nhập kinh tế
Bùi Văn Thành (Tạp chí : kinh tế phát triển số chuyên đề về khoa Mác
Lê Nin tháng 11/2001)
9. Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế
TS. Nguyễn An Ninh (Hội thoả khoa học quán triệt văn kiện đại hội IX
Đảng cộng sản Việt Nam voà giảng dậy kinh tế chính trị Mác Lê Nin )
10. Văn kiện đại hội IX của Đảng, NXBCTQG, Hà nội 2001 trang 157,
158
11. Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lê Nin NXBCTQG Hà nội 2002
24
12. Gi¸o tr×nh ®Þa lý kinh tÕ ViÖt Nam .
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status