ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
KHOA KINH TẾ
BỘ MÔN TIN HỌC QUẢN LÝ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
QUẢN LÝ CUỘC GỌI TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
Đơn vị thực tập
Trung Tâm Viễn Thông IP-Công ty Cổ Phần Dịch Vụ Bưu Chính
Viễn Thông Sài Gòn(SPT)
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S Nguyễn Duy Nhất Trần Thị Kim Nga - K064061036
Thành phố Hồ Chí Minh, Khóa 6, Năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Nếu như ai đã từng một lần cắp sách đến trường thì hẳn không thể nào quên
được quãng đời đi học của mình.Mỗi chặng đi qua như thế, không ít lần vấp phải khó
khăn, phải tự đứng lên cùng với sự giúp đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè rất nhiều.
Không ít thì nhiều thì đó là những người đã tiếp thêm sức cho mình vượt qua khó
khăn.Và với em đó cũng là những lời cảm ơn đã và chưa nói được hết.
Lời cảm ơn đầu tiên em muốn gửi tới Quý Thầy Cô Khoa Kinh Tế, đặc biệt là
các Thầy Cô trong bộ môn Tin Học Quản Lý, đã tận tâm truyền đạt những kiến thức
cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.Em nghĩ những kiến thức đó sẽ là nền
tảng cho công việc của mình sau này.
Một người em muốn cảm ơn nữa đó là Thầy Nguyễn Duy Nhất –giáo viên và
cũng là người hướng dẫn thực tập, nhờ những kiến thức Thầy giảng trên lớp cộng với
sự chỉ bảo của Thầy đã giúp em hoàn thành tốt báo cáo này.
Trong đợt thực tập này em đã có dịp quan sát thực tế môi trường làm việc ở
công ty SPT, đặc biệt là tại Trung Tâm Viễn Thông IP, em tìm thấy nơi các anh chị
một môi trường làm việc thân thiện và vui vẻ.Qua đây em xin gửi lới cám ơn đến ban
giám đốc và các anh chị, đã hướng dẫn tận tình cho em trong thời gian qua.Mặc dù
B. Kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ
A1. Đáp ứng yêu cầu công việc
A2. Tinh thần học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn
A3. Có sáng kiến, năng động trong công việc
C. Kết quả thực tập
C1. Có sản phẩm ứng dụng thực tế đem lại lợi ích cho Cơ quan
C2. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ thực tập
………… , ngày…… tháng…….năm………
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
(ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu)
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
1.0
III.3 Kết quả củng cố lý thuyết 1.0
III.4 Kết quả rèn luyện kỹ năng thực hành 1.0
III.5 Kinh nghiệm thực tiễn thu nhận được 1.0
III.6 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ thực tập 2.5
TỔNG CỘNG 10.0
A. Điểm Tổng hợp :
Điểm bằng số :
Điểm bằng chữ (ghi rõ) : ________________
………… , ngày….tháng….năm……
Giảng viên chấm báo cáo
(ký tên)
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
phép thành lập số 2914/GP.UB ngày 27/12/1995. SPT gồm 6 thành viên sáng lập là
các công ty có kinh nghiệm hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Vượt qua nhiều khó khăn, thử thách với quyết tâm cao, năm 1997 SPT chính
thức cung cấp dịch vụ Internet (ISP) với thương hiệu SaigonNet, trở thành một trong
bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet đầu tiên tại Việt Nam. Từ năm 1999, SPT vươn
sang lĩnh vực sản xuất, liên doanh với Công ty Spacebel (Vương quốc Bỉ), Phân viện
CNTT tại TP.HCM thành lập Công ty TNHH Phát triển Phần mềm Sài Gòn (SDC) để
sản xuất, gia công phần mềm và cung cấp các giải pháp công nghệ thông tin.
Năm 2001, Công ty bắt đầu triển khai các dự án đầu tư cung cấp dịch vụ viễn
thông như điện thoại cố định tại khu đô thị mới Nam Sài Gòn, đặc biệt dịch vụ VoIP
đường dài trong nước và quốc tế với thương hiệu 177 đã nhanh chóng chiếm được thị
trường và tạo được nguồn vốn đáng kể cho SPT. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho
Công ty tiếp tục đầu tư, phát triển mạng lưới và làm tiền đề cho các dịch vụ khác phát
triển đúng định hướng chiến lược.
Cuối năm 2002, SPT tiếp tục đưa mạng điện thoại cố định đầu số 4 vào khai
thác tại TP.Hồ Chí Minh. Đây là mạng điện thoại cố định thứ 2 của Việt Nam vào thời
điểm đó.
Giai đoạn 2002-2003, SPT liên tiếp đưa ra những dịch vụ mới tham gia thị
trường bưu chính viễn thông Việt Nam từ điện thoại Internet giá rẻ SnetFone, dịch vụ
truy nhập băng rộng ADSL, kênh thuê riêng…đến các dịch vụ giá trị gia tăng.
Đầu tháng 7 năm 2003, sau nhiều năm chuẩn bị, vượt qua khó khăn từ nhiều
phía, SPT chính thức khai thác mạng điện thoại di động sử dụng công nghệ CDMA
2000-1x lần đầu tiên ở VN với thương hiệu S-Fone. Đây là dự án hợp tác kinh doanh
với SLD một đối tác Hàn Quốc có nhiều tiềm năng và uy tín. S-Fone là bước đột phá
trong lãnh vực điện thoại di động của thị trường viễn thông Việt Nam và được bình
chọn là một trong bốn sự kiện đặc biệt nổi bật trong năm 2003 của Ngành. Mạng di
động S-Fone ngày càng được củng cố hoàn thiện để cung cấp cho khách hàng nhiều
loại hình dịch vụ đa dạng, chất lượng tốt với giá cả cạnh tranh.
Thành công bước đầu của SPT càng được khích lệ thêm bởi sự ghi nhận từ lãnh
đạo cấp trên. Từ năm 2001 đến năm 2004, Công ty được Chính phủ và Thành phố tặng
Những thành quả và kinh nghiệm tích lũy trên của chặng đường hơn 10 năm
qua cũng chỉ là hành trang để SPT bước vào những năm thứ 10 + n…chắc chắn sẽ gian
khó, đầy sóng gió, đòi hỏi SPT nhiều nỗ lực, phấn đấu mới để đạt những thành tựu
mới.
1.1.2 Sơ đồ và cơ cấu tổ chức
1.1.3 Mạng lưới hoạt động
Thành lập năm 1995, SPT là công ty cổ phần đầu tiên ở Việt Nam hoạt động
trong lĩnh vực bưu chính viễn thông .Các thành viên sáng lập SPT gồm 6 doanh
nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực như kinh doanh, dịch vụ xuất nhập khẩu, dầu khí,
địa ốc, nhà hàng khách sạn, du lịch, kim khí điện máy, sản xuất thiết bị viễn thông,
điện tử, tin học và cung cấp dịch vụ bưu chính viễn thông…
Tính đến thời điểm năm 2010 Công Ty có 8 Trung Tâm trực thuộc cùng các
chi nhánh trong khắp cả nước và có mối quan hệ tốt với đối tác là các tập đoàn lớn như
SK Telecom , Samsung , Ericsion, Cisco Systems,…
Các Trung Tâm :
- Viễn Thông IP-IPT
- Điện thoại di động CDMA-S-Telecom
- Điện thoại STC
- Điện thoại Nam Sài Gòn – SST
- Bưu chính Sài Gòn – SGP
- Dịch vụ Viễn Thông – STS
- Truyền dẫn – SN
- Tư vấn và giới thiệu dịch vụ
Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, lắp ráp thiết bị viễn thông, xuất nhập khẩu và kinh doanh thiết bị
bưu chính viễn thông.
- Thiết kế, lắp đặt, bảo trì hệ thống thiết bị thuê bao và mạng lưới bưu chính
viễn thông chuyên dùng
- Xây dựng công trình bưu chính viễn thông. Kinh doanh dịch vụ bưu chính
viễn thông .
Nam – tôn vinh giá trị của đất nước, con người Việt Nam. Những nét tiếp giáp giữa
hai chữ S là sự kết nối liên tục, thể hiện sự chính xác và đồng nhất trong mọi hoạt
động. Tổng thể hình tròn được thiết kế cân xứng, thể hiện triết lý Á Đông về tính hài
hòa, diễn đạt sự quan tâm đến cân bằng lợi ích của công ty với tất cả các bên liên quan.
Nhóm ký tự SPT là tên viết tắt của Saigon Postel Corp., nét chữ nghiêng theo hướng
tiến về phía trước, thể hiện sự bền bỉ và ý chí tiến lên trong môi trường kinh doanh.
Về màu sắc, logo sử dụng màu xanh dương sậm - được xem là màu của sự thân
thiện, chuyên nghiệp và công nghiệp hiện đại.
Nhìn tổng thể, logo SPT thể hiện sự hài hòa, pha trộn được các yếu tố về truyền
thống dân tộc, âm – dương, sự hiện đại, ý chí vượt lên của thương hiệu. Đồng thời,
luôn thể hiện việc sẵn sàng cho sự kết nối về một tương lai tốt đẹp hơn, được hình
thành từ sự khẳng định của niềm tin ngay hôm nay.
Với tiêu chí "Tất cả vì khách hàng " SPT luôn mong muốn cầu toàn những dịch
vụ và sản phẩm tốt nhất, chuyên nghiệp và hoàn hảo, tiến độ phục vụ nhanh nhất đến
khách hàng, tư vấn và cung cấp các giải pháp kỹ thuật công nghệ thật sự phù hợp với
khả năng về nhiều mặt từ thấp đến cao của khách hàng.
Tất cả những gì Công Ty thực hiện cho khách hàng không vì mục đích cao
nhất là lợi nhuận mà bên trong đó là tinh thần trách nhiệm, phục vụ cho lợi ích cộng
đồng và xã hội một sự uy tín lâu dài gắn chặt vào sản phẩm và dịch vụ đã cung
cấp.Công Ty đã và đang xây dựng bản sắc văn hóa SPT mang tính nhân văn cao,
hướng tới sự hoàn thiện và hiện đại trong công tác phục vụ khách hàng.
1.1.5 Định hướng trong tương lai
Sau quá trình tích lũy và đầu tư, những kế hoạch mới của Công ty Cổ phần
Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) được kỳ vọng ở khả năng tạo đột phá
trong năm 2010. Khả năng này đã từng thể hiện trong lịch sử, cũng như đang hé mở
với những kết quả đang định hình…
Năm 2010, SPT tiếp tục triển khai và mở rộng một loạt các dự án đã chuẩn bị
đầu tư và đã đầu tư trước đó nhằm hình thành một cơ sở hạ tầng đồng bộ và đủ năng
lực để cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt hơn cho khách hàng.
Năm 2010, SPT có kế hoạch kinh doanh băng thông quốc tê từ dự án cáp quang
Địa chỉ : 257 Hai Bà Trưng, Phường 6, Quận 7, TP.Hồ Chí Minh
Điện thoại : 54040199 – Fax : 54040160
Chức năng hoạt động:
Cung cấp các dịch vụ
- Điện thoại đường dài trong nước và quốc tế với giá cước thấp.
- Fax truyền số liệu đường dài trong nước và quốc tế.
- Dịch vụ kết nối Internet trực tiếp (Leased-line).
- Dịch vụ kết nối gián tiếp (Dial-up).
- Điện thoại Internet quốc tế giá cước thấp.
- Dịch vụ mail.
- Các giá trị dịch vụ gia tăng như : đăng kí tên miền, thiết kế web; các giải pháp
Mail Plus, Mail Offline, Mail Hosting; thuê chỗ đặt máy chủ; truyền và nhận dữ
liệu; đặt logo/banner…
1.2.2 Sơ đồ và cơ cấu tổ chức
1.2.3 Mạng lưới hoạt động
Trung Tâm hiện có mạng lưới hoạt động trong khắp cả nước với 27 chi nhánh
đặt tại các tỉnh thành như : Vũng Tàu, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương,…
Cchủ yếu cung cấp dịch vụ 177, bao gồm có dịch vụ 177 …card, 177… card new, alo
177,…
Chẳng hạn như dịch vụ : Alo1771 là dịch vụ điện thoại VoIP giá cước thấp
dưới hình thức thẻ trả trước. Quý khách có thể sử dụng điện thoại cố định (VNPT,
SPT) hoặc điện thoại di động (Sfone, Vinaphone, MobiFone) để thực hiện các cuộc
gọi quốc tế đi tất cả các nước trên thế giới.
Ưu điểm sản phẩm:
• Chất lượng cuộc gọi tốt như điện thoại truyền thống
• Phương thức tính cước: theo block 6 giây +1
Ban Giám Đốc
P.GĐ Khối
Kinh Doanh
P.Chăm Sóc
thêm cước điện thoại cố định và di động.
• Giá cước và các hướng gọi xin xem chi tiết tại bảng giá cước
Hiện nay trung tâm đang cung cấp dịch vụ mới đó là cước gọi quốc tế trả sau
iPtalk dành cho các thuê bao 095 với mức phí thuê bao trọn gói là 350.000 đồng/tháng.
iPtalk là gói cước được thiết kế dành riêng cho các khách hàng có nhu cầu sử
dụng dịch vụ gọi quốc tế thường xuyên ở mức cao và các khách hàng muốn liên lạc
quốc tế một cách thuận tiện và nhanh chóng. Đây là sản phẩm được xây dựng dựa trên
sự hợp tác giữa hai đơn vị thành viên của SPT: Trung Tâm Viễn Thông IP (cung cấp
dịch vụ điện thoại quốc tế giá cước thấp) và S-Fone (cung cấp các dịch vụ thông tin di
động).
CHƯƠNG II : PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU
2.1 Khai thác dữ liệu
2.1.1 Giới thiệu
Sự phát triển nhanh chóng của các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) và
Internet vào nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, quản lý kinh tế, khoa học kĩ thuật… đã tạo
ra nhiều cơ sở dữ liệu (CSDL) khổng lồ. Có thể lấy một vài ví dụ tiêu biểu như CSDL
siêu thị Walmart (Mỹ) chứa hơn 20 triệu giao tác bán hàng, CSDL nhân khẩu TP.Hồ
Chí Minh với hơn 5 triệu nhân khẩu. Để khai thác hiệu quả nguồn thông tin từ các
CSDL lớn hỗ trợ tiến trình ra quyết định, bên cạnh các phương pháp khai thác thông
tin truyền thống, các nhà nghiên cứu đã phát triển các phương pháp, kỹ thuật và phần
mềm mới hỗ trợ tiến trình khám phá , phân tích tổng hợp thông tin.
Theo đánh giá của IBM, các phương pháp khai thác thông tin truyền thống chỉ
thu được khoảng 80% thôn gtin từ CSDL, phần còn lại bao gồm các thông tin mang
tính khái quát, thông tin có tính quy luật vẫn đang còn tiềm ẩn trong dữ liệu. Lượng
thông tin này tuy nhỏ nhưng là những thông tin cốt lõi và cần thiết cho tiến trình ra
quyết định.
Khai thác dữ liệu – Data Mining (KTDL) là tiến trình khám phá tri thức tiềm ẩn
trong các CSDL. Cụ thể hơn, đó là tiến trình lọc, sản sinh những tri thức hoặc các mẫu
tiềm ẩn, chưa biết nhưng hữu ích từ các CSDL lớn.
Nguồn dữ liệu phục vụ cho KTDL có thể là các CSDL lớn hay các kho dữ liệu
động sản
- Thương mại điện tử
• Công cụ tìm hiểu, định hướng, thúc đẩy giao tiếp với khách hàng
• Phân tích khách hàng duyệt web
Tăng khả năng hỗ
trợ quyết định
kinh doanh
Người dùng
Nhà phân tích
kinh doanh
Nhà phân tích
dữ liệu
DBA
Ra quyết
định
Trình bày dữ liệu
Các công cụ trực quan
Data Mining
Khảo sát dữ liệu
OLAP, MDA
Phân tích thống kê, truy vấn và báo cáo
Data Warehouses / Data Marts
Nguồn dữ liệu
Giấy tờ, tập tin, trình cung cấp thông tin, hệ thống CSDL
• Phân tích hành vi mua sắm trên mạng và cho biết thông tin tiếp
thị phù hợp với loại khách hàng trong 1 phân khúc thị trường nhất
định
- Công nghệ sinh học và thực phẩm
• Xây dựng công cụ KTDL trực quan cho phép phát hiện sự hiện
diện của dược chất, phân tích dữ liệu di truyền
SIP – Session Initiation Protocol (Giao thức Khởi tạo Phiên) – là một giao thức
phát triển bởi IETF MMUSIC Working Group và là tiêu chuẩn đề xuất cho việc khởi
tạo, sửa đổi và chấm dứt một phiên tương tác người dùng bao gồm các thành tố đa
phương tiện như phim, tiếng nói, tin nhắn nhanh, trò chơi trực tuyến và thực tại ảo.
PSTN – the public switched telephone network (mạng chuyển mạch điện thoại
công cộng) – là nơi tập trung các mạng điện thoại chuyển mạch trên thế giới, cũng
tương tự như Internet là nơi tập trung các mạng chuyển mạch gói IP công cộng trên thế
giới.
ISDN – Integrated Services Digital Network (Mạng Tích hợp Dịch vụ Số) – là
một loại hệ thống mạng điện thoại chuyển mạch, được thiết kế để cho phép truyền ở
dạng số (ngược với tương tự) tiếng nói và dữ liệu qua dây điện thoại bằng đồng thông
thường, đem lại chất lượng và kết quả cao hơn so với các hệ thống tương tự.
PBX – Private Branch eXchange (Tổng đài Chi nhánh Riêng - còn gọi là
Private Business eXchange – Tổng đài Công ty Riêng) – là một tổng đài điện thoại sở
hữu bởi công ty tư nhân, ngược với tổng đài được sở hữu bởi công ty truyền dữ liệu
hay công ty điện thoại.
IVR – Trong ngành điện thoại, Interactive Voice Response (Phản hồi Tiếng nói
Tương tác) – là một hệ thống bằng máy tính cho phép người ta, thường là người gọi
điện thoại, chọn từ một bảng chọn dạng tiếng nói hoặc giao diện khác với một hệ
thống máy tính.
DID – Direct Inward Dialing (Quay số vào Trực tiếp – còn gọi là DDI ở châu
Âu) là một tính năng được công ty điện thoại cung cấp để sử dụng với hệ thống PBX
của khách hàng, trong đó công ty điện thoại cấp phát một dải số, tất cả những số này
đều nối với hệ thống PBX của khách hàng.
RFC – Request for Comments (Yêu cầu Nhận xét – số nhiều là RFCs) là một
trong một loạt các tài liệu và tiêu chuẩn thông tin Internet được đánh số được các phần
mềm thương mại và miễn phí trong cộng đồng Internet và Unix tuân theo rộng rãi.
H323 – một tập các tiêu chuẩn từ ITU-T, nó định nghĩa một tập các giao thức
dùng để liên lạc bằng âm thanh và hình ảnh qua mạng máy tính.H323 là một giao thức
tương đối cũ và hiện đang được thay thế bởi giao thức SIP – Session Initiation
CS.
Để thực hiện được sự hội tụ trên cần có các thiết bị mới hoặc có thể thích ứng
các thiết bị hiện có (thông qua các adapter), và hình thành một mạng như sau:
Theo hình,có một gatekeeper ở trong mạng LAN. Gatekeeper thực chất chỉ
dùng trong trường hợp mạng VoIP dùng giao thức signalling H323. Còn nếu dùng SIP
thì sẽ không có gatekeeper này, mà thay vào đó là SIP proxy, SIP registrar.
Trong công ty muốn dùng VoIP cục bộ, thì cần phải có một IP PBX như hình
dưới đây:
Máy chủ IP PBX là tương tự như một máy chủ proxy (SIP proxy): các máy
khách SIP, có thể là điện thoại dạng phần mềm hay phần cứng, đăng ký với máy chủ
IP PBX và khi chúng muốn thực hiện cuộc gọi, chúng yêu cầu máy IP PBX thiết lập
kết nối. Máy IP PBX có một danh mục tất cả mọi điện thoại/người dùng và địa chỉ SIP
tương ứng của họ và do vậy có khả năng kết nối cuộc gọi trong mạng hay dẫn hướng
cuộc gọi từ bên ngoài thông qua máy VOIP gateway hay một nhà cung cấp dịch vụ
VOIP.
VOIP gateway là thiết bị chuyển đổi tín hiệu điện thoại sang dạng IP để truyền
trên mạng dữ liệu. Chúng được dùng:
- Để chuyển đổi các cuộc gọi trên đường dây PSTN/điện thoại sang VOIP/SIP.
Theo cách này, VOIP gateway cho phép gọi và nhận cuộc gọi trên mạng điện thoại
thông thường. Trong nhiều trường hợp trong thương mại, người ta thích tiếp tục sử
dụng đường điện thoại truyền thống hơn vì nó có thể đảm bảo chất lượng cuộc gọi và
sự sẵn có hơn.