luận văn sử dụng âm thanh và ánh sáng trong 1 tác phẩm âm nhạc cụ thể là hoạ mi hót trong mưa và nhớ về hà nội - Pdf 14

MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: Ánh sáng sân khấu Sự hình thành và phát triển của
Nghệ thuật biểu diễn cùng với sự ra đời của Âm thanh trang 4
I. Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật
II. Sự ra đời và phát triển của âm thanh và ánh sáng
PHẦN II: Tổng quát về âm thanh trang 7
PHẦN III. Phân tích tác phẩm và ý đồ thu thanh trang 21
Tác phẩm 1: Nhớ về Hà Nội.
Tác phẩm 2 : Hoạ mi hót trong mưa.

PHẦN IV: KẾT LUẬN CHUNG trang 44
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO trang46
Bản nhạc Nhớ về Hà Nội & Hoạ mi hót trong mưa.
Đĩa CD ca khúc Nhớ về Hà Nội & Hoạ mi hót trong mưa.
1
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngay từ buổi bình minh cuộc sống loài người mới ở chế độ xã hội bầy
đàn nguyên thuỷ, mỗi khi săn bắn hay hái lượm trở về người ta đã tụ họp xung
quanh đống lửa, nhảy múa hát hò để biểu lộ tình cảm trước thành quả lao động
của mình.
Trải qua thời gian cùng sự phát triển của xã hội loài người, cũng như sự
phát triển của khoa học kỹ thuật thì nhu cầu hưởng thụ về đời sống tinh thần
của con người ( như ca, múa, nhạc, sân khấu, điện ảnh. ) cũng ngày càng gia
tăng
Sẽ rất tẻ nhạt, nếu như những bộ phim , những tác phẩm sân khấu, hay
những lời ca, tiếng nhạc mà thiếu đi sự hỗ trợ của âm thanh và ánh sáng. Chính
vì lẽ đó nghành đạo diễn âm thanh, ánh sáng ra đời, nó thể hiện nội dung tư

3
PHẦN I
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
CÙNG VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ÂM THANH, ÁNH SÁNG SÂN KHẤU
I. Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu biểu diễn.
Con người sáng tạo ra nghệ thuật qua công việc lao động và sinh hoạt đời
sống hằng ngày. Nghệ thuật giống như "tấm gương phản chiếu cuộc đời". Để
qua đó tự chiêm ngưỡng mình, xem xét lại bản thân và tự đánh giá lại bản thân
mình, còn là "cuốn sách giáo khoa vĩ đại" giảng giải, hướng dẫn cho con người
về cái đẹp, cái thiện, ác, cái mới cũ, cái tiên tiến, lạc hậu tình yêu thương và lòng
thù hận.
Nghệ thuật biểu diễn là nghệ thuật tổng hợp, nó bao gồm cả: ca, múa,
nhạc, họa, kịch, thơ, triết học, mỹ học đồng hành cùng với sự thể hiện khát
vọng của con người. Với những đề tài khác nhau như ca ngợi quê hương đất
nước, ca ngợi hạnh phúc lứa đôi, ca ngợi lý tưởng yêu nước thương dân, trọn
nghĩa tình, phê phán cái ác, cái xấu. Nghệ thuật biểu diễn được thể hiện trong sự
giải thích tác phẩm nghệ thuật, dẫn dắt của tác phẩm nghệ thuật nhờ nội dung
của nó, biểu diễn bằng các hình tượng nghệ thuật. Là lôi cuốn sự chú ý động
viên khả năng sáng tạo, thức tỉnh và thúc đẩy thị hiếu âm nhạc và tài năng biểu
diễn của người nghệ sỹ để tác động tới công chúng. Nó chính là sức mạnh lớn
lao làm thay đổi nhận thức và hành động của con người, mang một chuỗi sáng
tạo liên tục từ người viết tác phẩm, đến đạo diễn, diễn viên, đến những người
làm kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật những người chuẩn bị đạo cụ phục
vụ cho biểu diễn. Có như vậy mới diễn đạt được một cách hiệu quả về cái đẹp,
nội dung tác phẩm mà họ muốn trình bày mang lại cho khán thính giả những ý
tưởng đúng đắn và có đầy đủ giá trị.
Ở tại châu Âu, đặc biệt là thời kỳ Văn minh Hy Lạp cổ đại cách đây hàng
ngàn năm, người ta xây dựng lên sân khấu khổng lồ mà người ta gọi là diễn
trường để biểu diễn. Thời kỳ đó loại hình biểu diễn chính là kịch. Các vở hài
4

5
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
5
Hệ thống ánh sáng thì đã có nhiều đèn để có thể chia được nhiều vị trí
khác nhau để có thể cắt cảnh, cắt tầng làm thay đổi về không gian và tạo cảm
giác rất ấn tượng với người xem. Còn sân khấu thì có thể di chuyển theo chiều
ngang, dọc hoặc xoay tròn, làm cho việc thay đổi cảnh trí và không gian được dễ
dàng hơn.
Bắt đầu từ thời kỳ này cùng với sự phát triển các loại máy móc điện tử
phục vụ cho sân khấu biểu diễn là các kỹ sư, những người thợ chuyên nghiệp
phục vụ cho âm thanh và ánh sáng biểu diễn "Sound man" người làm âm thanh
và “lighting man" người làm ánh sáng, vai trò của những người này là rất quan
trọng, luôn gắn bó chặt chẽ đối với nghệ thuật biểu diễn và là một phần không
thể thiếu được của mọi loại hình biểu diễn nghệ thuật.
Cùng với thời gian và kinh nghiệm với sự lớn mạnh và phát triển không
ngừng của nghệ thuật sân khấu biểu diễn thì âm thanh ánh sáng cũng song song
và cùng đồng hành phát triển, đi từ không đến có, từ nghiệp dư đến chuyên
nghiệp. Đội ngũ những người làm kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, với bao khó
khăn thiếu thốn đã đúc kết thành những kinh nghiệm thành những bài học xương
máu. Để đến hôm nay chúng ta có thể tự hào đó nói đó là một "nghề" và một bộ
phận không thể thiếu được của nghệ thuật sân khấu biểu diễn.
Ta có thể tạm lấy mốc của âm thanh, ánh sáng phát triển từ năm 1955 đến
nay một khoảng thời gian khá dài đối với một đời người, nhưng với một ngành
nghề thì chưa là bao. Vậy mà chỉ mới hơn 50 năm hoạt động và sáng tạo đó, đội
ngũ những người làm kỹ thuật âm thanh, ánh sáng biểu diễn của nghệ thuật biểu
diễn nói chung. Đã đi từ không đến có đạt được những thành công lớn phục vụ
cho nghệ thuật biểu diễn, với một đội ngũ những người làm kỹ thuật đông đảo,
giàu kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, tạo nên nhiều diện mạo cho nghệ thuật
sân khấu biểu diễn, góp thêm một bông hoa tươi đẹp cho rừng hoa nghệ thuật
nước nhà thêm tươi đẹp hơn, rực rỡ hơn.

Dạng sóng là một hình biểu diễn mức độ áp suất âm thanh của tín hiệu
hoặc mức điện áp theo thời gian. Tóm lại một dạng sóng có thể cho ta xem
7
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
7
nghiên cứu và giải thích hiện tượng sự truyền âm trong môi trường vật lý. Một
dạng sóng bao gồm những đặc tính sau:
- Biên độ - Pha
- Tần số - Đường bao
- Bước sóng - Hài âm
- Vận tốc
Những đặc tính đó giúp ta phân biệt các dạng sóng khác nhau. Cơ
bản nhất là biên độ và tần số.
Biên độ (Amplisude)
Khoảng cách giữa đường tâm dưới của một dạng sóng, ví dụ như sóng
hình sin biểu diễn biên độ của tín hiệu đó. Độ lớn của khoảng cách hoặc sự dịch
chuyển từ đường tâm, mạnh hơn sự biến đổi áp suất, tín hiệu diện, hoặc sự biến
đổi vật lý trong một môi trường. Có nhiều tiêu chuẩn đo biên độ sóng khác
nhau. Đo giữa mức tín hiệu dương và âm cực đại của sóng gọi là giá trị biên độ
đỉnh, sự khác nhau giữa mức tín hiệu đỉnh dương và âm gọi là giá trị đỉnh tới
đỉnh (peak to peak). Giá trị RMS (root - mean - Square) trình bày tới mức có
nghĩa của các giá trị đó và gân đúng hơn với mức tín hiệu nhận được bởi tai
người. Với sóng hình sin giá trị RMS đạt được bằng bình phương biên độ sóng
tại mỗi điểm dọc theo dạng sóng và khi đó lấy kế quả toán học và bình phương
tại mỗi điểm dọc theo dạng sóng và khi đó lấy kết quả, toán học và bình phương
của kết quả. Pháp tính đó tương đương với 0,707 lần mức biên độ đỉnh tức thời.
Bởi vì bình phương của gí dương hoặc âm luôn luôn dương nên giá trị RMS
luôn dương công thức toán học sau diễn đạt sự quan hệ đó giữa giá trị đỉnh và
giá trị RMS của một dạng sóng:
Peak = V

t: thời gian (s)
Với sóng âm (môi trường là không khí với điện, môi trường là điện tử.
Vận tốc của sóng quyết định chu kỳ riêng của một dạng sóng truyền qua một
khoảng cách được chỉ định. Tại 70
0
F, tốc độ của sóng âm trong không khí vào
khoảng 1130 feet/s hoặc 344m/s. Tốc độ này phụ thuộc vào nhiệt độ và tăng
khoảng 1,17t/s cho mỗi độ F.
Bước sóng (wavelength)
Bước sóng (λ) là khoảng cách giữa điểm đầu và điểm đầu và điểm cuối
một chu kỳ trong môi trường, hoặc giữa các điểm tương ứng trên các chu kỳ liền
kề và được tính bằng:
λ = v/f
Với λ là bước sóng
v: là vận tốc
f: là tần số
Thời gian để hoàn thành một chu trình gọi là chu kỳ ví dụ một sóng âm 30
Hz hoàn tất 30 chu kỳ một chu kỳ bằng 1/30s. Ký hiệu chu kỳ là T và được tính
bằng:
T = 1/f
(T là số giây của một chu kỳ)
9
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
9
Với vận tốc truyền âm 1130 ft/s, một dạng sóng 30Hz sẽ truyền một vòng
hết 0,0333s, đạt một khoảng cách là 1130 x 0,0333 (37,6ft). Ta có thể nói bước
sóng của âm 30 Hz trong không khí dài là 37,6 ft. Khi tần số tăng, thời gian của
một chu kỳ giảm. Bước sóng giảm khi tần số tăng.
Pha (Phase)
Một chu kì có thể được bắt đầu tại bất cứ điểm nào trên dạng sóng, vì vậy

nhạc cụ hiếm khi tạo ra những sóng hình sin nguyên chất, tuy nhiên đó lại là
điểm tốt. Nếu chúng tạo ra, tất cả các nhạc cụ đang chơi cùng một bài nhạc sẽ
phát ra giống nhau và âm thanh sẽ không đẹp. Điều làm chúng ta có thể nhận
biết sự khác nhau giữa các nhạc cụ là sự có mặt của các tần số khác nhau trong
sóng âm, đó là nốt gốc (âm cơ bản). Các tần số có mặt trong một âm, khác với
âm cơ bản gọi là các âm thành phần. Các âm thành phần cao hơn tần số các âm
gốc gọi là bội âm. Với hầu hết các nhạc cụ, các tần số của bội âm là bội số của
tần số gốc và được gọi là các âm hài. Ví dụ, tần số tương ứng với nốt A là
440Hz. Một sóng 880Hz là hài của sóng 440Hz bởi vì nó gấp 2 lần. Trong
trường hợp này sóng 440Hz được gọi là âm gốc hoặc âm hài thứ nhất bởi vì nó
bằng một lần tần số gốc, và sóng 880Hz được gọi là âm hài thứ hai bởi vì nó
bằng 2 lần âm gốc. Âm hài thứ 3 sẽ bằng 3 lần 440Hz tức là 1320Hz. Với một
vài nhạc cụ ví dụ như chuông, xylophones, và các nhạc cụ khác thì các âm thành
phần không có hài so với âm gốc.
Tai người nhận được những âm thanh đó theo tỉ lệ những tần số 2:1 là sự
liên quan đặc biệt, sự liên quan này là cơ sở quãng tám trong âm nhạc (musical
octave). Ví dụ, vì nốt la (A) là 440Hz tai người nghe 880Hz vì có sự quan hệ tới
11
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
11
nốt la (A), đó là do âm thứ nhất cao hơn nốt A mà âm giống nốt A nhất. Nốt sau
880Hz có âm giống 440Hz nhất là 1760Hz do vậy 880Hz được gọi là octave 1
trên 440Hz và 1760Hz là octave 2. Hai nốt đó có cùng tần số gốc và được phát
đồng thời gọi là sự kết hợp, ngay cả khi chúng có hài khác nhau. Tai người
không thể đáp ứng với tất cả các tần số, nó được giới hạn tới 10 1/2 octave tức là
từ 15Hz tới 20kHz. Vài người trẻ tuổi có thể nghe tới 23kHz, nhưng độ nghe
càng giảm theo tuổi tác. Ví dụ người trên 60 tuổi chỉ nghe tới 8kHz.
Vì sóng âm được phát ra từ nhạc cụ có chứa hài với các biên độ và sự so
pha khác nhau, các dạng sóng âm ít giống với dạng sóng hình sin tần số đơn.
Các dạng sóng âm có thể được chia thành hai loại rõ ràng đơn giản và phức hợp.

với
P là thanh áp được đo bằng dynes/cm²
Pref là thanh áp tham khảo – 0.0002 dyne/cm² (ngưỡng nghe)
Tai người (The Ear)
Nguồn phát âm thanh tạo ra các bước sóng bằng cách lần lượt tạo sức ép
và làm loãng không khí giữa nguồn phát và người nghe. Những sức ép này làm
thay đổi áp suất cao và thấp hơn bình thường. Tai là một biến thế nhạy sẽ phản
ứng tới những sự thay đổi áp suất này bằng những loạt quá trình liên quan với
nhau xảy ra trong những cơ quan thính giác.
Khi sóng áp suất âm thanh phát đến người nghe, chúng được gom lại vào
trong cửa tai (aural canal) bởi phần bên tai ngoài gọi là vành tai (pinna) và rồi
thì được dẫn trực tiếp đến màng tai (ear - drum), giống như cái trống được căng
với màng mỏng. Các sóng âm rồi sẽ được biến thành những sự dao động cơ và
chuyển tới phần tai trong bằng ba xương được gọi là , hammer, anvil và stirrup.
Những miếng xương này hoạt động như bộ khuếch đại (bằng cách khuếch đại sự
dao động do màng tai tạo ra) và bộ bảo vệ giới hạn (giảm bớt cường độ âm
thanh lớn nhất thời, như sấm sét hoặc chất nổ của pháo hoa). Những sự dao
động rồi thì sẽ được đưa đến phần tai trong (ốc tai - cohlea) bộ phận có hình
xoắn trôn ốc mà chứa hai buồng chất lỏng. Trong những buồng chất lỏng này có
những sợi lông tiếp nhận nhỏ nằm hàng ngang dọc theo ốc tai. Những sự dao
động được chuyển đến những sợi lông mà sẽ phản ứng tới những tần số cụ thể
13
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
13
tuỳ thuộc vào vị trí của chúng trên bộ phận này, kết quả là sự kích động dây thần
kinh mà cho chúng tai sự cảm giác nghe nhận âm thanh. Mất thính giác thường
xảy ra khi những sợi lông này bị hư hại hoặc hỏng vì quá tuổi.
Ngưỡng giới hạn thính giác (Threshold of Hearing)
Trong trường hợp cường độ áp suất âm thanh (Sound pressure level -
SPL), một mức tham khảo về cường độ áp suất thuận tiện cho ngưỡng giới hạn

Trong tai người có một màng nhĩ được cấu tạo như một màng trống, khi
các các sóng âm tác động vào màng tai sẽ dung động tùy theo mức độ nhiều hay
ít phụ thuộc vào nguồn âm thanh mạnh hay yếu, xa hay gần.
Ví dụ: Cùng một nguồn âm thanh phát ra nhưng ở khoảng cách gần hơn
thì màng tai sẽ rung động lớn hơn, nó tác động đến não bộ phân tích, và đưa ra
cảm nhận là nguồn âm thanh đó lớn hơn. Ngược lại, khi ta để nguồn âm thanh
đó chuyển dịch ra xa thì tác động sóng âm vào màng tai yếu hơn và cảm nhận
được nguồn âm thanh đó là nhỏ hơn. Vì vậy để cho người nghe cảm nhận một
nguồn âm thanh xa hơn thì ta phải điều chỉnh có cảm nhận và ngược lại muốn
người khác nghe có cảm nhận nguồn âm thanh gần thì ta phải điều chỉnh âm
thanh lớn hơn.
15
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
15
Cảm nhận tần số theo trục Z ( xa – gần )
Về thời gian: (phương pháp thời gian)
Trong môi trường không khí bình thường ở khoảng 20
0
C thì vận tốc của
âm thanh là 340m/s, do đó tiếng âm thanh ở càng xa bao giờ cũng nghe chậm
hơn ở gần.
Ví dụ: khi ta nghe tiếng sét thì tiếng nổ ra cùng với tia chớp. Nếu tiếng
sét đó ở gần ta còn nếu tiếng sét đó ở xa thì bao giờ cũng nhìn thấy, tia chớp
trước sau đó vài giây ta mới nghe thấy tiếng sấm.
Vậy nguồn âm thanh ở gần thì đến tai nghe nhanh hơn. Do đó, ta có thể áp
dụng nguyên lý đó để xử lý ảnh âm cho công việc làm âm thanh. Ngày nay có
thể sử dụng bộ trễ thời gian bằng một thiết bị điện tử đó là dùng bộ FX để tạo
thời gian trễ cho âm thanh.
16
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải

- Octave đầu 160 Hz ∼ 320 Hz. Octave này tạo ra hiệu quả tăng cường sự
đầy của tần số trầm, âm thanh sẽ bị tôi và đục. Khoảng tần số này thường hay bị
bồi, tiếp trở lại tạo ra tiếng ù (do cộng hưởng với sàn và các khoảng cách ghế).
- Octave thứ hai 320 Hz ∼ 640 Hz octave này tạo âm trầm, chắc tiếng
nhưng khô, cứng. Nếu lạm dụng khoảng tần số này âm thanh sẽ bị thô. Khoảng
tần số này hỗ trợ cho trung âm tạo vị trí ảnh âm (rõ về phần trầm).
(3) Tần số trung (Mid): 640 Hz ∼ 1280 Hz.
Đây là octave quan trọng trong dải âm thanh. Nó là khoảng tần số người
dễ cảm nhận nhất. Dải âm này tạo cho người nghe sẽ cảm thấy âm thanh gần với
mình hơn. Nó là khoảng tần số quyết định vị trí ảnh âm.
18
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
18
Như chúng ta đã biết xét về mặt sinh lý âm học thì dải tần số trung (mid)
này hết sức quan trọng, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về năng lượng, thì ta sẽ cảm
nhận được ngay là nó sẽ tương quan tới những đặc điểm của âm thanh. Dải âm
thanh này nếu tăng năng lượng sẽ có cảm giác đầy đủ và gần hơn, nhưng nếu
tăng quá nhiều thì sẽ làm cho âm thanh bị nông cạn, cằn cỗi.
Nếu giảm nhiều ở phần này sẽ khiến cho âm nhạc trống trải, không rõ
ràng, làm cho tiếng mờ và xa.
(4) Tần số trung cao (Mid - hi): 1280 Hz ∼ 2560 Hz ∼ 5120 Hz.
- Octave đầu giúp tai người cảm nhận âm thanh sáng lên, nó cùng với
trung tâm âm tạo vị trí ảnh âm. Nếu thiếu khoảng tần số này, âm thanh sẽ bị tối,
nếu thừa âm sẽ bị đanh, gần lại và sắc tiếng.
- Còn ở octave thứ hai: Sẽ làm tiếng rõ và sắc sảo. Đây là khoảng tần số
thể hiện rõ nhất về màu sắc cho giọng hát và nhạc cụ.
Nếu thừa khoảng tần số này âm thanh sẽ bị chói ở khoảng tần số này nếu
ta tăng vừa đủ năng lượng sẽ làm cho tiếng sóng lne. Nhưng nếu tăng quá nhiều
sẽ có cảm giác cằn cỗi và chói. Còn nếu giảm tần số ở phần này xe giúp ta sửa
được những âm thanh thô giáp, xù xì hay nhọn sắc.

Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
20
Cảm nhận tần số theo trục X ( trái- phải)
Nhờ có những nguyên tắc cơ bản trên kết hợp với những thiết bị hiện đại
của hệ thống âm thanh ta có thể áp dụng để xử lý cho ảnh âm sân khấu đạt chất
lượng và hiệu quả cao.

21
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
21
PHẦN III. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VÀ Ý ĐỒ THU THANH
Tác phẩm 1: " NHỚ VỀ HÀ NỘI “
Sáng tác: Hoàng Hiệp
Trình bày : Giang Châu
Nhạc sỹ Hoàng Hiệp có bút danh là Lưu Nguyễn, sinh ngày 01/10/1931
tại An Giang. Hiện đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh.
Những ngày tháng Tám năm 1945, Hoàng Hiệp tham gia Cách mạng. Là
hạt nhân văn nghệ của đoàn Tuyên truyền lưu động Long Xuyên, sau đó Hoàng
Hiệp chuyển về đoàn văn công và phân hội Văn nghệ Long Châu Hà.
Năm 1954, Hoàng Hiệp tập kết ra Bắc học khoá sáng tác đầu tiên của
Trường âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội). Năm 1956, ông viết Câu
hò bên Bến Hiền Lương (lời Hoàng Hiệp và Đằng Giao). Năm 1960, ông làm
biên tập viên ở Nhà xuất bản Âm nhạc. Năm 1965, ông viết bài Cô gái vót
chông (phỏng thơ Môlôyclavi), tiếp đến là bài Soi đường cho ta đi đánh giặc.
Năm 1966, ông viết bài Ngọn đèn đứng gác (thơ Chính Hữu). Năm 1968, bài
Đất quê ta mênh mông (thơ Dương Hương Ly).
Nhìn chung đề tài về chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được
Hoàng Hiệp khai thác từ nhiều khía cạnh. Âm nhạc của ông mạnh mẽ, sôi nổi
nhưng lại trữ tình, sâu lắng. Năm 1969, Hoàng Hiệp chuyển công tác sang Nhà
xuất bản Giải phóng. Năm này, ông viết Ơi nhà máy của ta. Năm 1970, có Hát

Bác, Nhớ về Hà Nội.
Nhạc sĩ Hoàng Hiệp từng sống ở Hà Nội suốt 20 năm tròn. Đối với ông đó
là một quãng đời đầy ắp những kỷ niệm vui buồn khó quên gắn liền với những
con người, những cảnh vật thân thương giữa lòng thủ đô yêu dấu của “một thời
đạn bom, một thời hoà bình”. Ở nơi ấy, ông đã yêu và cưới một cô gái Hà Nội.
Đất nước thống nhất, ông rời Hà Nội về Nam công tác. Sau gần mười năm, năm
1984, những kỷ niệm khi còn ở thủ đô từ trong ký ức của ông bỗng trỗi dậy để
rồi biến thành cảm hứng tạo nên hình tượng âm nhạc và lời ca bài hát Nhớ về Hà
Nội. Thời điểm này rơi đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng thủ đô.
23
Đồ án tốt nghiệp Nguyễn duy Hải
23
Bài hát nhanh chóng bay xa khắp mọi miền đất nước. Bằng tấm lòng,
bằng kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống tích luỹ được trong nhiều dịp chứng
kiến và quan sát thực tế, Hoàng Hiệp đã sáng tác nên một ca khúc đậm đà tình
cảm yêu thương thắm thiết đối với thủ đô. Bài hát đem niềm tinh yêu đến với
quần chúng yêu nhạc và nhất là những ai “dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn
nhớ về Hà Nội”. Một số thành viên trong các đoàn nghệ thuật Việt Nam đi biểu
diễn ở nước ngoài kể lại: “ Nhiều bà con Việt Kiều từng sống ở Hà Nội, trong
đó có cả một số sĩ quan chế độ cũ, đã xúc động bật khóc khi nghe bài hát này”.
Là tác giả của một trong những bài hát hay nhất về Hà Nội, năm 1994
nhạc sĩ Hoàng Hiệp đã được Ban Tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày Giải phóng
thủ đô mời ra Hà Nội dự các hoạt động văn hoá trong dịp này. Và ông lại về
trong vòng tay yêu thương của thủ đô Hà Nội như những năm tháng ngày xưa
với “bao khuôn mặt mến thân”, với Tháp Rùa soi bóng bên Hồ Gươm xanh
thắm, thành cũ Thăng Long “dấu xưa oai hùng:
Nhớ về Hà Nội
“Dù có đi bốn phương trời, lòng vẫn nhớ về Hà Nội, Hà Nội của ta,
Thủ Đô yêu dấu, một thời đạn bom, một thời hoà bình.
Nhớ phố thâm nghiêm rợp bóng cây, tiếng ve ru những trưa hè.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status