CHUYÊN đề tốt NGHIỆP “ nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại ngân hàng ngoại thương việt nam chi nhánh thăng long” - Pdf 14

Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
LỜI CẢM ƠN
“Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của các thầy cô
khoa Ngân hàng- Tài chính- Đại học kinh tế quốc dân, đặc biệt là của
thầy giáo – PGS. TS. Đàm Văn Huệ, thầy giáo trực tiếp hướng dẫn
em hoàn thành chuyên đề này
Đồng thời em cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán
bộ nhân viên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Thăng
Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập tại
chi nhánh, nhiệt tình giúp em trong quá trình thu thập số liệu và thực
hiện chuyên đề.
Em xin chân thành cảm ơn!”
1
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP TRONG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1.Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 7
1.1.1.Khái niệm NHTM 7
1.1.2. Hoạt động cho vay của NHTM 8
1.2.Phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của NHTM 14
1.2.1.Khái niệm, mục đích phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay 14
1.2.2.Phương pháp phân tích tài doanh nghiệp trong cho vay của NHTM 15
1.2.3.Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của NHTM 20

3.2.1. Nâng cao chất lượng nguồn thông tin 58
3.2.2. Hoàn thiện phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 59
3.2.3. Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 60
3.2.4. Thực hiện chuyên môn hóa phân tích và quản lý khách hàng 61
3.2.5. Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực trong hoạt động phân tích tài chính
doanh nghiệp 62
3.2.6. Một số giải pháp khác 64
3.3. Kiến nghị 66
3.3.1. Với Chính phủ, Bộ, Ngành liên quan 66
3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 68
KẾT LUẬN 70
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Qui trình tín dụng tổng quát
Nguồn: Giáo trình Tín dụng ngân hàng- Học viện Ngân hàng- Nhóm tập thể
biên soạn
3
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
Bảng 2: Tổng hợp dư nợ tín dụng
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Ngoại
thương Thăng Long năm 2003-2007
Bảng 3: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng( qui VNĐ)
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng Ngoại
thương Thăng Long năm 2003-2007
Bảng 4: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu tài chính trong ba năm 2005-2007 của Công
ty cổ phần Sông Đà 909
Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2005-2007 của công ty cổ phần Sông Đà
909
Bảng 5: Tổng hợp công tác tín dụng tại NHNT- chi nhánh Thăng Long

Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
tranh giữa các NHTM trên thị trường quốc tế và ngay cả thị trường nội đia đang ngày
một gay gắt. Điều kiện kinh tế xã hội mới luôn biến đổi khó lường đặt các Ngân hàng
trước bài toán phải giải quyết đó là phải nâng cao năng lực quản trị Ngân hàng, đặc
biệt là nâng cao năng lực quản trị rủi ro tài chính Ngân hàng. Giải quyết được bài toán
trên là điều kiện tiên quyết để các NHTM Việt Nam duy trì được sự phát triển ổn định,
bền vững và đảm bảo sức cạnh tranh trong giai đoạn kinh tế mới.
Trong chiến lược quản trị rủi ro tài chính của Ngân hàng thì quản trị rủi ro tín
dụng là một bộ phận quan trọng luôn được các Ngân hàng xem xét, chú trọng. Muốn
thực hiện tốt việc hạn chế rủi ro tín dụng thì công tác phân tích tài chính khách hàng
phải được thực hiện một cách rất nghiêm túc và đạt chất lượng cao. Việc tiến hành
phân tích tài chính khách hàng trong toàn bộ quá trình thực hiện tín dụng của Ngân
hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Một mặt, nhằm cung cấp các thông tin xác thực
về tình hình tài chính của khách hàng để ngân hàng có thể quản lí khoản vay hiệu quả,
mặt khác cũng tạo điều kiện cho Ngân hàng có những quyết định tín dụng phù hợp,
đem lại lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cho Ngân hàng.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam- chi nhánh Thăng Long, em đã tập trung đi sâu,
nghiên cứu chuyên đề:
“ Nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Ngân
hàng Ngoại Thương Việt Nam- chi nhánh Thăng Long”
Nội dung chuyên đề tập trung nghiên cứu qui trình, nội dung và các phương
pháp phân tích tài chính doanh nghiệp mà hiện tại Chi nhánh đang sử dụng để làm rõ
những vấn đề cần bổ sung, hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng phân tích tài
chính khách hàng nói riêng và chất lượng quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng. Trên cơ
sở đó, nội dung đề án có đưa ra những giải pháp và kiến nghị giúp nâng cao chất lượng
phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Chi nhánh.
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong chuyên đề là phương pháp so sánh và
tổng hợp số liệu thực tế thu thập được trong quá trình thực tập, các số liệu từ các Báo

biến.
Theo Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là một tổ chức tín dụng thực thi các
dịch vụ ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Trong đó, tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp được thành lập theo qui định của pháp luật và các qui định khác để hoạt
động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi, cho vay và
cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Một cách tiếp cận khác, dựa trên phương diện các loại hình dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp cấp có thể định nghĩa: NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng , tiết kiệm, dịch vụ thanh
toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh
nào trong nền kinh tế.
1.1.2. Hoạt động cho vay của NHTM
Theo Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động cho vay(hoạt động tín dụng của ngân
hàng) được xác định: Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng
sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Trong đó hoạt
động cho vay là phổ biến nhất.
1.1.2.1. Phân loại cho vay
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên những tiêu
thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để xác lập các qui
trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho
vay dựa trên các tiêu chí sau:
• Mục đích sử dụng vốn vay
Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia làm các loại sau:
Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua và xây dựng bất
động sản, nhà cửa, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và
dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn
lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
8

năm.
9
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn
như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, xây dựng các xí
nghiệp mới.
Nghiệp vụ truyền thống của các ngân hàng là cho vay ngắn hạn, nhưng từ năm
70 trở lại đây các ngân hàng thương mại đã chuyển sangkinh doanh tổng hợp và một
trng các mục tiêu đó là nâng cao tỷ trọng trong cho vay trung và dài hạn trong tổng dư
nợ của ngân hàng.
• Mức độ tín nhiệm với khách hàng
Theo căn cứ này cho vay được chia làm hai loại: Cho vay không đảm bảo và
cho vay có đảm bảo.
Cho vay không đảm bảo: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc
không có sự bảo lãnh của người thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản thân
khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng
tài chính mạnh, quản trị hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của
khách hàng mà không cần đến một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
Cho vay có bảo đảm là loai cho vay dựa trên cơ sở các đảm bảo như thế chấp
hoặc cầm cố, hoặc phải có sự đảm bảo của người thứ ba.
Đối với khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi
phải có đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lí để ngân hàng có thêm một nguồn
thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Trong những năm 90 các ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo đảm trừ các
doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân, từ 5 triệu
đồng trở xuống. Ngày 29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-
CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, theo Nghị định này việc cho vay
không đảm bảo được mở rộng hơn so với trước đây, cho phép các tổ chức tín dụng
được lựa chọn khách hàng để cho vay không đảm bảo khi cho vay ngắn hạn, trung và

Đối với loại cho vay có thời hạn khách hàng có thể trả nợ trước hạn, nhưng
ngân hàng được quyền thu lãi toàn bộ kì hạn trả nợ theo hợp đồng, trừ trường hợp có
những thỏa thuận khác.
Cho vay không có kì hạn cụ thể: Đối với cho vay khôn có kì hạn thì ngân hàng
có thể yêu cầu người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một
thời gian hợp lí, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng.
Ngoài các hình thức phân loại cho vay như trên, người ta còn có thể căn cứ vào
xuất xứ tín dụng để chia cho vay làm các loại: Cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp,
11
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
chiết khấu thương phiếu(discount), mua các phiếu bán hàng(dealer paper) tiêu dùng và
nông nghiệp trả góp, nghiệp vụ thanh tín( nghiệp vụ factoring).
Khi xem xét việc cấp tín dụng cho một khách hàng cụ thể, ngân hàng luôn luôn
xem xét dựa trên các nguyên tắc tín dụng ngân hàng. Các nguyên tắc này được cụ thể
hóa trong các qui định, qui chế về cho vay, tổ chức hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Nhà nước cũng như của chính các NHTM.
1.2.2.2. Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Thứ nhất, khách hàng phải cam kết hoàn trả gốc và lãi với thời gian xác
định. Ngân hàng có được nguồn vốn cho vay chính là từ việc huy động được từ của
các thành phần khác nhau trong nền kinh tế như khoản tiết kiệm nhàn rỗi của các hộ
gia đình, của các doanh nghiệp đang tạm thời thặng dư vốn và của các tổ chức tài
chính khác. Do đó, ngân hàng muốn tồn tại bền vững, không bị mất khả năng thanh
toán khi có nhu cầu từ người cho vay phải luôn luôn yêu cầu khách hàng thực hiện tốt
cam kết này.
Thứ hai, khách hàng phải cam kết sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận
của khoản tín dụng được cấp. Theo luật các tổ chức tín dụng: “Mục đích sử dụng tín
dụng của khách hàng phải hợp pháp, không vi phạm pháp luật, phù hợp với qui định
của NHNN, cũng như qui định riêng của Ngân hàng cấp tín dụng.”
Thứ ba, ngân hàng tài trợ dựa trên dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh

cung cấp
Tiếp xúc, phổ biến và
hướng dẫn lập hồ sơ
cho khách hàng
Hoàn thành bộ hồ sơ
để chuyển sang bộ
phận phân tích.
Phân tích tín
dụng
+ Hồ sơ đề nghị
vay từ giai đoạn 1
chuyển sang
+ Các thông tin bổ
sung từ phỏng vấn,
hồ sơ lưu trữ…
Tổ chức thẩm định về
các mặt tài chính và
phi tài chính do các
cá nhân hoặc bộ phận
thực hiện.
Báo cáo kết quả thẩm
định để chuyển sang
bộ phận có thẩm
quyền và quyết định
cho vay.
Quyết định tín
dụng
+ Các tài liệu và
thông tin từ giai
đoạn 2 chuyển sang

nợ và thanh lý
tín dụng
Các thông tin từ nội
bộ ngân hàng.
Các báo cáo tài
Phân tích hoạt động
tài khoản, các báo
cáo tài chính, kiểm
Báo cáo kết quả giám
sát và đưa ra các giải
pháp xử lí.
13
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
chính định kì
Các thông tin khác
tra cơ sở của khách
hàng.
Thu nợ
Tái xét và xếp hạng
Thanh lí tín dụng
Lập các thủ tục để
thanh lý tín dụng.
(Nguồn giáo trình Tín dụng ngân hàng- Học viện Ngân hàng- Nhóm tập thể
biên soạn)
Ngày nay, các ngân hàng và các định chế tài chính cho vay khác đều thiết lập
các qui trình tín dụng. Về nguyên tắc, các qui trình tín dụng của các ngân hàng có nội
dung cơ bản tương tự nhau, tuy nhiên nội dung chi tiết lại có nhiều khác biệt. Điều này
phụ thuộc rất nhiều vào qui mô của ngân hàng, cấu trúc các loại cho vay, năng lực của
đội ngũ nhân sự, mức độ ứng dụng công nghệ tin học. Việc xây dựng các qui trình tín

nợ. Một khoản vay có thể qui định một kì hạn trả nợ duy nhất, cũng có thể định ra
nhiều kì hạn trả nợ. Tuy nhiên, dù có định chia ra nhiều kì hạn trả nợ thì về nguyên
tắc, kì hạn trả nợ cuối phải trùng với ngày đáo hạn của khoản vay.
Để xác định kì hạn trả nợ một cách khoa học, ngân hàng phải tiến hành phân
tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ của khách hàng. Trong thực tế vẫn có trường hợp
khách hàng kinh doanh có lãi nhưng vẫn không có khả năng trả nợ, vì lưu chuyển tiền
tệ bị thâm hụt trong một giai đoạn nhất định. Khả năng thanh toán nợ định kì chỉ xảy
ra nếu khách hàng trong thời gian vay có các kì lưu chuyển tiền thuần dương. Tuy
nhiên ,cần khẳng định một điều rằng cho dù ó kì lưu chuyển tiền tệ thuần âm ở một vài
kì nhưng xét trong toàn bộ thời gian vay vốn, khách hàng phải có lưu chuyển tiền tệ
thuần dương, đủ trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng.
Mục đích của phân tích tín dụng như đã nêu trên là dự kiến rủi ro có thể xảy ra
đối với khoản tín dụng sẽ cấp. Vì vậy, sau khi phân tích cần phải xếp hạng rủi ro của
doanh nghiệp theo những tiêu chí nhất định và thường được định lượng bằng các tiêu
chí như: rủi ro ngành nghề kinh doanh của khách hàng, rủi ro quản trị, rủi ro thị
trường,… rủi ro thanh toán tiền hàng, rủi ro thực hiện hợp đồng thương mại.
1.2.2. Phương pháp phân tích tài doanh nghiệp trong cho vay của NHTM
Hiện nay hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát
triển với nhiều hình thức cấp vốn đầu tư khác nhau. Các ngân hàng lại phải đối mặt
với sự cạnh tranh gay gắt và những rủi ro lớn từ phía khách hàng, nhất là tại thời điểm
15
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
nền kinh tế thị trường như hiện nay. Vì vậy, phân tích các báo cáo tài chính cần được
tiến hành trên nhiều phương pháp nhằm thấy rõ hiện trạng tài chính của doanh nghiệp.
Dưới đây là một số phương pháp thông dụng thường được áp dụng trong phân tích báo
cáo tài chính doanh nghiệp trong cho vay của Ngân hàng
16
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]

kĩ thuật phân tích chỉ số cần chú ý rằng sự thay đổi của các chỉ tiêu có thể do các
nguyên nhân từ nền kinh tế hoặc ngành kinh doanh. Hơn nữa, cũng cần phải chú ý đến
sự thay đổi của các nguyên tắc kế toán theo thời gian. Thời kì so sánh càng dài thì sự
thay đổi của các mức giá càng bị bóp méo.Nếu có thể, trong quá trình phân tích cần
điều chỉnh lại những mâu thuẫn này để đảm bảo chất lượng của kết quả phân tích.
1.2.2.2. Phương pháp tỷ số
Phân tích tỷ số là một công cụ phổ biến và được sử dụng rộng rãi nhất trong
phân tích tài chính. Một tỷ số biểu hiện mối quan hệ toán học giữa hai đại lượng. ý
nghĩa của phương pháp phân tích tỷ số không nằm ở chỗ các tính toán số học mà ở chỗ
giải thích mối quan hệ kinh tế hàm chứa trong tỷ số đó. Phân tích tỷ số giúp cho chúng
ta có cái nhìn toàn diện về tình hình tài chính của công ty. Phân tích tỷ số có thể cho
biết các mối quan hệ quan trọng, các điều kiện và các chỉ tiêu riêng lẻ mà nếu chỉ so
sánh không thì không thể xác định được. Do đó, giống như các công cụ phân tích
khác, các tỷ số thường được sử dụng nhiều nhất trong phân tích xu hướng tương lai.
Điều này có nghĩa là cần săp xếp các nhân tố ảnh hưởng tới các tỷ số theo khả năng
trong tương lai và tầm quan trọng của chúng. Đây thực chất là việc đánh giá các nhân
tố tiềm năng sẽ ảnh hưởng đến các tỷ số trong tương lai. Bởi vậy, sự hữu ích của các tỷ
số phụ thuộc vào khả năng ứng dụng và giải thích các tỷ số, đó là thách thức lớn nhất
trong phương pháp phân tích tỷ số.
18
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
Khi áp dụng phương pháp tỷ số trong phân tích cần chú ý tới các nhân tố tác
động tới các tỷ số như các sự kiện kinh tế xã hội, các nhân tố về kinh doanh, các chính
sách quản lí và các phương pháp kế toán. Các tỷ số cũng không cs ý nghĩa khi đứng
một cách độc lập. Chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với việc so sánh với: các tỷ số của
các năm trước, các tiêu chuẩn của ngành, các tỷ số của các đối thủ cạnh tranh. Việc
thay đổi của các tỷ số theo thời gian cũng quan trọng như tính xu hướng của nó.
1.2.2.3. Phương pháp phân tích tài chính Dupont
Dupont là một phương pháp phân tích tài chính mới và được áp dụng rất hiệu

dưới dạng tỷ trọng của một nhóm hoặc một phân nhóm cấu thành nên một khoản mục
riêng biệt. Đặc biệt, trong phân tích bảng cân đối kế toán, người ta thường biểu diễn
tổng tài sản( hoặc tổng nguồn vốn) là 100%. Sau đó, các khoản mục trong phần tài
sản được biểu diễn như phần trăm của tổng tài sản. Trong phân tích báo cáo kết quả
kinh doanh thì doanh thu được coi là 100% và các chỉ tiêu khác trong báo cáo được
biểu diễn dưới dạng phần trăm của doanh thu. Phân tích theo qui trình này được gọi là
phân tích theo chiều dọc( vertical analysis), căn cứ vào sự tăng hoặc giảm giá trị của
các khoản mục trong báo cáo tỷ trọng. Phân tích tỷ trọng các báo cáo tài chính rất có
ích trong phân tích các chỉ tiêu cấu thành nên báo cáo tài chính. Ví dụ, phân tích bảng
cân đối kế toán, phân tích tỷ trọng tập trung vào hai nhân tố:
1) Nguồn tài trợ: bao gồm cơ cấu các nguồn tài trợ gồm nợ ngằn hạn, nợ dài hạn
và vốn chủ sở hữu
2) Cơ cấu tài sản: bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
Phân tích tỷ trọng báo cáo tài chính cần được mở rộng để phân tích các khoản
mục cấu thành, nên các nhóm đặc biệt. Ví dụ, trong việc đánh giá tính thanh khoản
của tài sản ngắn hạn, thì việc phân tích tỷ trọng của hàng tồn kho trong tổng tài sản
20
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
ngắn hạn là rất quan trọng, chứ không phải tỷ trọng của hàng tồn kho trong tổng tài
sản. Phân tích ,quả kinh doanh rất dễ chuyển sang phân tích tỷ trọng, mỗi một chỉ tiêu
được coi như là phần trăm của một chỉ tiêu quan trọng, ví dụ doanh thu. Với các giác
độ khác nhau, doanh thu tác động hầu hết lên các chi phí, do đó có thể biểu diễn hầu
hết chi phí dưới dạng phần trăm của doanh thu.
Phân tích tỷ trọng các báo cáo tài chính đóng một vai trò rất quan trọng trong
phân tích tài chính doanh nghiệp. Nó phản ánh về qui mô, chất lượng đầu tư và quản lí
tài sản của doanh nghiệp, khả năng thanh toán các khoản nợ, mức độ tự chủ về tín
dụng của doanh nghiệp và khả năng mở rộng tín dụng, phục vụ sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Hơn nữa, so sánh theo thời gian các báo cáo tỷ trọng của doanh
nghiệp rất hữu ích trong việc phát hiện sự thay đổi về tỷ trọng của các khoản mục

- Các tỷ số về khả năng thanh toán bao gồm hai nhóm chỉ tiêu đó là:
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn: Nhóm chỉ tiêu này
nhằm đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
Thông thường tỷ số này ở mức trên 1 là đảm bảo, tuy nhiên cũng tùy vào từng
loại hình doanh nghiệp và từng trường hợp cụ thể mà có các kết luận khác nhau. Ví dụ,
nếu hầu hết Nợ ngắn hạn là do chiếm dụng vốn, tỷ số này nhỏ hơn 1 vẫn không phản
ánh khả năng thanh toán là không tốt.
Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán Nợ ngắn hạn bằng các tài
sảncóthể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, không phụ thuộc vào việc bán hàng hóa
dự trữ. Trong toàn bộ phần tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho là khoản mục có tính
22
Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản lưu động – Hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
thanh khoản kém nhất và khi bán dễ bị thua lỗ nhất nên không được đưa vào trong tỷ
số này.
Trên thực tế, việc sử dụng chỉ tiêu thanh toán nhanh sẽ hợp lý hơn việc sử dụng
chỉ tiêu thanh toán toán hiện hành vì một doanh nghiệp chỉ thực sự quản lý các hoạt
động tốt khi có thể đáp ứng các yêu cầu chi trả đến hạn mà không phải bán bớt đi các
khoản dự trữ - vốn là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thêm vào
đó, việc quản lý các khoản mục trong tài sản lưu động hợp lý (được phản ánh rõ nét
hơn qua chỉ tiêu thứ hai) cũng sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động có ổn định và hiệu
quả hơn. Tiền
Khả năng thanh toán tức thời= __________________________
Nợ đến hạn
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng nợ đến hạn được thanh toán bằng ba nhiêu
tiền mặt tại quĩ. Chỉ tiêu này của một doanh nghiệp cần được duy trì ở mức hợp lí, nếu

- Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động
Khả năng hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá thông qua hiệu quả kinh
doanh, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao
động, vật tư, tiền vốn để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động đánh giá hiệu quả việc sử dụng vốn nói chung, chú trọng đến từng bộ
phận cấu thành nên nguồn vốn của doanh nghiệp.
Vòng quay hàng tồn kho =
Giá vốn hàng
bán
Hàng tồn kho
Đây là chỉ tiêu quan trọng không chỉ nhà quản trị quan tâm mà các nhà đầu tư,
chủ nợ cũng rất coi trọng. Vì chỉ tiêu này đo lường khả năng tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp. Bình quân một đơn vị sản phẩm hàng hoá dự trữ tham gia vào quá trình
kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng giá vốn. Hệ số này càng cao phản ánh hoạt
động kinh doanh càng tốt và ngược lại có nghĩa là có sự bất hợp lý trong khâu dự trữ,
sản xuất làm hàng hóa kém chất lượng hay yếu kém trong khâu tiêu thụ.
Vòng quay vốn lưu động =
Doanh thu
thuần
Tài sản lưu động
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh vốn lưu động quay được bao nhiêu
vòng. Số vòng quay càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao và ngược lại.
24
Nguyễn Thị Thu Phương
[Chuyên đề tốt nghiệp]
Hiệu suất sử dụng tài sản cố
định
= Doanh thu
thuần
Tài sản cố định

giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp là rất quan trọng. Khả năng sinh lời của công
ty quyết định đến việc sống còn của công ty và liên quan trực tiếp đến khả năng trả nợ
của công ty. Tuy nhiên, khả năng sinh lời không chỉ đánh giá trên mức lợi nhuận sau
thuế mà doanh nghiệp đạt được bởi nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu này mà bỏ qua các yếu tố
như tổng tài sản bỏ ra đầu tư, mức lợi nhuận trên tổng doanh thu thì con số doanh lợi
cao chưa phản ánh đầy đủ chất lượng của lợi nhuận. Do đó, khả năng sinh lời cần
được đánh giá toàn diện trên môt hệ thống chỉ tiêu, bao gồm:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status