LỄ LẬP TĨNH CỦA NGƯỜI DAO TIỀN Ở BẢN HẠ THÀNH, XÃ TÂN LẬP, HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ - Pdf 14

MỤC LỤC
PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Thứ nhất, văn hóa là bản sắc của một
dân tộc, là nền tảng, yếu tố phản ánh trình
độ phát triển của một đất nước. Văn hóa bao gồm
tất cả những sản phẩm của con người, là toàn bộ cuộc sống, cả về vật chất và
tinh thần của cộng đồng và văn hóa của từng cộng đồng tộc người sẽ khác nhau
nếu nó được hình thành ở những tộc người khác nhau trong những môi trường
sống khác nhau. Nền văn hóa Việt Nam mang đậm
bản sắc văn hóa của cư dân nông nghiệp được
tạo nên bởi các dân tộc đang sinh sống trên
đất nước Việt Nam, trong đó có sự đóng góp
không nhỏ của các dân tộc thiểu số. Điều đó
đã góp phần tạo nên sự đa dạng và phong phú
cho nền văn hóa của nước ta. Và một trong số
những yếu tố làm cho văn hóa trở nên đa
dạng và phong phú hơn đó chính là tín
ngưỡng của một tộc người, là niềm tin và sự
1
ngưỡng mộ của con người đối với một lực
lượng siêu nhiên, huyền bí nào đó có ảnh
hưởng và chi phối đến cuộc sống của họ mà
họ chỉ có thể cảm nhận mà không thể nhìn
thấy, sờ mó được. Tín ngưỡng là sản phẩm
văn hóa của con người đối với tự nhiên, với
xã hội và với chính bản thân họ, ở họ có
niềm tin tuyệt đối vào nó với hy vọng cuộc
sống của mình và cộng đồng sẽ tốt hơn. Và
từ đó tín ngưỡng ra đời và phát triển cùng

Dao là một trong những dân tộc thiểu số
thực hiện nghi lễ trưởng thành này và họ
gọi nghi lễ này là lễ lập tĩnh. Đây là một nghi lễ
truyền thống, rất phổ biến của dân tộc Dao và bắt buộc đối với đàn ông người
Dao. Đó là nghi lễ đặt tên âm hay đặt tên cúng cơm cho người con trai, đánh
dấu sự trưởng thành của họ về mặt sinh lý cũng như về mặt xã hội, họ được
cộng đồng thừa nhận, được hưởng quyền lợi của mình trong xã hội, được
công nhận là con cháu của Bàn Vương và mới có tư cách trở thành thầy cúng.
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài này để khảo sát và nghiên cứu quá trình diễn ra
nghi lễ lập tĩnh là một việc làm cần thiết cho việc tìm hiểu bản chất tín
ngưỡng cũng như các giá trị văn hóa được tích hợp trong nghi lễ này. Qua đó,
để có được một cái nhìn vừa cụ thể, vừa toàn diện, vừa sâu sắc về lễ lập tĩnh
của người Dao Tiền nói riêng và các hình thức nghi lễ khác của người Dao
nói chung.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao nhưng
chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ở
một địa phương cụ thể. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài này với mong muốn đi sâu
vào việc giới thiệu lễ lập tĩnh của dân tộc Dao Tiền bản Hạ Thành,
xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
4
- một nét đẹp văn hóa tiêu biểu của người Dao, để bổ sung thêm
những tư liệu mới làm phong phú, sâu sắc
hơn về những giá trị văn hóa của tộc người,
góp phần lưu giữ những giá trị văn hóa
truyền thống, tạo nên sự đa dạng cho nền văn
hóa của đất nước.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong thời gian qua đã có rất nhiều
những công trình nghiên cứu khác nhau
về lễ lập tĩnh của người Dao và trong các công

có trình bày về người Dao “dân tộc Dao ở Việt Nam không có văn tự riêng…
đồng bào Dao sử dụng chữ Hán đã được “Dao hóa”. Nghĩa là đồng bào học
chữ Hán theo âm của tiếng Dao, hoặc khi viết một chữ Hán, đồng bào thêm
nét để đọc các sách cúng và sáng tác thơ văn” [26; 46]. Như về lịch sử tộc
người, bản sắc văn hoá, tập tục, nếp sống và những đóng góp quan trọng
của cộng đồng người Dao trong lịch sử cách mạng của dân tộc
Trong cuốn Văn hóa dân gian người Dao ở Bắc Giang của tác giả
Nguyễn Thu Minh chủ biên, do NXB Đại học quốc gia Hà Nội xuất bản.
Trong đó, có giới thiệu vài nét về người Dao
“Do không biết tiếng Việt, họ bị vua Việt Nam nghi là kẻ gian, bắt giữ. Trong tù,
hai người đã lấy “Quá sơn bảng” - một loại giấy thông hành của vua Trung
Quốc cấp ra đắp cho đỡ rét, do đó vua Việt Nam biết họ là dân lành, liền thả ra
và cấp thuyền để họ đi tìm nơi sinh sống. Tìm được đất vừa ý họ trở về Trung
Quốc đưa vợ con, họ hàng sang Việt Nam lập nghiệp” [17; 125], về ngôn
ngữ - chữ viết, các loại hình kinh tế, địa vực
cư trú, trang phục, vấn đề dòng họ - gia đình,
tôn giáo tín ngưỡng, truyện kể dân gian, dân
ca dân tộc Dao, v.v…
Các tác giả Chu Thái Sơn (cb), Võ Mai Phương trong cuốn Người Dao
do NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2005, giới thiệu sơ lược về
lịch sử tộc người, các hoạt động kinh tế, văn hóa, ứng xử cộng đồng, tôn giáo
tín ngưỡng, lễ hội và văn hóa nghệ thuật của người Dao “Người Dao là tộc
người có dân số đông, đứng hàng thứ 9 trong thành phần các dân tộc ở Việt
7
Nam… địa bàn cư trú của người Dao tập trung ở vùng giữa. Do sinh sống
trên nhiều vùng địa lý phức tạp nên người Dao đã có những ứng xử để thích
nghi với từng vùng” [19; 86]. Đây là một công trình có
tính chất giới thiệu, nhận diện về cộng
đồng dân tộc Dao ở Việt Nam.
Ngoài ra, thì còn có một số công trình

nguồn gốc, dân số, một số nghi lễ truyền thống của dân tộc Dao như: lễ Tết
nhảy, lễ Cấp Sắc, lễ cúng Bàn vương, “Cấp sắc là tục lệ rất phổ biến ở
người Dao, tất cả người đàn ông Dao đều phải qua lễ này” [32; 332]. Tác
phẩm này chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát về người Dao cũng như vai
trò của các nghi lễ này trong đời sống chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu nghi lễ
cấp sắc như một đề tài cụ thể.
Cuốn Lễ hội cổ truyền Lào Cai, do Trần
Hữu Sơn chủ biên, NXB văn hóa dân tộc
xuất bản năm 1999, đã giới thiệu một số lễ
9
hội cổ truyền của người Giáy, Tày, Nùng,
H’Mông, Dao, Hà Nhì, Xá Phó ở Lào Cai,
trong đó có Lễ Tết nhảy của dân tộc Dao
Đỏ ở Sa Pa, Lễ Lập Tịch của người Dao ở
Bảo Thắng Lào Cai và một số nghi lễ
khác. Nghiên cứu này chỉ mang tính chất
khái quát các lễ hội cổ truyền của các dân
tộc đang sinh sống trên địa bàn Lào Cai,
chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu một nghi
lễ cụ thể của một dân tộc.
Trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong chu kì đời người của nhóm Dao
Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn của tác giả Lý Hành Sơn, do NXB Khoa học xã hội xuất
bản, đã nghiên cứu về nghi lễ chủ yếu trong vòng đời người của nhóm Dao Tiền
đang sinh sống ở Ba Bể, Bắc Kạn như lễ cúng Bàn vương, lễ Tết nhảy, lễ cấp
sắc,… Trong đó, tác giả đã nghiên cứu cụ thể và chi tiết về lễ cấp sắc của người
Dao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn “So với các nghi lễ khác thì lễ cấp sắc là một nghi
lễ phức tạp, có mối liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hóa - xã hội của người
Dao” [20; 135], về tên gọi và đặc điểm, tiến trình, bản sắc văn hóa Dao; một số
điểm hạn chế của lễ cấp sắc.
Tác giả Phan Ngọc Khuê có công trình nghiên cứu về Lễ cấp sắc của

Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Phạm vi: Tìm hiểu về đời sống văn hóa
tín ngưỡng của người Dao Tiền qua lễ lập
tĩnh về quá trình chuẩn bị, tiến trình và đặc
điểm của lễ lập tĩnh; quan niệm về tôn
giáo, tín ngưỡng; về phong tục tập quán;
vai trò và ý nghĩa của nghi lễ lập tĩnh
trong đời sống của người Dao Tiền;…
5. Nhiệm vụ nghiên cứu và những đóng góp của đề tài:
- Đề tài tập trung vào nghiên cứu về nghi lễ Lập Tĩnh của người Dao Tiền ở
bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; qua đó thấy
được nét đẹp văn hóa của họ. Cụ thể là nghiên cứu về:
Nghiên cứu về tiến trình và đặc điểm lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ở
bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; một nghi lễ nói
chung của người Dao.
Nghiên cứu về quan niệm về thế giới tâm linh, đời sống tín ngưỡng,
phong tục tập quán và đời sống sinh hoạt của người Dao Tiền qua lễ lập tĩnh
để qua đó thấy được vai trò và ý nghĩa của lễ lập tĩnh với cuộc sống của người
12
Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nói
riêng cũng như người Dao nói chung.
Nghiên cứu và đưa ra những biện pháp để bảo tồn và phát huy những
giá trị văn hóa truyền thống của người Dao Tiền ở Phú Thọ.
- Những đóng góp của luận văn:
Các nghi lễ của các dân tộc thiểu số hiện nay đang đứng trước nguy cơ
bị mai một và biến đổi do tác động của cuộc sống cùng với ảnh hưởng văn
hóa từ bên ngoài vào, đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cấp thiết để bảo
tồn và phát huy những giá trị đó, nó chính là cơ sở để gắn kết cộng đồng dân
tộc, cũng như tạo nên sự đa dạng trong nền văn hóa của Việt Nam.
Nghiên cứu về lễ lập tĩnh của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân

chụp ảnh, thu thập, xác minh tài liệu,…
14
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Ngoài việc
trực tiếp tiếp xúc với đồng bào, tôi còn thu
thập, nghiên cứu sách báo tại các thư viện,
viện bảo tàng,…kết hợp với các nguồn tư
liệu truyền miệng của các thầy mo, thầy
cúng, những già làng,… so sánh, đối chiếu
các nguồn tư liệu có liên quan, để từ đó rút ra
nhìn khách quan, khoa học về đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng
trong quá trình tổng hợp lại tất cả các dữ liệu,
thông tin đã tìm được và tiến hành phân tích,
tổng hợp rút ra được những nhận xét, kết
luận khoa học, khách quan về đề tài tìm hiểu.
8. Cấu trúc khóa luận:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận chia làm ba chương:
- Chương I: Những vấn đề chung
- Chương II: Lễ Lập Tĩnh của người Dao Tiền ở bản Hạ Thành - Tiến
trình và đặc điểm
15
- Chương III: Lễ Lập Tĩnh - Nét đẹp văn hóa của người Dao Tiền ở
bản Hạ Thành
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục của khóa luận có một số tranh ảnh về nghi lễ lập tĩnh ở
bản Hạ Thành.
16
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Về tín ngưỡng

cộng đồng tin theo, tôn thờ, hy vọng và trở thành nếp sống của xã hội.
Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt
Nam, qua lời giới thiệu có viết: “Ở nước ta, tín ngưỡng tôn giáo là cơm ăn
nước uống, hàng trăm hàng nghìn năm nay, từ thời nguyên thủy còn tồn tại
lại, sang thời xã hội phong kiến, cho đến ngày nay, chẳng một gia đình nào
lại không có bàn thờ cúng Tổ tiên, chẳng một làng ấp nào lại không có ngôi
đình, đền, miếu thờ Thần, thờ Mẫu” [2;5]. Tín ngưỡng ở nước ta đã có từ xa
xưa và cho đến ngày nay, nó vẫn tồn tại rất vững chắc trong xã hội, niềm tin
của con người vào những thứ gọi là siêu nhiên rất lớn, được thể hiện qua rất
nhiều phương thức và hình thức khác nhau nhưng cùng hướng đến hy vọng
cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Như vậy, tín ngưỡng vô cùng phong phú và đa dạng, chính là sự tin
tưởng, ngưỡng mộ, là niềm tin cầu mong cho hiện thực cuộc sống của con
người luôn khỏe mạnh, bình yên, làm ăn phát đạt, hình thành nên ý thức
riêng về các vị thần linh, các nghi thức cúng bái, mục đích cầu mong và nếp
sống xã hội của con người.
Hiện nay, tín ngưỡng và tôn giáo được sử dụng với nội hàm ý nghĩa
khác nhau. Vậy để hiểu hơn về hai thuật ngữ này chúng tôi xin làm rõ sự
giống nhau và khác nhau đó để mọi người có được cái nhìn đúng đắn hơn về
hai thuật ngữ trên. Theo quan điểm của TS. Đoàn Triệu Long trong cuốn Tín
ngưỡng truyền thống Việt Nam (Hỏi - đáp) có đưa ra cách phân biệt hai thuật
ngữ này như sau: “Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người
vào những điều thiêng liêng, huyền bí, vượt ra ngoài thế giới thực tại là yếu
tố quan trọng để tạo nên một đời sống tâm linh của con người, rồi từ đó, theo
thời gian để được chế định thành những hành vi tôn sùng, thờ cúng, những
nghi lễ, tập tục khác nhau tùy theo sự cảm nhận của mỗi cộng đồng”. Trong
18
đó, ông có đưa ra câu trả lời cho câu hỏi tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau
như thế nào?, “Tôn giáo là tổ chức của những người có cùng niềm tin vào
những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi thế giới tự nhiên. Tổ chức đó

pháp chính là sự phát triển của tín ngưỡng. Mỗi người thì chỉ có một tôn giáo
nhưng lại có thể có nhiều tín ngưỡng khác nhau “một người, trong một thời
điểm cụ thể, chỉ có thể có một tôn giáo thì một người dân có thể đồng thời
sinh hoạt ở nhiều tín ngưỡng khác nhau”. “Tôn giáo có hệ thống kinh, luật
đầy đủ, còn tín ngưỡng thì có các bài khấn, tế” [38].
Cả hai quan điểm đưa ra ở trên, đều chỉ là sự phân biệt mang tính chất
khái quát nhất, nhưng nó cũng đã phần nào giúp ta hiểu hơn được về hai thuật
ngữ tín ngưỡng và tôn giáo. Hiện nay, hai thuật ngữ này vẫn còn đang được
các nhà nghiên cứu tìm hiểu cụ thể để đưa ra được nhận định chi tiết và cụ thể
nhất. Ở đây, tôi chỉ làm rõ hơn về thuật ngữ tín ngưỡng để bước đầu hình
thành được kĩ năng trong việc đi tìm hiểu đề tài của khóa luận này.
1.2 Về nghi lễ trưởng thành
Con người từ khi sinh ra đã phải trải qua rất nhiều nghi lễ khác nhau,
nó đánh dấu bước trưởng thành của mỗi con người trong xã hội mà họ đang
sống và làm việc. Trong cuốn “Nghi lễ vòng đời người” của Trương Thìn
(Biên soạn); Đại đức Thích Minh Nghiêm (Hiệu đính) trong phần lời giới
thiệu cũng đã nhắc đến những nghi lễ này, đó là “Những nghi lễ với cuộc
sống phôi thai, lễ đầy cữ, lễ đầy tháng, lễ đầy năm, hôn lễ, lễ lão mừng thọ, lễ
tang” [23; 5].
Nghi lễ trưởng thành hay còn gọi là nghi lễ thành đinh trên thế giới, “là
nghi thức cắt bao quy đầu của bé trai được thực hiện ở những độ tuổi khác
nhau: điều này cho thấy đây là hành vi mang tính xã hội chứ không phải
mang ý nghĩa sinh lý. Mục đích trên hết của nghi thức này là để đánh dấu sự
thay đổi trọng yếu trong đời sống của đứa bé trai; quá khứ trở nên xa rời với
nó, khoảng cách đó rất lớn, nó không thể quay lại. Mối dây liên hệ giữa nó
với mẹ bị cắt đứt, và từ nay về sau nó gắn bó với đàn ông Bây giờ nó là
20
người đàn ông, gánh vác những trách nhiệm của cộng đồng” [18; 7]. Ghi
nhận quá trình trưởng thành của con người, con người có khả năng và trách
nhiệm với gia đình và xã hội, quên hết những gì liên quan đến quá khứ trước

giống như các dân tộc khác trên thế giới. Người chịu lễ phải trải qua nhiều
thử thách, bởi đây là bước ngoặt lớn của cuộc đời con người, để sau đó
người ấy sẽ đảm đương những trách nhiệm nhất định. Do đó, người chịu lễ
phải thể hiện những năng lực của mình. Nghi lễ đó vừa là niềm tự hào vừa là
nỗi sợ hãi của con người” [11]. Có thể kể đến nghi lễ trưởng thành của người
Ê Đê, người Dao, người Nùng, hay của một số dân tộc trên thế giới như bộ
lạc Harmar ở Ethiopia; bộ lạc Algonquin ở Canada thì “đối với những cậu bé
đã đến tuổi trưởng thành, các em sẽ phải trải qua một nghi lễ giúp xóa bỏ ký
ức tuổi thơ xác định đã hoàn toàn quên ký ức tuổi thơ, điều đó coi như các
em đã vượt qua thử thách và trở thành người đàn ông thực thụ. Nếu em nào
cho thấy vẫn chưa hoàn toàn quên quá khứ, các em sẽ phải trải qua nghi lễ
này một lần nữa” [36]. Trong nghi lễ trưởng thành của người Ê Đê “từ tuổi
thiếu niên bước vào giai đoạn trưởng thành (17 tuổi trở lên), để có thể "danh
chính ngôn thuận" và được thừa nhận là có đủ tâm, tài, lực để tham gia gánh
vác những phần việc hệ trọng của gia đình, cộng đồng, chàng trai Ê Đê cũng
phải trải qua nghi lễ trưởng thành” [37], nghi thức diễn ra theo một trình tự
nhất định, sau khi chọn được ngày lành tháng tốt thì người được làm lễ “ra bờ
suối rửa mặt (tắm) để tẩy rửa sự non nớt của thơ ấu và lột xác. Sau khi tắm
xong múc bầu nước về cúng thần như muốn hiến cho thần sự trong sạch- tinh
khiết của mình. Về đến nhà, khi đi lên cầu thang dùng dao chém những cây
chuối 2 bên đường đã được chuẩn bị trước buổi lễ, khi lên cầu thang, chàng
trai đẽo cây lớn ở chân cầu thang. Lên đến nhà, sau khi nghe mẹ hỏi thì
chàng trai sẽ nói với mẹ mình đi giết hổ, đánh giặc và con xứng đáng làm
người đàn ông Ê-Đê. Thầy cúng làm lễ và trao kiếm, chàng trai múa kiếm,
các cô gái vây quanh và té nước. Đến đêm, chàng được nghe kể khan và nghi
lễ kết thúc” [11]. Lễ trưởng thành của người Ê Đê thể hiện tính cộng đồng rất
22
cao vì có sự tham gia, góp sức của cả buôn làng, nghi lễ được diễn ra theo
một trình tự nhất định với mong muốn người con trở nên khỏe mạnh, trưởng
thành, may mắn trong công việc, gánh vác được công việc của gia đình và

thách, có sức mạnh và lòng dũng cảm để bảo vệ cộng đồng. Và trong bản thân
mỗi con người trưởng thành đó, vượt qua nỗi sợ hãi của những thử thách họ
cũng mang trong mình niềm tự hào, vinh dự của những chàng dũng sĩ” [11].
Như vậy, nghi lễ trưởng thành là một nghi lễ rất quan trọng trong vòng
đời con người, đánh dấu sự trưởng thành của con người về mặt tâm sinh lý và
xã hội. Nghi lễ phần nào thể hiện được tinh thần cộng đồng trong mỗi cá nhân
trong xã hội là rất lớn, đồng thời thể hiện sự dũng cảm, kiên cường của con
người, có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc.
1. 3 Về người Dao và người Dao Tiền ở bản Hạ Thành, xã Tân Lập, huyện
Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
1.3.1 Về người Dao ở Việt Nam
Người Dao là một trong 54 dân tộc anh em đang sinh sống trên đất
nước Việt Nam, và một số quốc gia khác như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Mỹ,
… với các tên gọi khác nhau như Động, Dạo, Xá,… đó là các tên gọi do các
dân tộc khác gán cho họ, còn người Dao lại tự nhận mình là Dìu Miền, Kìm
Miền, Ìu Mùn, có nghĩa là “người Dao”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở
Wikipedia có đưa ra kết quả tổng điều tra dân số năm 1999 thì người Dao ở
nước ta có 620.538 người, chiếm 0,8% tổng dân số của cả nước, đến năm
2009 dân số là 751.067 người [39]. Trong cuốn Lễ tục của người Dao ở Vĩnh
Phúc và Lào Cai của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Xuân Mai - Phạm
Công Hoan, có đưa ra số người Dao ở nước ta: “Với số dân gần 700.000
người, dân tộc Dao cư trú đan xen và có mối quan hệ hòa hợp, gắn bó đời
sống tinh thần và vật chất với các dân tộc anh em khác” [15; 23].
1.3.1.1 Nguồn gốc và quá trình di cư của người Dao ở Việt Nam
Người Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang qua
biên giới Việt - Trung, quá trình di cư diễn ra trong một thời gian khá dài từ
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status