ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM NGỌC ANH
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN
VÀ TỤC LỆ CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ - MÚ
Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN VĂN SƠN HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI KHƠ-MÚ, ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN VÀ
TỤC LỆ CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI KHƠ-MÚ Ở HUYỆN VĂN
CHẤN TỈNH YÊN BÁI 6
1.1. Vài nét về người Khơ-mú ở Việt Nam 6
1.1.1. Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú 6
1.1.2. Lịch sử tộc người 6
1.1.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của người Khơ-mú 8
1.2. Khái quát về người Khơ-mú ở Huyện Văn Chấn, Tỉnh Yên Bái 11
1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 11
1.2.2. Dân số và dân cư 12
1.2.3. Lịch sử cư trú 13
1.2.4. Các hoạt động kinh tế 14
1.2.5. Tổ chức xã hội 15
1.2.6. Văn hoá truyền thống 17
1.3. Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở Văn Chấn, tỉnh
Yên Bái 20
người.
Trong nhiều năm trở lại đây, dưới tác động của các điều kiện kinh tế-xã
hội, nhất là sự tác động của kinh tế thị trường làm cho đời sống văn hoá và
các phong tục tập quán truyền thống đã có những thay đổi về nhiều mặt cả
tích cực và tiêu cực làm ảnh hưởng nhiều đến việc gìn giữ và phát huy những
giá trị truyền thống dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu các phong tục tập quán
truyền thống trong đó có hôn nhân và cưới xin của các dân tộc, đặc biệt là
các dân tộc thiểu số được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết.
Cho đến nay, người Khơ-mú ở Việt Nam không đông. Cả nước có
56.542 người (năm 1999), trong đó trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơ-mú
có hơn 1.000 người. Văn Chấn là huyện duy nhất trong tỉnh có nhiều người
Khơ-mú sinh sống. Do tác động của nền kinh tế thị trường, do có sự giao thoa
văn hóa của các tộc người sống xen kẽ, những năm qua vấn đề hôn nhân gia
đình và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú đã có nhiều thay đổi theo những
chiều hướng khác nhau. Đặc biệt là đã bắt đầu xuất hiện một số vấn đề làm
ảnh hưởng đến gìn giữ bản sắc văn hóa trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của
người Khơ- mú ở Yên Bái.
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung tìm
hiểu về hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái.
2
Luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức về văn hoá truyền thống của
người Khơ-mú nói chung, ở Văn Chấn nói riêng. Từ đó, thấy được những giá
trị tích cực cũng như những yếu tố không còn phù hợp trong quá trình xây
dựng đời sống văn hoá mới. Đồng thời có thêm luận cứ khoa học giúp cho các
nhà quản lý ở địa phương có thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính
sách và tìm ra các giải pháp thích hợp trong việc bảo lưu, gìn giữ và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị T.W 5, khoá
8 về Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Góp phần nghiên cứu bản lĩnh, bản sắc các dân tộc Việt Nam của Viện Dân
tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1980; Sổ tay các dân tộc ở Việt Nam của
Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1983; Dân tộc và bản sắc văn
hoá vùng Văn Chấn, Mường Lò của Bùi Huy Mai, Nxb Văn hoá Dân tộc, H,
2007… Trong các công trình, bài viết kể trên, người Khơ-mú đã được giới
thiệu khá đầy đủ từ góc độ tộc danh, dân số, địa bàn cư trú cho đến các hoạt
động kinh tế truyền thống, các dạng thức văn hoá cổ truyền của họ. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn thiếu vắng một khảo cứu mang tính chuyên sâu về
phong tục hôn nhân và cưới xin của họ. Đặc biệt, vẫn còn rất ít các công trình,
bài viết riêng về người Khơ-mú ở Văn Chấn nói chung, và phong tục hôn
nhân và cưới xin của họ nói riêng. Mặc dù vậy, đây là những tư liệu hết sức
quý giá, giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Tuy nhiên chưa có dề tài
nghiên cứu sâu sắc về những giá trị văn hoá của hôn nhân và tục lệ cưới xin
của người Khơ mú dưới góc độ xã hội- chính trị.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
* Mục đích
Đánh giá thực trạng và tìm ra những giải pháp gìn giữ, phát huy những
giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở huyện
Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
4
* Nhiệm vụ
Làm rõ những giá trị văn hoá trong hôn nhân và cưới xin của người
Khơ- mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cần phát huy và những hạn chế
Đề xuất giải pháp để phát huy giá trị văn hoá trong hôn nhân và cưới
xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu: Những giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục
lệ cưới xin của người Khơ-mú, những yếu tố truyền thống và những yếu tố
biến đổi.
6
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI KHƠ-MÚ, ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN
VÀ TỤC LỆ CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI KHƠ-MÚ
Ở HUYỆN VĂN CHẤN TỈNH YÊN BÁI
1.1. Vài nét về ngƣời Khơ-mú ở Việt Nam
1.1.1. Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú
Người Khơ-mú là một trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Cho đến
nay, dân số người Khơ-mú ở Việt Nam không đông. Theo số liệu thống kê
năm 1999, dân tộc Khơ-mú có 56.542 người, đứng thứ 23 trong 54 các dân
tộc Việt nam. Họ chủ yếu cư trú tại các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Lai Châu,
Sơn La, Yên Bái Khơ-mú là một trong sáu tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn-Khơ-me (của Ngữ hệ Nam Á) miền Bắc Việt Nam.
Người Khơ-mú tự gọi mình là Khmụ, Kmh mụ hoặc Kừm mụ tuỳ theo
cách phát âm ở từng địa phương. Những tên ấy có nghĩa chung là “người” hay
“cộng đồng người”. Tuy vậy, trước ngày hoà bình lập lại (1954) thì các tộc
người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ-me ở Tây Bắc nói chung và người
Khơ-mú nói riêng vẫn thường được gọi bằng tên phổ biến là Xả hoặc Xá (với
nghĩa thấp hèn, da đen như cái giàn bếp).
Ngoài tên Xá, người Khơ-mú còn được các dân tộc gọi bằng những tên
khác nhau: Xá Cẩu, Khá Klẩu, Mảng Cẩu (người búi tóc ngược), Tềnh, Phu
Thênh (người ở trên núi cao), Tày Hạy (người chuyên làm nương), Mứn Xen
(ngàn vạn) v.v… Sau đợt xác minh thành phần dân tộc (1968-1978), Khơ-mú
Tuy nhiên, ngay từ đầu đã có những ý kiến nghi ngờ về quan điểm
người Khơ-mú là cư dân bản địa miền Tây Bắc nói trên. Sau những đợt điền
dã ở vùng Tây Bắc từ những năm 1960, GS. Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ý kiến
nghi ngờ này trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 78/1965 và chứng minh rằng
Khơ-mú không phải là cư dân bản địa miền Tây Bắc, mà họ mới di cư từ Lào
8
sang Việt Nam cách đây hơn 200 năm. Đến nay, với những tư liệu và tài liệu
thu thập được, ý kiến này vẫn phù hợp. Về mặt nhân chủng, khi so sánh người
Khơ-mú với người Kháng và người La Ha, Nguyễn Đình Khoa cũng nhấn
mạnh, ở người Khơ-mú, yếu tố Inđônêdiêng trội hơn yếu tố Nam Á, mặc dù
yếu tố Inđônêdiêng ở họ cũng đang mờ dần.
Các truyền thuyết về tranh chấp đất đai của người Thái cũng không
thấy nhắc gì tới người Khơ-mú. Như vậy có thể khẳng định rằng, nguồn gốc
của người Khơ-mú là từ Lào (tập trung ở Luông Pra Băng với các vương quốc
Swa/Saowa), nhưng sau này người Thái do tù trưởng Khun Bo Rôm cùng con
trai là Khun Lò tràn từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống đánh chiếm, cộng thêm
các cuộc xâm lược từ bên kia sông Mê Công của phong kiến Xiêm thế kỷ
XVII-XVIII, nên họ phải chạy sang các nước láng giềng lánh nạn, trong đó có
miền Tây Bắc, miền núi Thanh - Nghệ và cả Bắc Thái Lan. Sau này, với
mong muốn khôi phục lại vương quốc, thủ lĩnh Chương Han mới tổ chức lực
lượng đánh chiếm nhiều nơi, gọi là nạn giặc Chương (xấc Chương), trong đó
có nhiều lần đánh sang cả Mường Lay (Lai Châu), Kỳ Sơn (Nghệ An) vào
những năm cuối thế kỷ XIX. Sau khi Chương Han thất bại, những người theo
ông phải ở lại Việt Nam và chịu thân phận cuông, nhốc (tức là nô lệ, tôi tớ)
cho các lãnh chúa Thái.
1.1.3. Đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của người Khơ-mú
Hầu hết người Khơ-mú đều lấy canh tác nương rẫy làm nguồn sống
chính. Ngoài trồng lúa, bà con còn trồng các loại ngô, sắn, bầu bí, cây ăn quả.
Công việc hái lượm, săn bắt, đánh bắt cá còn chiếm vị trí khá quan trọng
Người Khơ-mú gọi dòng họ là tạk hay sinh, để chỉ những nhóm người
cùng huyết thống và những người cùng tổ tiên huyền thoại, thể hiện qua việc
kiêng cữ và thờ chung một vật tổ tô tem (động vật hay thực vật). Các họ mang
tên thú gồm: Rvai (hổ), Rvaivêngung (hổ vằn), Rvaitlắp (báo), Rvaiđer (hổ
xám ); Tmoong (chồn, cầy hương). Các họ mang tên chim gồm: Chưnđre
10
(chim màu trắng); Tgooc (chim đuôi dài); Ric (chim én); Pit (chim cú);
Thràng (đại bàng); Ôm (rẻ quạt); Elót (chim elót). Họ mang tên thực vật gồm:
Tvạ (dương xỉ). Họ mang tên vật vô tri vô giác có: Soong (cái rọ lợn).
Gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện nhiều chức năng quan trọng
trong các lĩnh vực của đời sống, tác động rất lớn đến sự phát triển của xã hội,
đến tư tưởng và ý thức tộc người.
Với người Khơ-mú, hình thức gia đình cũng giống như người Việt, đó
là quá trình phát triển từ hình thức đại gia đình đến gia đình hạt nhân. Trong
qua trình phát triển của xã hội, hình thức đại gia đình ngày càng giảm dần,
thay vào đó là gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ với hai thế hệ vợ chồng và con
cái.
Gia đình người Khơ-mú là gia đình phụ quyền, người chồng, người cha
là người chủ gia đình, có vai trò quan trọng nhiều mặt của cuộc sống: có
quyền hành lớn, quyết định mọi việc từ làm ăn, cưới xin, tang ma đến công
việc tín ngưỡng. Đồng thời, họ còn là người thay mặt gia đình quan hệ với họ
hàng, làng xóm và các tổ chức xã hội, với chính quyền địa phương. Mọi tài
sản trong nhà, kể cả ruộng nương, trâu bò, công cụ sản xuất đều do người đàn
ông là người chủ nắm giữ. Quyền lực này sẽ được bàn giao lại cho con trai cả
khi đã trưởng thành đảm đương, người cha chỉ đóng vai trò cố vấn và lo việc
đối ngoại.
Bên cạnh quyền lực thực tế của người chồng người cha được xã hội ghi
nhận, người phụ nữ (người mẹ) trong gia đình người Khơ-mú có vai trò quan
trọng trong đời sống gia đình và sản xuất, từ việc tham gia lao động sản xuất
phường Pú Trạng; phía Nam giáp xã Nghĩa An; phía Bắc giáp xã Nghĩa Phúc
(thuộc thị xã Nghĩa Lộ); phía Tây giáp xã Túc Đán (thuộc huyện Trạm Tấu).
Nơi cư trú và canh tác của người Khơ-mú ở Văn Chấn có tổng diện tích
hơn 927 ha, trong đó đất nông nghiệp 43 ha; đất rừng tự nhiên 41,6 ha; đất
12
rừng tái sinh 315,5 ha; đất rừng kinh tế 130 ha; đất rừng phòng hộ 130 ha; đất
trồng lúa nương và cây màu 155 ha; các loại đất khác hơn 92 ha. Nhìn chung
địa hình phức tạp, có độ dốc vừa và thoải, nên có điều kiện canh tác ruộng bậc
thang.
Là vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm,
thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9,
mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Mùa khô chịu ảnh hưởng
của gió nóng theo hướng tây nam thổi từ Mù Cang Chải và Văn Chấn.
Trên địa bàn có hai con suối chảy qua Nghĩa Sơn: suối Huông dài 4 km
và suối Nậm Tộc dài hơn 10 km, đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Hai con suối này có giá trị tưới tiêu, nước sinh hoạt và thủy điện nhỏ. Vào
mùa mưa, nước thường dâng cao, gây lũ lụt, lũ quét.
Do diện tích rừng tự nhiên giảm nhiều, chủ yếu là rừng tái sinh và rừng
trồng, nên thảm thực vật ở Nghĩa Sơn không dày. Động vật chủ yếu chỉ còn
lợn rừng, cầy hương, gà rừng, hoẵng các loại động vật quý hiếm như voi, tê
giác, hổ, gấu và bộ linh trưởng hầu như không còn.
1.2.2. Dân số và dân cư
Tính đến cuối năm 2008, toàn Nghĩa Sơn có 311 hộ, 1.474 khẩu, trong
đó Khơ-mú: 221 hộ, 1.083 khẩu, chiếm 73,22%, cư trú tại sáu bản: Bản
Loọng, bản Bẻ, Noong Khoang 1, Noong Khoang 2, tập trung đông nhất tại
hai bản là Nậm Tộc 1 và Nậm Tộc 2. Ngoài ra, trong xã còn một số dân tộc
khác cùng sinh sống như người Thái: 235 khẩu, người Kinh: 150 khẩu, người
Mường: 8 khẩu, người Hmông: 3 khẩu
1
thấy rõ hơn về nguồn gốc và những đợt chuyển cư của họ đến Văn Chấn hiện
nay. Theo ông Vì Văn Sang (74 tuổi, bản Nậm Tộc 2, nguyên là Bí thư Đảng
uỷ xã) thì người Khơ-mú cư trú ở xã Nghĩa Sơn huyện Văn Chấn đến nay đã
được 6-7 đời. Từ năm 1954, trở về trước, mỗi bản mới chỉ có vài ba nhà, từ
1954 trở về sau, mỗi bản có khoảng 10 hộ. Ba dòng họ Khơ-mú đến lập
nghiệp đầu tiên trên mảnh đất này là: họ Rvaiđer: hổ xám (chuyển thành họ
Lường), họ Ric: chim cú (chuyển thành họ Vì-nay là họ chiếm số đông) và họ
Tvạ: dương sỉ (chuyển thành họ Lò). Gốc gác của ba dòng họ này từ Điện
Biên, Sơn La di cư xuống. Nguyên nhân là do nạn đói kém và do chạy nạn
giặc dã. Lúc đầu khi mới di cư về vùng Văn Chấn, một số gia đình người
14
Khơ-mú sống tản mát tại các bản ở các xã khác nhau, sau này mới quy tụ lại
tại các bản của xã Nghĩa Sơn, nhưng tập trung nhất tại hai bản Nậm Tộc 1 và
Nậm Tộc 2.
Có một thực tế là Nghĩa Sơn ở trên một vùng núi cao và tất cả người
Khơ-mú ở Văn Chấn đã tụ tập về đây. Họ gắn bó với quả núi này và không
muốn đến nơi khác, dù cuộc sống ở Nghĩa Sơn rất khó khăn, vất vả. Chính vì
sống tập trung trên một địa bàn nên người Khơ-mú ở Nghĩa Sơn còn gìn giữ
được nhiều nét văn hoá riêng của dân tộc mình, có thể nói là còn đậm nét hơn
một số nơi khác.
1.2.4. Các hoạt động kinh tế
Trước kia, người Khơ-mú ở Văn Chấn sinh sống bằng canh tác nương
rẫy, gắn với cuộc sống du canh du cư. Từ sau năm 1968, do phong trào vận
động hạ sơn, nên đa phần họ đã định cư và bắt đầu canh tác ruộng nước.
Đến nay, toàn xã có khoảng 70% số hộ làm ruộng nước, chăn nuôi; chỉ
còn 30% số hộ do địa hình đồi núi, không có điều kiện làm thủy lợi, nên vẫn
canh tác nương rẫy. Tuy nhiên, do đất bạc màu nên năng suất thường không
ổn định.
Ngoài nương lúa còn có nương ngô, sắn, đỗ xanh, khoai lang và trồng
có những người hành nghề tín ngưỡng tôn giáo. Họ được dân bản gọi chung
là mo (mo cúng, mo xem bói, mo bốc thuốc chữa bệnh ), có vai trò quan
trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng.
Hiện nay, người Khơ-mú ở Văn Chấn gọi dòng họ là Sinh. Trong xã có
bảy họ: Vì, Lường, Lò, Mè, Lèo, Hà và Hoàng, trong đó họ Vì là họ chiếm số
đông và có thế lực nhất. Người Khơ-mú ở Văn Chấn cũng có ba mối quan hệ
họ hàng: tai hem (anh em trai cùng thế hệ, cùng tô tem), dông êm, mạ êm (anh
em trai bên vợ) và mạ cưn, dông quynh (anh em trai bên chồng chị em gái).
Trong quan hệ dòng họ, người cậu (người anh, người em trai của mẹ)
có vai trò quan trọng. Cậu vừa có quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến
16
gia đình các cháu con của chị gái, đặc biệt là cháu gái. Khi dựng vợ gả chồng
cho con cái, cha mẹ phải xin ý kiến của người cậu từ khi ăn hỏi cho đến khi
làm lễ cưới chính thức. Người cậu phải là người chủ trì trong ăn hỏi và trong
lễ cưới. Đôi khi, người cậu là người quyết định trong việc hôn nhân của con
cháu. Khi cháu làm nhà mới, người cậu là người làm “the le” (tấm đan hình
mắt cáo) buộc trên đầu cây cột ở gian khách, đồng thời cũng là người đầu tiên
nhóm bếp lửa của ngôi nhà mới; cho hạt giống, gia súc.
Do vai trò người cậu rất quan trọng, nên khi người cậu chết, cháu rể
phải có trách nhiệm tổ chức tang ma và được hưởng đùi trâu, đùi lợn theo quy
định của tập quán. Không những thế, người Khơ-mú còn có tục chia tài sản
của ngươi cậu cho cháu gái sau khi ông ta qua đời.
Hiện tại vẫn tồn tại hình thức gia đình lớn nhiều thế hệ, nhưng chủ yếu
vẫn là hình thức gia đình nhỏ, gia đình gồm vợ chồng, con cái và bố mẹ già là
phổ biến. Gia đình người Khơ-mú là một đơn vị kinh tế độc lập, tài sản của
gia đình là nhà ở, nương rẫy, công cụ, gia súc và đồ dùng gia đình. Việc phân
công lao động trong tiểu gia đình tuỳ theo giới tính. Đàn ông thì đảm nhiệm
những công việc nặng nhọc như làm nhà cửa, nương rẫy, săn bắt, còn đàn bà
thì làm những việc nhẹ trong sản xuất, lấy nấm, kiếm củi, hái măng, nội trợ,
ăn món ruột non (nậm pịa) như người Thái trong vùng.
Cũng giống như nhiều dân tộc miền núi khác, người Khơ-mú Nghĩa
Sơn thường xuyên uống rượu cần và rượu nếp do họ tự cất ủ theo kiểu riêng
của mình. Trong đời sống văn hóa của người Khơ-mú, ruợu cần có vị trí và
vai trò quan trọng. Nghi thức cúng rượu cần được sử dụng trong những sự
kiện quan trọng của gia đình, đó là lễ lên nhà mới, lễ cưới và lễ rước hồn mẹ
lúa. Rượu cần chỉ cúng cho tổ tiên và trong lễ hội Xên bản, Xên mường.
* Văn hóa tinh thần
+ Cũng giống như các vùng khác, tín ngưỡng dân gian của người Khơ-
mú Nghĩa Sơn khá sâu đậm. Họ vừa có ý thức tín ngưỡng riêng của dân tộc
18
mình, lại vừa chịu sự chi phối, giao thoa của tín ngưỡng bản địa các dân tộc
lân cận, đặc biệt là dân tộc Thái.
Đồng bào cho rằng: mọi hoạt động trong cuộc sống thường ngày của
mình đều do lực lượng siêu nhiên giám sát, chi phối. Lực lượng “siêu nhiên”
ấy được gọi chung là ma, trong đó ma trời (Hrôi Lvang) là to nhất, đáng tôn
trọng và đáng sợ nhất. Ma trời có nhiều ma khác nhau giúp việc như ma sấm,
ma mưa gió nên nếu mà trời giận thì sẽ rất nguy hiểm. Sau ma trời là ma đất
(Hrôiptê), dưới quyền ma đất là ma nương, ma rừng, ma bản… Loại thứ ba là
ma Thuồng Luồng - ma tượng trưng cho nguồn nước, sông suối (Prưdồng).
Thuồng Luồng có quyền uy nằm ở những vũng nước lớn để điều hành lượng
nước cần thiết cho con người. Ma thứ tư là ma Hổ (Rvai) là chúa tể của rừng
núi, cai quản tinh linh của muôn loài thú vật.
Đó là bốn loại ma quan trọng nhất mà bất cứ dịp cúng lễ nào cũng được
nhắc tới. Bốn ma to này cùng với ma nhà và ma Tổ tiên (của thị tộc, dòng họ)
có thể trừng phạt hay phù hộ con cháu bất cứ lúc nào tuỳ theo cách đối xử của
con cháu.
Tục thờ vật tổ (tô tem) cũng in đậm ở người Khơ-mú cho đến tận ngày
nay. Mỗi khi lễ tết, hội hè họ sẽ hoá trang giống hình thù con vật hay cây cối
Lễ cúng cơm mới: Đây là nghi lễ quan trọng trong năm sau lễ cúng ma
nhà và lễ cúng ma bản. Nó thể hiện lòng biết ơn của con người đối với lực
lượng siêu nhiên đã cho họ một mùa thu hoạch. Lễ được tổ chức trước hoặc
sau khi thu hoạch mùa màng tuỳ theo từng vùng.
+ Văn nghệ dân gian của người Khơ-mú ở Văn Chấn khá phong phú
Trước hết là phải nói đến những truyền thuyết, sự tích về nguồn gốc tộc
người, nguồn gốc dòng họ như chuyện “Quả Bầu” chuyện “T góoc”, chuyện
“Chim én”, chuyện “Chim chìa vôi”, chuyện “Cây dương xỉ”… Ngoài ra,
người dân cũng sở hữu một kho tàng ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cười,
truyện cổ tích phong phú.
20
Người dân Khơ-mú trong bản còn lưu truyền những làn điệu dân ca của
dân tộc như “Mưa rơi”, “hát tơm” (hát đối đáp vào những dịp mừng nhà mới,
đón năm mới, đám cưới ), “hát cơnchơ” (hát ở trên rừng để gọi tình yêu, nhớ
người yêu, ca ngợi cảnh thiên nhiên, hát động viên trong lao động, đi
đường )
Những nhạc cụ người Khơ-mú thường dùng như “Thằm đao đao”,
“Đàn trống”; “Đàn môi”; “Sáo dọc pi tơn”, “Sáo dọc pi tót”; “Sáo thổi bằng
mũi”; “Sáo nhiều ống”; “Đàn dây”; “Khèn bè”; “Cồng chiêng”
Người Khơ-mú cũng thích nhảy múa trong những dịp lễ tết hội hè và
họ đã có những điệu múa được nhiều người biết đến như “múa tăng bu”,
“múa cá lượn” (hay còn gọi là “múa giao duyên”)
Đó là những hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian khá độc đáo của
người Khơ-mú có từ thuở xa xưa và đến nay vẫn còn tồn tại trong các bản
làng.
1.3. Hôn nhân và tục lệ cƣới xin của ngƣời Khơ mú ở Văn Chấn,
tỉnh Yên Bái
1.3.1. Hôn nhân truyền thống của người Khơ-mú
1.3.1.1. Những vấn đề chung về hôn nhân của người Khơ-mú
lụt, dịch bệnh… để trừng trị con người.
Lúc đầu, việc nghiêm cấm có hiệu lực đối với tất cả các thành viên có
chung một ông tổ, một vật tô tem. Về sau, việc nghiêm cấm tuyệt đối chỉ áp
dụng đối với con cái của những anh em có chung một ông tổ Tam đại (anh em
trực hệ, ba đời), còn từ đời thứ tư trở lên (thậm chí ngay cả từ đời thứ ba) có
thể quan hệ hôn nhân với nhau được. Ông Vì Văn Sang cho biết: “Đồng bào
Khơ-mú ở đây cho dù có cùng họ, nhưng khác ma nhà là lấy được nhau”.
Nguyên tắc thứ hai là nội hôn tộc người. Trước đây, hôn nhân của
người Khơ-mú ở Văn Chấn chỉ diễn ra trong phạm vi nội bộ dân tộc. Đồng
bào có câu: “ngua hắc ngua, quai hắc quai” (Bò đi theo bò, trâu đi theo trâu).