KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 1 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
MỤC LỤC
CHƯƠNG MỞ ĐẦU 4
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: 4
2. MỤC ĐÍCH – NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI: 4
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: 4
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 5
CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ, NHÂN VĂN THỊ XÃ
THUẬN AN 5
I.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 5
I.2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 8
I.2.1 ĐỊA HÌNH 8
I.2.2 THỦY VĂN – SÔNG NGÒI 9
I.2.3 KHÍ HẬU 10
I.3 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - NHÂN VĂN 12
I.3.1 DÂN CƯ 12
I.3.2 KINH TẾ 12
I.3.1 HỆ THỐNG GIAO THÔNG 13
CHƯƠNG II: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT THỦY VĂN . Error! Bookmark
not defined.
CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC Error! Bookmark not defined.
III.1 ĐỊA TẦNG: 16
III.1.1 GIỚI MESOZOI 16
III.1.2. GIỚI KAINOZOI 18
III.2. KIẾN TẠO 22
III.3. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT CỦA VÙNG 22
CHƯƠNG IV: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN KHU VỰC Error! Bookmark
not defined.
VI.2.1.CÁC TIÊU CHÍ SỬ DỤNG DỰ BÁO DÂN SỐ VÀ NHU CẦU NƯỚC: 38
VI.2.2. DỰ BÁO LƯỢNG NƯỚC KHAI THÁC VÀO NĂM 2020: 39
VI.3. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC BỔ CẬP NHÂN TẠO: 39
CHƯƠNG VII :GIẢI PHÁP BỔ CẬP NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI ĐẤT Error!
Bookmark not defined.5
VII.1. TỔNG QUAN VỀ BỔ CẬP NHÂN TẠO : 415
VII.1.1. ĐỊNH NGHĨA, Ý NGHĨA CỦA VIỆC BỔ CẬP NHÂN TẠO NƯỚC DƯỚI
ĐẤT: 415
VII.1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP BỔ CẬP NHÂN TẠO : 41
VII.2. ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT THỦY VĂN KHU VỰC THỊ XÃ THUẬN AN
– LỰA CHỌN NGUỒN BỔ CẬP VÀ MÔ HÌNH BỔ CẬP NƯỚC DƯỚI ĐẤT THÍCH HỢP
CHO KHU VỰC: 472
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 3 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
VII.2.1. ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT THỦY VĂN KHU VỰC THỊ XÃ THUẬN
AN: 472
VII.2.2. LỰA CHỌN NGUỒN BỔ CẬP VÀ MÔ HÌNH BỔ CẬP CHO KHU VỰC: 48
CHƯƠNG VIII: KẾT LUẬN 60
VIII.1. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU : 60
VIII.2. NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC : 60
VIII.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI : 60
VIII.4. KIẾN NGHỊ : 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 573
PHỤ LỤC 584
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 4 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Ý nghĩa thực tiễn: là cơ sở tài liệu địa chất thủy văn góp phần phục vụ cho
việc khai thác sử dụng hợp lý lâu dài nguồn tài nguyên nước dưới đất trong khu
vực.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Thu thập và tổng hợp tài liệu
- Khảo sát thực địa
- Phân tích, thí nghiệm trong phòng
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - NHÂN VĂN THỊ XÃ
THUẬN AN
I.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Bình Dương là 1 tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,5
Bình Chuẩn, An Phú.
03 xã: Bình Nhâm, Hưng Định, An Sơn.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 7 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
Hình I.1. Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 8 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
I.2. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN
I.2.1 ĐỊA HÌNH
Địa hình tỉnh Bình Dương là kiểu địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên bóc
mòn sang đồng bằng châu thổ với cao độ địa hình biến đổi phức tạp. Phía Đông -
Đông Bắc có địa hình cao nhất với cao độ biến đổi từ 112m đến 193m, thấp dần
sang phía Tây – Tây Nam.
Địa hình Thuận An thấp nhất trong khu vực thuộc kiểu đồng bằng thấp bao
gồm các loại hình bãi bồi, thung lũng ven sông. Từ phía Đông - Đông Bắc đến Tây
- Tây Nam cao độ biến đổi từ 1m đến hơn 30m, có thể chia khu vực nghiên cứu ra
làm 3 khu vực nhỏ (Hình I.1):
Hình I.2. Các khu vực địa hình của thị xã Thuận An
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 9 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
- Khu I: là vùng có địa hình tương đối bằng phẳng có cao độ khoảng 30m,
nằm chủ yếu ở các phường Bình Chuẩn, An Phú, phía Đông của phường Thuận
chảy sang Tây Bắc – Đông Nam đến khi hợp lưu với sông Đồng Nai ở Nhà Bè. Ở
thượng lưu, sông hẹp (20m) uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần
đến thị xã Thủ Dầu Một (200m). Đoạn chảy qua ranh giới phía Tây Nam của thị
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 10 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
xã Thuận An dài khoảng 15km, rộng khoảng 250m và sâu khoảng 20m. Ngoài ra
trong vùng còn có các sông suối và kênh rạch nhỏ là phụ lưu của sông Sài Gòn
như sông Búng, rạch Cầu Mới,…
I.2.3 KHÍ HẬU
Khí hậu ở Thuận An mang đặc điểm chế độ khí hậu của khu vực miền Đông
Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa
ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa
mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch, mùa khô từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ: nhiệt độ không khí trong năm khá cao và ít thay đổi, nhiệt độ trung
bình 26,5
o
C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (24
o
C), tháng có nhiệt độ cao
nhất là tháng 4 (29
o
C).
Độ ẩm: độ ẩm không khí bình quân trong năm từ 76 – 80% và biến đổi theo
mùa, mùa mưa độ ẩm trung bình khoảng 80 – 85%, mùa khô độ ẩm trung bình
khoảng 60 – 70%.
Chế độ chiếu sáng: Thuận An hầu như quanh năm đều có ánh nắng mặt trời,
số giờ nắng trung bình 6 – 7 giờ/ngày. Trong mùa khô số giờ nắng trung bình là
205 giờ/tháng, còn vào mùa mưa thì khoảng 150 giờ/tháng.
72,33
2
26,02
77,80
29,53
106,00
3
27,10
75,60
37,45
146,60
4
28,56
76,80
94,88
130,80
5
28,20
83,20
17,04
85,77
6
27,50
86,60
295,44
56,63
7
26,88
88,60
241,76
Hình I.3. Biểu đồ các đặc điểm khí tượng tại trạm Sở Sao
0
50
100
150
200
250
300
350
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Tháng
Lượng mưa-bốc hơi (mm)
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
nhiễm ra khỏi khu dân cư, đô thị theo quy hoạch của tỉnh. Đầu tư xây dựng đồng
bộ kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài KCN và khu dân cư đô thị, nhất là hệ thống cấp
thoát và xử lý nước, các tuyến giao thông nối liền khu, cụm công nghiệp với khu
dân cư, KCN - dân cư với vùng du lịch sinh thái.Về thương mại - dịch vụ, giá trị
sản xuất tăng bình quân từ 22 - 23%/năm. Do đó, Thuận An cần phải tập trung đẩy
mạnh việc thu hút các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ,
bằng nhiều chính sách huy động các nguồn lực, kêu gọi và hỗ trợ tích cực các dự
án đầu tư hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại - dịch vụ gắn với đô thị, KCN
và vùng dân cư tập trung theo quy hoạch. Bên cạnh đó, Thuận An sẽ tập trung phát
triển mở rộng các ngành dịch vụ như cung ứng điện, bưu chính - viễn thông, giao
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 13 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
thông - vận tải, cấp nước, ngân hàng, tín dụng, nhà ở cho công nhân và các dịch
vụ công cộng. Cùng với đó là phát triển hệ thống thương mại đa dạng về loại hình
và phương thức kinh doanh, đặc biệt khuyến khích phát triển mạnh dịch vụ nhà ở
đủ tiêu chuẩn, vui chơi giải trí, suất ăn công nghiệp và dịch vụ trang trí, hoa kiểng
cho các công trình xây dựng, khu cụm công nghiệp, công viên, tụ điểm công cộng.
I.3.3. HỆ THỐNG GIAO THÔNG
Thuận An có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối
liền giữa các vùng trong và ngoài thị xã. Trong hệ thống đường bộ, có đường quốc
lộ 13 – con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí
Minh, chạy suốt chiều dài của thị xã từ phía Nam lên phía Bắc. Đây là con đường
có ý nghĩa chiến lược kinh tế. Các con đường xuyên tỉnh lộ 746, 743 chạy từ Đông
sang Tây cũng là những tuyến đường giao thông quan trọng của vùng.
Về hệ thống giao thông đường thủy, quan trọng nhất là sông Sài Gòn ở phía
Tây Nam của thị xã. Đây là con đường giao thương thuận lợi giữa thị xã Thuận An
với các quận huyện phía Đông Bắc của thành phố Hồ Chí Minh.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
N
2
, Mz.
Trong đó, các tầng chứa nước Q
II-III
, Q
I
,
N
2
có khả năng chứa nước từ trung bình
đến giàu.
Năm 1994, báo cáo kết quả điều tra nguồn nước dưới đất vùng sân Gôn Sông
Bé do Vũ Văn Nghi, Nguyễn Quốc Dũng chủ trì đã đánh giá được trữ lượng tiềm
năng của vùng sân Gôn trong tầng Pliocen.
Năm 1999, Liên đoàn ĐCTV – ĐCCT miền Nam lập bản đồ ĐCTV vùng thị
xã Thủ Dầu Một tỉ lệ 1 : 25.000 do kỹ sư Ngô Đức Chân làm chủ biên trong chương
trình điều tra đô thị. Kết quả đã phân chia vùng nghiên cứu gồm thành tạo địa chất
rất nghèo nước Holocen và 5 tầng chứa nước: Pleistocen giữa - trên , Pleistocen
dưới, Pliocen trên, Pliocen dưới và tầng chứa nước khe nức Mezozoi.
Tháng 3/2001, cục quản lý nước và công trình thủy lợi đã tiến hành xây dựng
mô hình NDĐ khu vực tỉnh Bình Dương do tiến sĩ Đặng Đình Phúc và nnk thực
hiện bằng phần mềm Visual MODFLOW 2.7.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 15 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
Năm 2004, báo cáo đánh giá trữ lượng nước dưới đất khu vực phía Nam tỉnh
Bình Dương, do tiến sĩ Vũ Văn Nghi và nhiều người khác cũng đã sơ bộ đánh giá
được trữ lượng tiềm năng của vùng.
tầng có các trầm tích phủ Kainozoi có chiều dày lớn. Trên cơ sở các tài liệu hiện
có, khu vực nghiên cứu có thể có các phân vị địa tầng địa chất sau:
III.1.1 GIỚI MEZOZOI
1. Hệ Triat
Thống trung, hệ tầng Châu Thới (T
2
ct)
Hệ tầng này được xác định nhờ hóa thạch được tìm thấy ở núi Châu Thới. Hệ
tầng gồm 3 tập:
Tập 1: Cuội kết đa khoáng
Tập 2: Cát kết arkos
Tập 3: Đá phiến sét, bột kết
Các tập có quan hệ chuyển tiếp liên tục với nhau, quan hệ dưới chưa quan sát
thấy, quan hệ trên bị phủ bất chỉnh hợp bởi các trầm tích Jura hạ. Bề dày của hệ
tầng khoảng 400m.
2. Hệ Jura
-Thống hạ, hệ tầng Đăk Bùng (J
1
đb)
Được thành lập trên cơ sở tách ra phần hạt thô ở dưới của hệ tầng Dray Linh
trước đây, có diện lộ nhỏ ở khu vực núi Châu Thới và Bình An. Mặt cắt ở khu vực
Châu Thới gồm 3 tập:
Tập 1: Cuội kết cơ sở phủ không chỉnh hợp lên hệ tầng Châu Thới với thế
nằm thoải; cuội có thành phần đa khoáng gồm granit biotit, ryolit, thạch anh, bột
kết bị biến chất, đá phiến mica. Xi măng gắn kết là cát bột kết tuff, phần trên có
xen các lớp mỏng cát kết, bột kết chứa nhiều hóa thạch. Bề dày khoảng 25m.
Tập 2: Thành phần gồm cát sạn kết tuff, cát kết, cát bột kết dạng dải có vảy
mica, xen kẹp các lớp mỏng sỏi kết. Trong cát bột kết có di tích thực vật; cát sạn
kết tuf thành phần gồm fenspat, thạch anh, vụn silic; cát bột kết có thành phần đá
phun trào. Bề dày tập này khoảng 30m.
mđ)
Hệ tầng được xác định ở khu vực thượng nguồn sông Mã Đà. Thành phần
chủ yếu gồm các tập đá phiến sét xen bột kết, sét bột kết chứa nhiều vật chất hữu
cơ; đá có màu xám đen, phân lớp trung bình đến dày bị ép phiến mạnh. Các đá
cắm dốc về phía đông.
Theo mặt cắt lỗ khoan TU8 ngược sông Mã Đà về phía đông gồm các tập đá
phiến sericit xen bột kết màu xám đen chứa nhiều thực vật hữu cơ. Các tập đá bị
ép phiến mạnh, nứt nẻ nhiều.
Bề dày chung của hệ tầng khoảng 400m.
- Thống trung, hệ tầng Chiu Riu (J
2
cr)
Các trầm tích trên chỉ lộ ra một ít ở đồi nhỏ nằm cạnh núi Châu Thới về phía
Tây Nam và gặp trong một số lỗ khoan: TU6, TU9B, TU11, 602 và 605.
Hệ tầng Chiu Riu chỉ gặp trong một số lỗ khoan nên chưa thấy được phần
dưới và chỉ gặp các đá cát kết, cát bột kết màu xám lục xen bột kết, sét kết, sét bột
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 18 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
kết màu tím đỏ, đỏ gụ, phân lớp trung bình đến dày. Các đá này bị phủ bởi các
trầm tích Neogen - Đệ Tứ. Bề dày chưa xác định.
- Hệ Jura, thống thượng - hệ Creta, thống hạ hệ tầng Long Bình (J
3
- K
1
lb)
Hệ tầng được xác lập trên cơ sở nghiên cứu các đá phun trào và trầm tích
phun trào lộ ra tại khu vực đồi Long Bình, Thủ Đức và lỗ khoan 818.
Các đá của hệ tầng chủ yếu lộ ra ở khu vực đồi Hóa An với diện tích gần
2
bm). Bề dày của hệ tầng này thay đổi từ 5 ÷ 10m (phía Đông,
Đông Bắc) đến 35 ÷ 40m (Phía Tây, Tây Nam).
- Thống Pliocen, phụ thống trung, hệ tầng Bà Miêu (N
2
2
bm)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 19 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
Lộ ra khá rộng rãi trên mặt các dải đồi gò phân bố ở khu vực Phú Giáo, bắc
Đất Cuốc, Tân Thành lên Phước Vĩnh, dọc bờ phải sông Bé, bở trái suối Cái và ở
khu vực Bến Cát. Dưới sâu bắt gặp ở các độ sâu khác nhau.
Tại Thuận An chúng được bắt gặp trong các lỗ khoan ở các độ sâu : 82,0 ÷
102,5m (QTBD4A); 34,0 ÷ 69,0m (QTBD5A); Thành phần thạch học gồm hai
phần :
Phần trên: Sét, sét bột màu xám trắng đến xám xanh, nâu vàng nâu đỏ.
Phần dưới: Cát, cát bột lẫn cuội sạn thạch anh màu nâu vàng, xám trắng.
Theo đặc điểm thạch học, cấu trúc và cổ sinh thì các thành tạo có kiểu châu
thổ nội địa chủ yếu nguồn gốc sông; phần trên có thể có cả nguồn gốc hồ tạo ra tập
sét khá ổn định. Bề dày có sự thay đổi từ mỏng đến dày theo hướng từ đông sang
tây và từ bắc xuống nam, trung bình từ 6 ÷ 8m đến 30 ÷ 40m. 2. Hệ Đệ Tứ
Các trầm tích này phát triển rộng rãi trong vùng, chúng đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành bề mặt địa hình đồng bằng cao, các bậc thềm và bãi
bồi như ngày nay.
Theo các tài liệu trước đây, các trầm tích Đệ Tứ trong vùng bao gồm các đất
đá thuộc hệ tầng Đất Cuốc (Q
chứa nước tốt. Tập dày 21,5m.
Tập 2: Dưới là bột cát, lên trên là sét màu xám trắng, phớt xanh, lên trên vàng
loang lổ có kết vón laterit, không chứa nước. Tập dày 10,3m.
Theo đặc điểm thạch học, kiểu cấu tạo mặt cắt và cổ sinh cho thấy các trầm
tích hệ tầng Đất Cuốc có nguồn gốc sông thuộc thềm sông, chúng nằm phủ lên bề
mặt bào mòn của hệ tầng Bà Miêu.
- Thống Pleistocen, phụ thống trung - thượng, hệ tầng Thủ Đức (Q
1
2-3
tđ)
Lộ ra trên bề mặt địa hình, kéo dài thành dải ở khu vực Long Tân (Dầu Tiếng)
qua An Điền (Bến Cát) xuống Thủ Dầu Một tạo nên bề mặt khá bằng phẳng ở độ
cao 20 ÷ 30m.
Thành phần thạch học phía dưới là cát cuội sỏi đa khoáng, trong đó chủ yếu
là thạch anh, chứa nước tốt; phía trên chủ yếu là cát sạn, cát bột chứa Kaolin. Tại
lỗ khoan TU1B từ dưới lên gồm hai tập:
Tập1 (2,8 ÷ 7,2m): Gồm cát bột chứa ít sạn sỏi màu xám trắng, xám xanh đến
nâu đỏ loang lổ, gắn kết yếu; cát sạn chủ yếu là thạch anh. Tập dày 4,4m phủ lên
trên lớp sét loang lổ của hệ tầng Đất Cuốc.
Tập 2 (0,0 ÷ 2,8m): Bột, bột sét, bột cát màu xám nâu, nâu vàng chứa ít mùn
thực vật; gắn kết hơi chặt, dẻo cứng. Tập dày 2,8m.
Theo đặc điểm thạch học, kiểu cấu trúc mặt cắt và cổ sinh cho thấy các trầm
tích hệ tầng Thủ Đức thuộc kiểu đồng bằng châu thổ có nguồn gốc sông là chính,
đôi nơi hỗn hợp sông - biển, về phía nam càng thể hiện rõ yếu tố sông - biển. Bề
mặt địa hình trầm tích của hệ tầng có độ cao 20 ÷ 30m.
Nhìn chung trầm tích của hệ tầng có chiều dày nhỏ, thay đổi từ 4 -30m. Càng
về phía tây giáp sông Sài Gòn, bề dày của hệ tầng tăng dần và bị phủ bởi các trầm
tích của hệ tầng Củ Chi.
- Thống Pleistocen, phụ thống thượng, hệ tầng Củ Chi (Q
1
Chúng phân bố rộng rãi, chiếm diện tích nhỏ trong vùng, có dạng đẳng thước
hoặc kéo dài với diện tích từ 0,1 đến 1,0km
2
hoặc tạo nên các thấu kính mỏng, hẹp
nằm ở phía trong bãi bồi hiện đại của các sông Thị Tính, Sài Gòn và Đồng Nai.
Thành phần trầm tích gồm bùn sét lẫn di tích thực vật, bột cát xen kẹp thấu
kính bùn sét, các trầm tích thường có màu xám đen, gắn kết yếu, có nơi thực vật
phân hủy tạo thành than bùn có giá trị như ở suối Đỉa (Tân Uyên). Bề dày hệ tầng
này thay đổi từ 1,2 đến 12m.
Tại khu vực Vĩnh Phú (Thuận An) bề dày của các trầm tích Holocen là 50,5m
(QTBD4A).
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 22 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
III.2. KIẾN TẠO
Thuận An vừa chịu ảnh hưởng kiến tạo của toàn khu vực tỉnh Bình Dương
thuộc phụ đới Biên Hòa, vừa chịu ảnh hưởng của khối nâng phía Đông Bắc thành
phố Hồ Chí Minh. Các hoạt động kiến tạo xảy ra trong vùng đã làm các đá có tuổi
trước Kainozoi đều bị nứt nẻ với các mức độ khác nhau, trong đó các đá trầm tích
và trầm tích phun trào bị nứt nẻ mạnh hơn các đá xâm nhập.
Trong vùng có 3 hệ thống đứt gãy chính: hệ thống đứt gãy Tây Bắc - Đông
Nam, hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc - Tây Nam và hệ thống đứt gãy
phương kinh tuyến. Hoạt động tân kiến tạo xảy ra trong vùng đã tạo nên những nét
cơ bản của địa hình hiện tại.
III.3. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT CỦA VÙNG
Lịch sử phát triển địa chất của khu vực gắn liền với lịch sử phát triển địa chất
của tỉnh Bình Dương nói riêng và của miền Đông Nam Bộ nói chung.
Giai đoạn Pecmi :
Kể từ giai đoạn Pecmi khu vực này nằm trong vùng biển ấm nên san hô phát
triển mạnh. Vì vậy mà thành phần thạch học chủ yếu là đá vôi.
phản ảnh trên địa hình là bề mặt bazan dạng vòm thoải. Ở khu vực phía Tây vẫn
còn thấp nên trầm tích các hệ tầng Đất Cuốc, hệ tầng Thủ Đức, hệ tầng Củ Chi.
Sau đó hoạt động kiến tạo làm vùng này nâng cao lên, một thời kì phong hoá bao
trùm lên cả diện tích khu vực.
Sang Holocen đợt biển tiến cuối cùng phủ lên địa hình thấp ở phía Tây Nam
hình thành các trầm tích gồm các tướng biển, vũng vịnh, biển ven bờ, hỗn hợp
sông và biển. Sau đó biển từ từ rút ra theo hướng Cần Giờ, dọc theo các thung lũng
sông cổ và các bãi lầy ven biển hình thành các trầm tích có thành phần chủ yếu là
sét màu xám xanh, xám nâu, phần phủ trên là than bùn. Dọc theo thung lũng sông
hình thành các trầm tích lòng sông thành phần chủ yếu là cát sạn, cảnh quan lúc
này là những thảm thực vật mặn và bán mặn nằm dọc theo các con sông đổ ra biển.
Các hoạt động trong giai đoạn đệ tứ đã tạo nên các hệ tầng trầm tích ở đây
theo cấu trúc cắt chéo : trên khu vực đồng bằng cao phân bố các trầm tích
Pleistocen, các hệ tầng trầm tích biểu hiện trên địa hình bỡi các bậc thềm gối nhau
có độ cao giảm dần từ Đông Bắc đến Tây Nam. Trên diện tích đồng bằng thấp
phân bố các trầm tích Holocen, các hệ tầng trầm tích phủ chồng lên nhau theo cấu
trúc phân tầng.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 24 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS NGUYỄN PHÁT MINH
SVTH: PHẠM HOÀNG NHÂN - 25 - NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
CHƯƠNG IV
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN KHU VỰC
IV.1. CÁC TIÊU CHÍ PHÂN CHIA TẦNG CHỨA NƯỚC
2
1
)
- Tầng chứa nước khe nứt trong các đá Jura dưới - giữa (j
1-2
)
1. Tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Holocen (q
2
)
Trong khu vực chúng phân bố chủ yếu ở phía Tây Nam dọc theo thung lũng
sông Sài Gòn dưới dạng dải hoặc thấu kính. Trong lỗ khoan QTBD4A ở Vĩnh Phú