dự án “tăng cường năng lực theo dõi và đánh giá dự án việt nam – ôxtrâylia” – giai đoạn ii cẩm nang theo dõi và đánh giá – môđun v – các phương pháp theo dõi và đánh giá ở việt nam - Pdf 14


D Ự ÁN “TĂ NG CƯỜNG NĂ NG LỰ C
THEO DÕI VÀ Đ ÁNH GIÁ DỰ ÁN VIỆ T
NAM – ÔXTRÂYLIA” - GIAI Đ O Ạ N II
(VAMESP II) Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá
Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh
giá ở Việt Nam

Do VAMESP II soạn thảo theo yêu cầu của
Vụ Kinh tế Đối ngoại/Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Số 2 Hoàng Văn Thụ
HÀ NỘI, VIỆT NAM
Hà Nội, Tháng 8/2005

Lưu hành nội bộ Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam i

Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam ii
Bảng 7 Ví dụ phân tích SWOT cho một dự án tái trồng rừng đước 19
Bảng 8 Ví dụ mẫu nghiên cứu tình huống 22
Bảng 9 Biểu ma trận GAS 27
Bảng 10 Ví dụ về đầu ra của phân tích GAS 28
Bảng 11 Ví dụ khung lôgíc của một dự án 29
Bảng 12 Định nghĩa các thuật ngữ trong khung lôgíc 30 CẨM
NANG THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ Ở VIỆT NAM
Môđun I – Danh mục thuật ngữ theo dõi và đánh giá được sử dụng ở Việt Nam
Môđun II – Giới thiệu về Theo dõi và Đánh giá
Môđun III – Thực hành theo dõi
Môđun IV – Thực hành đánh giá
Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam
Môđun VI – Các công cụ theo dõi và đánh giá ở Việt Nam
Môđun VII – Tài liệu đào tạo theo dõi và đánh giá ở Việt Nam
Môđun VIII – Các công cụ theo dõi và đánh giá ở Việt Nam Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam iii
Danh mục từ viết tắt
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
AMC Nhà thẩu Quản lý Ôxtrâylia
AP Kế hoạch hàng năm
APD Giám đốc Dự án Ôxtrâylia
ATL Cố vấn trưởng Ôxtrâylia

PMU Ban Quản lý dự án (dự án tài trợ bằng nguồn vốn ODA)
QA Đảm bảo chất lượng
RBM Quản lý gắn với kết quả
SMT Công cụ theo dõi đơn giản
TA Hỗ trợ Kỹ thuậ
t
TAG Nhóm Cố vấn Kỹ thuật
TWG Nhóm Công tác Kỹ thuật
UN Liên hiệp quốc
VAMESP Dự án tăng cường năng lực theo dõi và đánh giá dự án Việt Nam –
Ôxtrâylia - Giai đoạn I
VAMESP II Dự án tăng cường năng lực theo dõi và đánh giá dự án Việt Nam –
Ôxtrâylia - Giai đoạn II
VAWRMAP Dự án hỗ trợ quản lý nguồn nước Việt Nam – Ôxtrâylia
WB Ngân hàng Thế giới Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 4
1 Giới thiệu
1.1 Giới thiệu
Môđun này là sản phẩm của Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án
Việt Nam – Ôxtrâylia” - Giai đoạn II. Đây là một phần trong Cẩm nang Theo dõi và Đánh
giá dự án ODA ở Việt Nam.

1.2 Mục đích
Môđun này nêu ra các phương pháp có thể sử dụng để thu thập dữ liệu theo dõi và đánh
giá chương trình, dự án ODA ở Việt Nam, trong đó thừa nhận các mục tiêu chiến lược
quốc gia về sử dụng nguồn vốn ODA đã được nêu ra trong các tài liệu sau:
• Chiến lược phát triển kinh tế và xã hội 10 năm

Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 5
2 Quan sát trực tiếp
Mục đích:
Để thu được những thông tin hữu ích và kịp thời bằng cách quan sát công việc mọi người
làm, giúp đưa ra các quyết định cải thiện tình hình thực hiện một dự án hay để có được
những nhìn nhận sâu sắc và những phát hiện có thể sử dụng như những giả thiết cho các
nghiên cứu sâu hơn. Từ góc độ TD&ĐG, phương pháp này rất quan trọng bổ trợ cho các
dữ liệu thu thập được, có thể sử dụng để hiểu được bối cảnh thu thập thông tin và có thể
giúp giải thích kết quả.

Tiến hành quan sát trực tiếp như thế nào:
• Thống nhất về một khung khái niệm rõ ràng, cũng như hướng dẫn những gì cần được
quan sát và thông tin cần thu thập.
• Lựa chọn một hay một nhóm quan sát viên phù hợp
Các thành viên của cộng đồng và cán bộ dự án, những người sống và làm việc
thường xuyên tại khu vực dự án (ví dụ, “những người cung cấp thông tin quan
trọng”) [Tham khảo Bảng 1].
 Bảng 1: Những quan sát viên này cần được đào tạo về kỹ năng quan sát
 Những người ngoài cộng đồng có cơ hội tham gia các cuộc quan sát đã được bố
trí trong các chuyến thực địa. Lưu ý rằng những người ngoài cộng đồng có thể
cần thêm nhiều thời gian để biết được cái gì là quan trọng. Mặt khác, đôi khi họ
nhận thấy được những vấn đề quan trọng mà người địa phương không còn thấy
hoặc cho là hiển nhiên.
• Thu thập và ghi lại những dữ liệu như đã thống nhất. Thu xếp thời gian để thảo luận
những quan sát đã được ghi lại, không chỉ với cán bộ dự án và đối tác thực hiện, mà
cũng có thể với cả những bên liên quan chính.

huống quan sát cản trở tính khách quan của quan sát viên. Những sai lệch này không
bao có thể giờ loại bỏ được hoàn toàn. Vì thế, quan sát trực tiếp là một phương pháp
TD&ĐG có hệ thống chỉ nên bổ trợ cho các phương pháp khác. Yêu cầu một số
người tiến hành quan sát theo cùng một cách thức có thể giúp khẳng định những quan
sát hoặc chỉ ra những chênh lệch và do đó tăng chất lượng của dữ liệu Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 7
3 Nhóm trọng tâm
Mục đích:
Sử dụng thảo luận nhóm để thu thập thông tin, làm rõ các chi tiết hoặc thu thập các ý
kiến về một vấn đề từ một nhóm nhỏ những người được lựa chọn đại diện cho các quan
điểm khác nhau. Phương pháp này cũng có thể được sử dụng để xây dựng sự nhất trí.
Đối với TD&ĐG, các nhóm trọng tâm rất tốt cho đánh giá những ý kiến về thay đổi,
đánh giá chất lượng của nhà cung cấp dịch vụ cho dự án, và chỉ ra các lĩnh vực để cải
tiến.

Tiến hành nhóm trọng tâm như thế nào:
• Xác định số thành viên tham gia (4-8 người là lý tưởng). Phụ thuộc vào mục đích của
bạn, bạn có thể làm việc với một nhóm đồng nhất hoặc không đồng nhất. Cách khác
là sử dụng một số nhóm trọng tâm, mỗi nhóm tương đối đồng nhất nhưng các nhóm
phải khác nhau. Điều này cho phép có được những so sánh thú vị.
• Đưa ra cho nhóm một câu hỏi rộng (ví dụ, “Theo bạn, một can thiệp cụ thể có tác
động gì đến việc sử dụng đất bền vững?).
• Thảo luận câu hỏi này trong khoảng thời gian đã thống nhất từ trước, tối đa từ 1-2
giờ. Người điều hành cuộc thảo luận nên giảm thiểu sự can thiệp của mình, chỉ nên
đảm bảo cho tất cả mọi người đều phát biểu. Bạn có thể cần nhắc lại câu hỏi với
những từ khác nhau hoặc tìm hiểu xem liệu có gì đó không rõ.
• Ghi lại chi tiết cuộc thảo luận. Nhóm trọng tâm tốt nhất nên được điều hành bởi hai

• Ghi chép lại cuộc thảo luận bằng máy ghi âm hoặc ghi hình có ghi chú bổ sung

Hướng dẫn các thành viên tham gia:
• Các thành viên tham gia phải nói rõ ràng, từng người một
• Ý kiến của tất cả mọi người đều được hoan nghênh, không có ý kiến hay quan điểm
nào là sai hay đúng cả
• Các thành viên cần mạnh dạn đối với những lý lẽ thuyết phục của mình.

Vai trò của người điều hành:
• Điều hành nhưng không làm chủ cuộc thảo luận
• Giới thiệu các vấn đề mới để thảo luận
• Theo dõi việc tham gia và sự trao đổi qua lại của các thành viên, khuyến khích các
thành viên tích cực tham gia
• Duy trì sự thảo luận liên tục, hướng vào trọng tâm nhưng cho phép sự linh hoạt.

Vai trò của người ghi chép:
• Duy trì việc ghi lại những thông tin liên quan tới nhóm trọng tâm, bao gồm: ngày,
giờ và địa điểm tổ chức, số lượng và mô tả về thành viên tham gia, các vấn đề chính
được đề cập, chi tiết về động lực thảo luận của nhóm.
• Hỗ trợ người điều hành.

XỬ LÝ DỮ LIỆU THU ĐƯỢC TỪ NHÓM TRỌNG TÂM

Thu thập dữ liệu:
Tối thiểu dữ liệu phải được thu thập qua ghi chép hoặc ghi âm. Nếu ghi trên giấy thì tốt
nhất là sử dụng giấy khổ to để cả nhóm có thể kiểm tra nội dung bản tóm tắt các ý kiến
của họ. Cho dù sử dụng cách nào thì ngay sau khi nhóm trọng tâm thảo luận xong phải
chuyển nội dung ghi âm hoặc những ghi chép thành văn bản đầy đủ, cùng với bất kỳ
những quan sát chung nào mà bạn đã thấy.


mang tính định tính. Vì những cuộc phỏng vấn có tính mở (mặc dù được hướng dẫn) nên
rất hữu ích đối với việc đánh giá, ví dụ, những tác động ngoài dự kiến (tích cực & tiêu
cực), những ý kiến về tính phù hợp và chất lượng của dịch vụ và sản phẩm, v.v.

Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc như thế nào:
• Xác định mục đích và nhu cầu thông tin cần tìm hiểu để xây dựng một danh sách câu
hỏi mở cho phỏng vấn. Các câu hỏi cần thiết kế để những người được hỏi có thể bày
tỏ ý kiến của họ qua cuộc thảo luận. Trật tự lô-gíc của các câu hỏi sẽ hỗ trợ quá trình
thảo luận [Tham khảo các Bảng câu hỏi và Điều tra về cách hành văn hiệu quả trong
các câu hỏi].
• Thống nhất đối tượng sẽ được phỏng vấn, số người cần phỏng vấn và tiến hành
phỏng vấn riêng lẻ với từng cá nhân hay với cả nhóm.
• Tập hợp và đào tạo một nhóm, đảm bảo họ hiểu được mục đích và phát triển những
kỹ năng phù hợp (làm thế nào để khuyến khích thảo luận, ghi chép những thông tin
chính xác và hữu ích.v.v). Cách tốt nhất tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc là có 2
người, một người thực hiện phỏng vấn và người kia ghi chép thông tin. Tuy nhiên
cách này có thể không khả thi. Bạn có thể thử ghi âm cuộc phỏng vấn nhưng cách
này tạo cảm giác rất ức chế và việc viết lại các thông tin sau đó sẽ vô cùng tốn thời
gian .
• Kiểm tra thử trước các câu hỏi phỏng vấn để đảm bảo phù hợp, chính xác và những
câu trả lời sẽ cho phép có được sự phân tích hữu ích.
• Nếu bạn tiến hành phỏng vấn theo nhóm và có hơn một người phỏng vấn, có lẽ sẽ
hữu ích nếu ngay sau cuộc phỏng vấn có một cuộc thảo luận nội bộ ngắn gọn về động
lực của cuộc phỏng vấn, đánh giá tính hợp lệ của các câu trả lời và quyết định xem có
cần điều chỉnh phỏng vấn không.
• Phân tích thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn [Xem bảng 2].


• Thông tin mở khó hơn và tốn thời gian hơn để có thể tổng hợp tốt nhằm thu được
những kết quả rõ ràng. Khó có thể giữ cho các cuộc phỏng vấn được tập trung, do đó
khó có thể so sánh một cách đúng đắn các cuộc phỏng vấn khác nhau. Ghi chép chính
xác đóng vai trò đặc biệt quan trọng để có thể diễn giải đúng đắn.
• Dành thời gian và tiền để đào tạo các nhân viên làm nhiệm vụ phỏng vấn bán cấu
trúc. Đào tạo cần đề cập tới việc chuẩn bị nhóm, bối cảnh phỏng vấn, nghe và hỏi
một cách tế nhị, đánh giá các câu trả lời, ghi chép phỏng vấn và tự xem xét một cách
nghiêm túc.
• Phỏng vấn nhóm cần chú ý hơn về chi tiết, ví dụ như việc sử dụng ngôn từ đơn giản
và tránh các thuật ngữ hoặc thành ngữ để đảm bảo những người biết ít nhất trong
nhóm vẫn có thể hiểu được các câu hỏi. Cân nhắc trước những vấn đề nhậy cảm về
chính trị hoặc văn hoá vì có thể gây phản ứng mạnh dẫn tới mẫu thuẫn trong nội bộ
nhóm. Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 12
5 Chọn mẫu ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên
Một cuộc tổng điều tra thường không thể thu thập dữ liệu từ toàn bộ tổng thể như mong
muốn nghiên cứu do nhóm có thể quá lớn hoặc thời gian, nguồn lực và ngân quĩ quá hạn
hẹp để tiến hành một cuộc tổng điều tra. Trong các trường hợp này, cần lựa chọn một
mẫu càng điển hình cho toàn bộ tổng thể càng tốt nhằm đưa ra kết luận về đặc điểm của
toàn bộ tổng thể.

Vì thế, cần có một số công cụ thống kê để xác định tính đại diện trong dữ liệu, và từ đó
xác định mức độ tin cậy của những thông tin rút ra từ nghiên cứu của bạn. Việc chọn
mẫu ra sao sẽ ảnh hưởng tới chất lượng kết quả cuối cùng của nghiên cứu TD&ĐG. Nếu
phương pháp lấy mẫu mang định kiến cá nhân hoặc mẫu quá nhỏ thì kết quả TD&ĐG sẽ
ít tin cậy hơn và thậm chí có thể không hợp lệ.


chọn được xác định rõ ràng hơn, sử dụng các danh mục (hoặc tương tự) như là khung lấy
mẫu và cho phép ước lượng sai số mẫu. Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 13
Lấy mẫu không ngẫu nhiên thường ít chính thống hơn, liên quan tới thu thập và phân tích
dữ liệu định tính và việc lấy mẫu từ tổng thể có chủ ý và trọng tâm hơn. Cả hai phương
pháp đều có một số rủi ro về định kiến cá nhân, mặc dù những câu trả lời có thể đáng tin
cậy cho mục đích. Rủi ro về định kiến cá nhân là một tính năng khác biệt chính giữa 2
phương pháp. Trong lấy mẫu ngẫu nhiên, rủi ro được biết trước và có thể hạn chế tối đa -
miễn là có sẵn nguồn lực. Nhưng với phương pháp lấy mẫu không ngẫu nhiên, rủi ro về
định kiến cá nhân thường lớn hơn và khó đánh giá hơn.

5.1 Chọn mẫu ngẫu nhiên
Mục đích:
Chọn mẫu mà không biết trước hoặc không quan tâm đến các đặc tính cụ thể của tổng
thể mà có thể đại diện cho các bên liên quan chính chịu ảnh hưởng của dự án. Từ góc độ
theo dõi và đánh giá, rất cần mẫu này để hướng dẫn cách sử dụng các phương pháp thu
thập thông tin.

Chọn mẫu ngẫu nhiên như thế nào:
• Trước hết xác định, đặt tên hoặc đánh số cho tất cả các phần tử của tổng thể mà bạn
muốn chọn mẫu (ví dụ: các làng, các ngôi nhà, các cá nhân, các gia đình) làm sao
đảm bảo tất cả các phần tử đều có cơ hội như nhau được chọn vào mẫu. Việc này gọi
là xây dựng khung chọn mẫu.
• Xác định ai sẽ được phỏng vấn, có bao nhiêu người thuộc mẫu và phỏng vấn cá nhân
hay với nhóm.
• Tập hợp và đào tạo một nhóm người, đảm bảo họ hiểu được mục đích chọn mẫu và
phát triển được những kỹ năng phù hợp (làm thế nào khuyến khích thảo luận, ghi

f) Dựa trên danh mục các điểm đã xây dựng trong bước (b) ở trên, đánh số các điểm chính. Qua hệ thống
mã hoá này, lập thứ tự ưu tiên, tóm tắt và sau đó phân tích thông tin.

Gợi ý cho sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc:
• Phỏng vấn bán cấu trúc có thể dễ dàng kết hợp sử dụng với một phương pháp khác.
Có thể đi cùng với những người nông dân và tiến hành phỏng vấn. Rất nhiều phương
pháp nhóm trực quan mang lại hiệu quả tốt nhất nếu được thực hiện theo kiểu phỏng
vấn bán cấu trúc. Phỏng vấn bán cấu trúc có thể dễ dàng nắm bắt những hiểu biết sâu
hơn mà không thể có được từ bảng câu hỏi cấu trúc. Một điều thú vị là những chủ đề
không dự đoán trước cũng có thể xuất hiện trong phương pháp phỏng vấn kiểu này.
Tuy nhiên, những thông tin như thế có thể không đủ chi tiết để phân tích thống kê.
Khi cần phân tích kiểu như vậy nên sử dụng bảng câu hỏi điều tra.
• Thông tin mở khó hơn và tốn thời gian hơn để có thể tổng hợp tốt nhằm thu được
những kết quả rõ ràng. Khó có thể giữ cho các cuộc phỏng vấn được tập trung, do đó
khó có thể so sánh một cách đúng đắn các cuộc phỏng vấn khác nhau. Ghi chép chính
xác đóng vai trò đặc biệt quan trọng để có thể diễn giải đúng đắn.
• Dành thời gian và tiền để đào tạo các nhân viên làm nhiệm vụ phỏng vấn bán cấu
trúc. Đào tạo cần đề cập tới việc chuẩn bị nhóm, bối cảnh phỏng vấn, nghe và hỏi
một cách tế nhị, đánh giá các câu trả lời, ghi chép phỏng vấn và tự xem xét một cách
nghiêm túc.
• Phỏng vấn nhóm cần chú ý hơn về chi tiết, ví dụ như việc sử dụng ngôn từ đơn giản
và tránh các thuật ngữ hoặc thành ngữ để đảm bảo những người biết ít nhất trong
nhóm vẫn có thể hiểu được các câu hỏi. Cân nhắc trước những vấn đề nhậy cảm về
chính trị hoặc văn hoá vì có thể gây phản ứng mạnh dẫn tới mẫu thuẫn trong nội bộ
nhóm.

5.2 Chọn mẫu không ngẫu nhiên
Mục đích:
Xác định rõ, chính xác mẫu gồm các đối tượng nào dựa vào ý kiến chủ quan của người
chọn. Khi không thể chọn mẫu ngẫu nhiên, có thể chọn phương pháp lấy mẫu không

gia tín dụng và các nhà khoa học nông nghiệp)
• Các cán bộ chính phủ , như cán bộ khuyến nông và y tế
• Lãnh đạo địa phương; như già làng, trưởng bản
• Những người có hiểu biết; như người bán hàng, quản lý thị trường
• Sau đó lựa chọn những đối tượng thích hợp nhất với các câu hỏi đã chuẩn bị và có thể chọn thêm
người cung cấp thông tin nếu thấy cần trong quá trình phỏng vấn

2. Chọn mẫu có giới hạn - hữu ích khi so sánh và tách một khía cạnh cụ thể nào đó để
TD&ĐG. Chọn mẫu có giới hạn bao gồm việc lựa chọn một số cố định và xác định trước
các phần tử mang một đặc tính tiêu biểu, sau đó so sánh với cùng một số lượng phần tử
như vậy nhưng không mang đặc tính tiêu biểu đó. Ví dụ: để nghiên cứu phúc lợi, có thể
so sánh một nhóm dân làng có các kỹ năng tự giới thiệu tốt với một nhóm dân làng khác
yếu về các kỹ năng này.

Gợi ý khi sử dụng chọn mẫu không ngẫu nhiên:
• Chọn mẫu không ngẫu nhiên thường hữu ích hơn khi sử dụng cho công tác theo dõi
và đánh giá có quy mô nhỏ và như vậy sẽ nhanh hơn. Tuy nhiên, chọn mẫu không
ngẫu nhiên có thể không đại điện đầy đủ cho những câu trả lời cần tìm kiếm vì nó
được xác định trước và do vậy tiềm ẩn thành kiến trong thông tin. Đó là bởi vì không
thể đưa ra con số ước tính về sai sót mẫu. Với những lựa chọn trên, chọn mẫu theo
nhóm có thể rẻ hơn và thực hiện dễ hơn với đào tạo tối thiểu.
Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 16
6 Bảng câu hỏi và điều tra
Mục đích:
Để thu thập dữ liệu từ nhiều người bằng các câu hỏi cụ thể có cấu trúc và thường theo
cách cho phép phân tích thống kê. Từ góc độ TD&ĐG, bảng câu hỏi và điều tra tạo cơ sở

phỏng vấn trực tiếp từng cá nhân…) Nếu phỏng vấn trực tiếp, tập huấn cho những
người làm công tác phỏng vấn để chắc chắn rằng họ hiểu được mục đích và có kỹ
năng đặt câu hỏi theo cách có thể giảm thiểu định kiến cá nhân.
• Kiểm tra thử trước các câu hỏi phỏng vấn để đảm bảo những câu hỏi đó phù hợp và
chính xác đồng thời cho ta những thông tin cần thiết.
• Thu thập và phân tích thông tin thu thập được. Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 17
Bảng 5 Ví dụ so sánh câu hỏi đóng và câu hỏi mở
Câu hỏi đóng
(Người được hỏi chỉ trả lời là “Có”
hoặc “Không”, vì vậy cho ít thông
tin hữu ích)
Câu hỏi mở và có trọng tâm
(Sử dụng một loạt các câu hỏi cung cấp nhiều
thông tin hữu ích và cụ thể hơn)
Anh/chị trồng lương thực có đủ cho nhu
cầu của gia đình mình không?
Loại cây lương thực chủ đạo anh chị trồng là gì?
Anh chị có đủ lương thực cho gia đình mình ăn ngày hôm
nay/tuần này không?
Nhà anh chị thiếu lương thực bao nhiêu tháng trong một
năm?
Anh chị xoay sở như thế nào để giải quyết việc trồng không
đủ lương thực?
Anh/chị đưa con đến khám tại cơ sở y tế
cho bà mẹ và trẻ em thường xuyên như
thế nào?

• Kể cả các bảng câu hỏi và điều tra mà các câu trả lời phải nằm trong các lựa chọn
nhất định hoặc mẫu biểu nhất định thì cũng không thể tránh được sự biến thiên của
các câu trả lời. Vì thế, hãy lưu ý vì có thể bỏ sót những chi tiết quan trọng và tính đa
dạng của các câu hỏi.
• Có thể sử dụng các bảng câu hỏi và điều tra cho từng cá nhân hoặc thậm chí cho các
nhóm tình huống. Tuy nhiên, các câu hỏi cho nhóm tình huống có thể cần tập trung ít
hơn vào các vấn đề cá nhân (ví dụ, biện pháp tránh thai hay vay nợ) và tập trung hơn
vào các ý kiến tập thể (ví dụ, “Những điểm mạnh và yếu điểm của các loại giếng
nước là gì?”). Các bản câu hỏi và điều tra theo nhóm hiệu quả nhất khi các thành
viên quen với cách làm việc cùng nhau và có thể tin cậy lẫn nhau, cũng như với
người phỏng vấn. Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 18
7 Phân tích SWOT
Mục đích:
Để xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ liên quan tới một dự án hoặc
một nhóm và đánh giá đó sẽ thay đổi như thế nào theo thời gian. Từ góc độ TD&ĐG,
phương pháp này hữu ích khi đánh giá định tính, ví dụ , các dịch vụ mà dự án cung cấp,
mối quan hệ giữa các bên liên quan và các tổ chức của các đối tác thực hiện, các nhóm
địa phương và bản thân nhóm dự án

Tiến hành phân tích SWOT như thế nào:
• Nhóm xác định, thảo luận và ghi chép càng nhiều yếu tố càng tốt cho từng đầu mục
[Xem Bảng 6]. Xin nhấn mạnh rằng các điểm mạnh và điểm yếu là nói tới các khía
cạnh nội bộ của nhóm, địa điểm của dự án hoặc hoạt động. Cơ hội và nguy cơ có thể
nhìn nhận dưới góc độ các yếu tố nội bộ có ảnh hưởng tới các cơ hội và nguy cơ này.
Bảng 6 Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội và Nguy cơ là gì?
Điểm mạnh Những yếu tố hoạt động tốt trong một dự án hoặc một tình huống. Những khía
Bảng 7 Ví dụ phân tích SWOT cho một dự án tái trồng rừng đước
Điểm mạnh
- Chúng ta có một đội thanh niên sẵn sãng
làm công tác tái trồng rừng
- Rico có rất nhiều đoạn tre có thể dùng làm
cọc
Điểm yếu
- Chúng ta không biết trồng cây như thế
nào.
- Chúng ta không có nguồn tài chính cho dự
án.
- Hầu hết các thành viên của cộng động
quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động của
riêng họ.
Cơ hội
- Chúng ta không cần mua cây giống vì
chúng ta có thể đi thu lượm chúng mà
không mất tiền.
- Chúng ta có ao cá bỏ không mà chúng ta
có thể dùng cho dự án.
- Ngài thị trưởng mới được bầu ủng hộ các
dự án về môi trường
- Trường đại học có người biết về tái trồng
rừng đước
- Một tổ chức phi chính phủ cung cấp hỗ trợ
sinh kế cho khu vực
Nguy cơ
- Những người quản lý ao cá muốn chặt

xã hội để tìm một nhóm thích hợp các hộ dân tham gia nghiên cứu tình huống.
• Quyết định cách lấy thông tin. Nếu đang tiến hành một nghiên cứu tình huống về hộ
gia đình, có thế phỏng vấn một số thành viên gia đình và sau đó hình thành một
nghiên cứu về những gì họ trả lời, trong đó nêu bật những điểm tương đồng và khác
biệt. Nếu muốn viết một nghiên cứu tình huống về một tổ chức nào, suy ngh
ĩ
xem
cần phỏng vấn ai để thu được một tổng quan tốt. Nếu đang tiến hành nghiên cứu tình
huống về một địa phương, có thể không chỉ cần phỏng vấn mọi người mà cũng cần
phải thu thập những thông tin bổ sung về sinh học.
• Xây dựng danh sách các câu hỏi sẽ hướng dẫn việc thu thập thông tin. Nghiên cứu
tình huống liên quan một bản kê khai những quan sát và những câu trả lời. Cần phải
chú ý lựa chọn người phỏng vấn/ghi chép giỏi, người đó có thể là ở bên ngoài hoặc
thuộc cộng đồng đó. Trong các quá trình có sự tham gia nhiều hơn, việc nghiên cứu
được tiến hành bởi (một nhóm) các cá nhân về chính họ hoặc về người kia, và có thể
với một nhóm đối chứng để so sánh.
• Nhắc lại những trao đổi với tần số vừa phải để có một bức tranh cập nhật về những
điều kiện đang thay đổi. Tần suất sẽ phụ thuộc vào tốc độ thay đổi của các vấn đề
quan tâm. Lĩnh vực có sự thay đổi nhanh nhất có thể cần theo sát thường xuyên hơn
những vấn đề có tốc độ thay đổi chậm. Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 21
Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 22
Bảng 8 Ví dụ mẫu nghiên cứu tình huống
Mẫu báo cáo đơn giản dưới đây được khuyến nghị để ghi chép lại các nghiên cứu tình huống
Đề mục Mô tả
Tiêu đề
Một tiêu đề đơn giản mô tả chủ đề - ví dụ, NGHIÊN CỨU TÌNH
HUỐNG - Sự tham gia của phụ nữ
Địa điểm
Mô tả đơn giản về xã, huyện, tỉnh, dự án…
Thông tin cơ sở
Mô tả tóm tắt thông tin cơ sở về (các) nhóm chủ đề và sự tham gia của
họ vào dự án. Mô tả mục đích của nghiên cứu tình huống, lý do tiến
hành, và mối liên hệ của nghiên cứu này với chiến lược và những kết
quả mong đợi của dự án. Nếu có thể, hãy đưa ra câu hỏi thực hiện phù
hợp và các chỉ số thực hiện .
Mô tả
Mô tả thông tin thu được trong giai đoạn thực hiện nghiên cứu tình
huống, và đưa ra những phân tích. Khi kỹ thuật kể chuyện được sử
dụng, viêt một bản tóm lược lô-gíc và súc tích về câu chuyện. Tránh sử
dụng tên riêng. Nếu tên người có thể cải thiện câu chuyện, hãy xem xét
việc sử dụng bút danh (biệt hiệu).

toàn bộ học viên. Bảng câu hỏi này vượt ra khỏi phạm vi tìm hiểu mức độ thích thú của
các học viên đối với đào tạo mà chuyển sang các câu hỏi về:
• Tính phù hợp của các mục tiêu.
• Khả năng duy trì sự quan tâm của khoá học.
• Số lượng và sự thích hợp của các bài tập trao đổi tích cực
• Dễ xem .
• Giá trị được cảm nhận và khả năng chuyển giao kiến thức đã học tại nơi làm việc.
Đối với đào tạo gắn với công nghệ, điều tra có thể được giao và hoàn thành ngay, và sau
đó được in ra hoặc e-mail tới người quản lý đào tạo. Vì quản lý loại đánh giá này rất dễ và
chi phí thấp nên nó thường được thực hiện ở hầu hết các tổ chức.
Cấ
p hai: Kết quả học tập
Cấp hai trong mô hình Kirkpatrick là đo lường kết quả học tập. Nói một cách khác, các
học viên đã thực sự học được kiến thức, kỹ năng và thái độ mà chương trình nhằm tới?
Để thể hiện kết quả đạt được, yêu cầu các học viên làm bài kiểm tra trước và sau khi đào
tạo, đảm bảo rằng các mục trong bài kiểm tra hoặc các câu hỏi phải thực sự
hướng vào
các mục đích học tập. Bằng việc tổng hợp điểm của tất cả các học viên, giáo viên đào tạo
có thể thấy chính xác tác động do đào tạo mang lại. Kiểu đánh giá này không được tiến
hành rộng rãi như Cấp một, nhưng vẫn rất phổ biến.
Cấp ba: Hành vi tại nơi làm việc
Các học viên thường đạt điểm cao trong các bài kiểm tra sau đào tạ
o, tuy nhiên câu hỏi
thực tế đặt ra là liệu có chút kiến thức và kỹ năng mới nào còn đọng lại và được chuyển
giao vào trong công việc hay không. Các đánh giá ở Cấp ba cố gắng trả lời liệu hành vi
của các học viên có thực sự thay đổi nhờ kết quả của việc học tập hay không.

Dự án “Tăng cường Năng lực Theo dõi và Đánh giá Dự án Việt Nam – Ôxtrâylia” – Giai đoạn II
Cẩm nang Theo dõi và Đánh giá – Môđun V – Các phương pháp theo dõi và đánh giá ở Việt Nam 24


ụn vặt cũng đáng để thu thập.
Dưới đây là một số chương trình đào tạo mẫu và loại dữ liệu về tác động của đào tạo lên
kết quả kinh doanh có thể đo lường.
• Đào tạo bán hàng. Đo lường sự thay đổi trong khối lượng bán, mức độ giữ
khách, độ dài của chu kỳ bán hàng, khả năng sinh lời đối với mỗi thương vụ sau
khi tiến hành đào tạo.
• Đào tạo kỹ thuật. Đo lường mức giảm trong số cuộc gọi tới bộ phận hỗ trợ,
lượng thời gian được rút ngắn để hoàn thành các báo cáo, mẫu biểu, hoặc nhiệm
vụ; hay cải thiện sử dụng chương trình phần mềm hoặc hệ thống.
• Đào tạo chất lượng. Đo lường mức giảm số khiếm khuyết.
• Đào tạo an toàn lao động. Đo lường mức giảm số tai nạn hoặc mức giảm độ
nghiêm trọng của các tai nạn
• Đào tạo Quản lý. Đo lường sự tăng lên trong mức độ trao đổi giao tiếp giữa lãnh
đạo và những người trực tiếp dưới quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status