nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở huyện như thanh - tỉnh thanh hoá - Pdf 14

Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Khoa kinh tế & ptnt
= = = = = = = =
ơ
luận văn tốt nghiệp
Đề tài:
Nõng cao vai trũ ca ngi dõn trong Chng trỡnh 135
huyn Nh Thanh - tnh Thanh Hoỏ
Giáo viên hớng dẫn
: Pgs.ts. quyền đình hà
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn văn dũng
Lớp
: Kt49b
Hà nội 2008
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Dũng
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã
được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân. Nhân đây
tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
UBND huyện, UBND xã Thanh kỳ, Xuân Thọ, Xuân Thái cùng tập thể
phòng Dân tộc huyện Như Thanh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong

KHKT Khoa học kỹ thuật
KT-XH Kinh tế xã hội
MTTQ Mặt trận tổ quốc
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia
SL Số lượng
LĐNN Lao động nông nghiệp
TDTT Thể dục thể thao
UBND Uỷ ban nhân dân
iv
DANH MC BNG, S
Bảng 3.1: Tình hình khí hậu thời tiết huyện Nh Thanh 2006.Error: Reference source
not found
Bng 3.2: Tỡnh hỡnh phõn b v s dng t ca huyn qua 3 nm .Error: Reference
source not found
Bảng 3.3: Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm Error: Reference
source not found
Bng 3.4: Kt qu sn xut nụng nghip ca huyn qua 3 nm Error: Reference
source not found
Bng 4.1: Kt phõn b vn ca hng mc thuc CT-135Error: Reference source not
found
Bng 4.2: T l ngi tham gia ca ngi dõn trong CT-135 Error: Reference
source not found
Bng 4.3: Kt qu o to v tp hun cỏn b c s Error: Reference source not
found
Bng 4.4: Mt s ch tiờu kinh t - xó hi ca 3 xó nghiờn cu Error: Reference
source not found
Bng 4.5: Ngi dõn tham gia lp k hoch v quy ch hot ng Error: Reference
source not found
Bng 4.6: Tng hp Chng trỡnh 135 thc hin ti ba xó Error: Reference source

đóng góp khoảng 24% tổng thu nhập quốc dân, 30% giá trị xuất khẩu.
Xuất phát từ vị trí chiến lược của nông thôn và miền núi, trong quá
trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương đẩy mạnh
CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông
nghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó trọng tâm là chăm lo đời sống của
người nông dân. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực huy động cho
sự phát triển của nông thôn và miền núi, như nguồn lực về vốn, phương tiện
vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là việc phát huy nguồn lực con người. Đối với
miền núi, Đảng và Nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều chương trình phát
triển KT-XH như: Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg về Phê duyệt chương
trình phát triển KT-XH các xã miền núi và vùng sâu, vùng xa; Nghị quyết số
37-NQ/TW về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc
phòng, an ninh vùng trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2010; việc triển khai
thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia như: chương trình xoá đói giảm
nghèo, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Những
quyết sách hết sức sáng suốt đó đã mở đường cho sự phát triển vượt bậc, khá
toàn diện của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam trong những năm qua, mà
nổi bật là sự tăng trưởng liên tục với nhịp độ cao về sản xuất lương thực và
xuất khẩu gạo. Thành tựu về phát triển nông nghiệp đã góp phần quan trọng
tạo nên thành tựu chung của công cuộc đổi mới, sự ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam.
1
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), thì nông nghiệp và nông thôn còn phải phấn đấu
vươn lên rất nhiều. Cho đến nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn
chuyển dịch còn chậm; việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản
xuất còn nhiều hạn chế; khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản yếu; công
nghiệp chế biến và ngành nghề kém phát triển; lao động ở nông thôn dư thừa
nhiều; cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở một số vùng còn rất thấp;
tiềm năng về đất đai, rừng, biển nhiều vùng chưa được khai thác có hiệu quả;

chênh lệch lớn, nhiều xã miền núi vẫn còn nhiều khó khăn.
Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững, huyện
Như Thanh phải tiếp tục nâng cao vai trò của người dân trong việc thực hiện
các chương trình, dự án phát triển KT-XH của huyện. Đó là điều kiện để thực
hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trên địa bàn huyện
một cách đúng đắn, hiệu quả và thiết thực.
Xuất phát từ thực tế đó mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao vai trò của người dân trong chương trình 135 ở huyện Như
Thanh - tỉnh Thanh Hoá”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của
người dân trong các dự án thuộc chương trình 135 tại huyện Như Thanh -
Tỉnh Thanh Hoá.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về vai trò của người dân trong
chương trình 135 tại huyện Như Thanh - tỉnh Thanh Hoá.
- Đánh giá thực trạng vai trò của người dân trong chương trình 135 tại
huyện. Qua đó tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến vai trò của người dân trong
chương trình.
3
- Đề xuất một giải pháp nhằm nâng cao vai trò của người dân đối với
Chương trình 135 trên địa bàn huyện Như Thanh trong thời gian tới.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò
của người dân thông qua các hoạt động trong chương trình 135 tại huyện Như
Thanh.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vai trò của người dân trong

- Phát triển là quá trình thay đổi liên tục làm tăng mức sống của con
người, phân phối công bằng những thành quả đạt được và nâng cao giá trị
5
cuộc sống. Như vậy phát triển bao hàm: Tăng trưởng kinh tế để tăng mức
sống vật chất và tinh thần của con người; thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội,
hướng tới cơ cấu kinh tế xã hội tiến bộ; phân phối công bằng thu nhập quốc
dân cho mọi người; nâng cao giá trị cuộc sống, gia đình, niềm tin, tự do, công
bằng xã hội, bình đẳng. [2]
* Khái niệm về dự án phát triển nông thôn
- Dự án: Theo nghĩa chung nhất là tập hợp các hoạt động qua lại để bố
trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm, nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ,
trong thời gian xác định nhằm thoã mãn mục tiêu nhất định và đầu tư một lần
có tác dụng lâu dài. Dự án bao gồm đầu vào (kinh phí, thời gian, nhân lực, vật
lực…), các hoạt động dự án được thực hiện trong môi trường (tự nhiên, xã
hội, chính trị và kinh tế), các đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) để thoả mãn nhu
cầu mong muốn. Tuỳ theo mục đích, dự án có thể chia thành 3 loại: Dự án
đầu tư kinh doanh; dự án nghiên cứu; dự án phát triển. [3]
2.1.2 Đặc điểm và vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
2.1.2.1 Đặc điểm của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
* Đặc điểm của chương trình phát triển kinh tế - xã hôi
Trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, nông thôn Việt Nam
có một chiến lược quan trọng thể hiện qua các mặt: Nông thôn là địa bàn sản
xuất những sản phẩm thiết yếu (hiện nay nông nghiệp chiếm khoảng 24%
tổng thu nhập quốc dân, 30% giá trị xuất khẩu); khu vực nông thôn bao gồm
75% dân cư, gần 70% lực lượng lao động xã hội, là nguồn cung cấp lao động
cho nghành công nghiệp và dịch vụ, là thị trường rộng lớn cho nghành công
nghiệp; nông thôn nước ta có 54 dân tộc khác nhau gồm nhiều tầng lớp. Mỗi
sự biến động nhỏ ở nông thôn sẽ gây ra tác động mạnh đến tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội của một nước. Ổn định nông thôn đảm bảo đảm bảo ổn định
tình hình đất nước. Do đó mà các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của

biệt khó khăn, 13% xã chưa có điện, 58% có nhà tốt…) [1]
Rừng bị tàn phá nặng nề, đất đai bị sói mòn và có nguy cơ bị huỷ hoại
nghiêm trọng, độ che phủ của rừng hiện còn 38%, hiện có hơn 10 triệu ha đất
trống đồi núi trọc gây cản trở đến môi trường sinh thái và chống úng hạn,
nhiều nơi thiếu nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Tốc độ tăng dân số cao (dân số nước ta tăng bình quân khoảng 1,3%,
năm 2000 là 77,6 triệu người, đến nay khoảng 84 triệu người) gây khó khăn
và sức ép nhiều mặt về sản xuất, nhà ở, việc làm, trường học, tình trạng bán
thất nghiệp ở nhiều nơi nhất là các vùng sâu vùng xa. Tình trạng thiếu việc
làm đang là vấn đề bức xúc. Hiện nay nông thôn mới chỉ sử dụng 50 đến 60%
quỹ thời gian, có 6 đến 7 triệu người đang cần việc làm.
Đời sống nhân dân đã được cải thiện trong thời gian vừa qua, song vẫn
còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, mức sống của nhân dân thấp, tỷ lệ hộ
nghèo đói còn rất cao, nhất là vùng trung du miền núi. Chênh lệch giàu nghèo
giữa các vùng ngày càng tăng, hiện nay thu nhập của nông thôn có khoảng
cách rất xa so với thu nhập ở thành thị và có nguy cơ ngày càng tăng lên.
* Quan điểm phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta
Trong những năm gần đây trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông thôn. Một số
quan điểm về phát triển nông thôn cuả Đảng và Nhà nước ta là:
- Phát triển nông thôn phải đảm bảo đồng bộ cả về mặt kinh tế, xã hội
và môi trường. Phát triển nông thôn là một vấn đề phức tạp và rộng lớn, đầu
tư nhiều nguồn lực do đó phải làm sao có hiệu quả.
Hiệu quả kinh tế: Phát triển nông thôn nhằm đảm bảo sản xuất ngày
càng nhiều nông sản phẩm với giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tăng, năng
xuất lao động cao. Trên cơ sở hiệu quả để thực hiện phát triển sản xuất và
nâng cao thu nhập cho người dân.
8
Hiệu quả xã hội: Phát triển nông thôn nhằm tạo việc làm, tạo cơ hội để
mọi người dân có thu nhập, để không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân

bộ có hiệu quả theo hướng chuyên môn hoá, phối hợp thế mạnh của các vùng
trong tổng thể chung của cả nước.
- Phát triển nông thôn theo hướng CNH-HĐH
Nông thôn không thể phát triển nếu chỉ chú trọng phát triển nông
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bỏ dần tính thuần
nông, phát triển công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là công nghịêp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản phục vụ xuất khẩu. Chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng giao thông, điện, thông tin liên lạc, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục
làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Khuyến khích đầu tư xây dựng các doanh
nghiệp sản xuất công nghiệp nhỏ ở địa phương.
CNH-HĐH nông thôn đòi hỏi ngày càng phải áp dụng các tiến bộ kỷ
thuật về giống cây trồng vật nuôi thích hợp với vùng sinh thái. Cho phép tăng
năng xuất, tăng chất lượng sản phẩm, áp dụng các công nghệ đặc biệt là công
nghệ sinh học về phân bón, về bảo vệ thực vật, về thú y, về thức ăn gia súc,
vừa cho phép tăng năng xuất, tiết kiệm chi phí vừa giảm việc sử dụng phân
bón hoá học, thuốc trừ sâu, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, lâu dài.
2.1.2.2 Vai trò của chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Hiện nay ở nước ta, trình độ lực lượng sản xuất còn thấp nên phân công
lao động chưa phát triển và không đồng đều giữa các vùng, khoảng cách
chênh lệch giàu nghèo giữa miền xuôi và miền núi rất lớn. Thêm vào đó, nông
thôn miền núi mang nhiều tính đa dạng về yếu tố tự nhiên, khác biệt về tập
quán canh tác, thói quen, lối sống và đặc biệt là điều kiện khả năng thích nghi
các yếu tố thị trường, tạo nên khoảng cách chênh lệch. Phân phối giàu nghèo
không chỉ diễn ra ở một vùng mà cả giữa các vùng với nhau. Mục tiêu của
10
Đảng và Nhà nước ta là công bằng xã hội cho đồng bào các dân tộc thiểu số.
Một số dự án đã đưa ra: [4]
- Dự án định canh định cư: Mục tiêu đưa ra là ổn định nơi ở, nơi sản
xuất và bảo vệ rừng đối với những nơi đồng bào còn du canh, du cư. Hoạt
động của dự án gồm xây dựng các cơ sở sản xuất như khai hoang, làm ruộng

nhu cầu mà người dân đòi hỏi, không đem lại kết quả cao. [5]
Sơ đồ 2.1: Phương pháp tiếp cận thuyền thống [6]
2.1.3.2 Phương pháp tiếp cận từ dưới lên
Đặc điểm của quan điểm này là các ý tưởng phát triển là do cơ quan Nhà
nước đề xướng, được dân đồng thuận và trở thành quyết định cuả dân, các
chương trình này được tiến hành trên chính quê hương của họ, người dân đóng
vai trò chủ động, là trung tâm của sự phát triển, là người hưởng lợi chính, là
người tham gia chủ yếu trong các chương trình phát triển, họ là cơ sở cho sự
phát triển vì hơn ai hết họ bíêt rất rõ những khó khăn và nhu cầu của mình và
chính họ là những người quản lý các công trình đó. Một cộng đồng càng phát
triển và năng động càng có khả năng thu hút người dân ở lại. [5]
Phương pháp này cho phép người dân có thể tham gia vào việc xem xét,
cân nhắc đến thực trạng cụ thể của địa phương mình. Cho phép các nhà đầu tư
Nhận biết
vấn đề
Nhà nước, các tổ
chức tài trợ
Cộng đồng địa
phương
Xác định chiến
lược
Thực hiện quản

12
và giúp cho chúng ta có thể nhận thấy những điểm mạnh, điểm yếu, thách thức
và cơ hội của địa phương mình và qua đó có thể biết được cái gì có thể ảnh
hưởng tới việc xác định mục tiêu, việc thực hiện các hoạt động, và dự đoán kết
quả sẽ đạt được khi thực hiện các chương trình đó. [7]
Phương pháp tiếp cận từ dưới lên nhằm mục đích quá trình tham gia của
các cộng đồng trong tất cả các khía cạnh cuả chính sách phát triển. Sự tham gia

thông đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt, điều kiện sản xuất khó khăn, cùng
với phong tục tập quán sản xuất một số nơi còn lạc hậu nên đời sống vật chất,
tinh thần của đồng bào các dân tộc còn rất nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ đói nghèo
còn cao; mặt bằng dân trí thấp, kiến thức về kỹ thuật, công nghệ rất hạn hẹp; các
tệ nạn xã hội như: nghiện hút các chất ma tuý, di cư tự do, truyền đạo trái
pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp; tư tưởng trông chờ, ỷ lại, cam chịu với
đói nghèo, lạc hậu vẫn còn khá nặng nề. Chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt
động của một số cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị còn
nhiều bất cập.
Những vấn đề trên đã làm ảnh hưởng đến việc nâng cao vao trò của người
dân trong các chương trình, dự án phát triển của miền núi.
2.1.5 Vai trò của người dân trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội
2.1.5.1 Khái niệm vai trò
Theo từ điển tiếng việt, (năm2005) thì vai trò là tác dụng, chức năng
trong sự hoạt động, phát triển của cái gi đó [8].
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin coi sự nghiệp cách mạng là của
quần chúng nhân dân, chính "quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch
sử". Lịch sử phát triển của xã hội cho thấy, quần chúng nhân dân không chỉ là
nhân tố quyết định cho sự phát triển của xã hội mà còn cả tiềm năng to lớn
trong việc giữ gìn và phát triển mọi giá trị truyền thống cho những thế hệ kế
tiếp nhau từ thời đại này tới thời đại khác.
Quan điểm xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng ta và tư
tưởng Hồ Chí Minh coi "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng"; "Tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt
14
nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo"; nhà nước của ta là "Nhà
nước của dân, do dân , vì dân"; Đảng ta "vừa là người lãnh đạo, vừa là người
đầy tớ thật trung thành của nhân dân".[9]
Hơn lúc nào hết, để đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được
đúng đắn, chính xác; bằng những hình thức, biện pháp thích hợp, cần tổ chức

- Dân bàn là thể hiện quyền dân chủ của người dân được tham gia xây
dựng chương trình, kế hoạch hành động, các quy định của cộng đồng phát
huy được trí tuệ tính tích cực sáng tạo. Mọi người dân trong cộng đồng cần
được cùng nhau bàn bạc về các việc sau: bàn kế hoạch thực hiện làm cái gi, ở
đâu, khi nào; bàn về nghĩa vụ đóng góp của mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chức
trong làng bản, xã; bàn về cách tổ chức, quản lý như thế nào; bàn về chia sẻ
lợi ích ra sao; bàn về quy chế thực hiện thưởng phạt của làng bản; bàn về
thống nhất cam kết thực hiện…
- Dân làm những người dân, hộ gia đình hay các tổ chức trong các làng
bản có thể làm các việc như sau để thực hiện các hoạt động chung của làng
bản: đóng góp ngày công lao động; đóng góp vật tư, vật liệu mà địa phương
hoặc gia đình có như: đất, đá, cát sỏi, cây cối, cây giống, con giống…có thể
đóng góp bằng tiền (nếu có); đóng góp kiến thức và kinh nghiệm thông qua
việc tham gia vào nhóm quản lý hay chỉ đạo thực hiện; sự tham gia trực tiếp
của người dân và các hoạt động xây dựng các công trình, quản lý sử dụng các
công trình; người dân tham gia trực tiếp vào quá trình lập kế hoạch, tham gia
vào các công đoạn của các công trình như: xây dựng, thi công, quản lý, bảo
dưỡng và vận hành các công trình một cách có hiệu quả.
- Dân kiểm tra mọi người dân đều có thể kiểm tra, giám sát các hoạt
động chung của làng bản mà họ đã được bàn, đã được đóng góp và đã làm
như: kiểm tra quản lý, sử dụng các vốn đầu tư và chi tiêu; kiểm tra chất lượng
các công trình, các hoạt động đã đang thực hiện; kiểm tra việc đóng góp và
phân chia lợi ích.
16
- Dân quản lý các thành quả hoạt động, các công trình sau khi xây dựng
xong cần được quản lý trực tiếp của các đối tượng hưởng lợi để tránh tình
trạng không rõ ràng về chủ sỡ hữu. Việc duy tu, quản lý, bảo vệ nhằm nâng
cao tuổi thọ phát huy tối đa hiệu quả của việc sử dụng công trình.
- Dân hưởng lợi, đây là lợi ích mà các hoạt động của chương trình, dự
án mang lại cho người dân.

hoá, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng; đồng thời góp phần xây dựng hệ
thống chính trị ở cơ sở, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân
dân, nâng cao hiệu quả KT-XH của các chương trình, dự án [11]
Tuy nhiên, trong những năm qua cùng với quá trình hội nhập phát triển
của đất nước, cơ chế thị trường đã bộc lộ những mặt yếu của nó, đó là: Nền
kinh tế phát triển thì sự phân hoá giàu nghèo càng diễn ra sâu sắc ở các vùng,
miền, đặc biệt là ở miền núi núi và vùng cao, việc đầu tư không đồng bộ giữa
miền xuôi với miền núi, chênh lệch về thu nhập giữa người dân miền núi với
khu vực thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng. Quyền làm chủ của dân
cư miền núi một số nơi bị hạn chế. Nghị định 79/2003/NĐ-CP của chính phủ
ban hành quy chế dân chủ ở xã, đã khẳng định vai trò, trách nhiệm của người
dân, những điều phải được dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân đóng
góp, dân hưởng lợi… Đã khơi dậy vai trò của người dân, nhất là đối với dân
tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa chủ động trong sản xuất và trong cuộc sống.
Do đó chủ trương, chính sách sẽ có thể làm tăng hoặc giảm đi vai trò và tính
sáng tạo của người dân.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status