B giỏo dc v o to
TRƯNG I HC NễNG NGHIP H NI
LÊ thị mừng
NGHIấN CU TèNH HèNH SN XUT V TIấU TH
SN PHM CA CC C S CH BIN LUNG
TRấN A BN HUYN QUAN HO - TNH THANH HO
LUậN VĂN tốt nghiệp đại học
Chuyờn ngnh: Kinh t nụng nghip
Ngi hng dn: TS. Nguyn Tun Sn
Hà Nội - 2008
1
MỤC LỤC
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 8
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 8
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.2.1 Mục tiêu chung 10
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 10
1.3 Đối tượng nghiên cứu 10
1.4 Phạm vi nghiên cứu 11
1.4.1 Phạm vi không gian 11
1.4.2 Phạm vi nội dung 11
1.4.3 Phạm vi thời gian 11
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 12
2.1 Cơ sở lý luận 12
2.1.1 Lý luận về sản xuất, chế biến 12
2.1.1.1 Khái niệm về sản xuất, chế biến 12
2.1.1.2 Khái niệm về phát triển sản xuất 13
2.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất 14
2.1.2. Lý luận về tiêu thụ 15
3
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 43
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 43
3.2.4.1 Phương pháp thống kê 43
3.2.4.2 Phương pháp hoạch toán 43
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 45
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Tình hình hoạt động của các cơ sở chế biến luồng trên huyện Quan Hóa 46
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở chế biến luồng 46
4.1.2 Thực trạng hoạt động của các cơ sở chế biến luồng ở Quan Hóa 47
4.1.2.1 Công nghệ và quy trình sản xuất 47
4.1.2.2 Số lượng các cơ sở chế biến luồng 48
4.1.2.3 Loại hình sản xuất của các cơ sở chế biến luồng 48
4.1.2.4 Hình thức hoạt động của các cơ sở chế biến luồng 49
4.1.2.5 Tinh hình lao động 50
4.1.2.6 Tình hình tài chính 50
4.1.2.7 Tình hình thu mua và sử dụng nguyên liệu 51
4.1.2.8 Quy mô sản xuất của các cơ sở chế biến luồng trong huyện 54
4.1.2.9 Giá bán và thị trường tiêu thụ sản phẩm 57
4.1.3 Kết quả SXKD ngành chế biến luồng huyện Quan Hoá thời gian qua 60
4.1.3.1 Kết quả kinh tế 60
4.1.3.2 Kết quả xã hội 62
4.1.3.3 Kết quả về môi trường 62
4.2 Tình hình sản xuất của các cơ sở điều tra 62
4
4.2.1 Điều kiện sản xuất của các cơ sở điều tra 62
4.2.1.1 Đặc điểm của chủ các cơ sở chế biến luồng 62
4.2.1.2 Điều kiện kinh tế của các cơ sở điều tra 63
4.2.2 Hoạt động sản xuất của các cơ sở điều tra 67
án.
UBND, phòng thống kê huyện Quan Hoá đã tạo tạo điều kiện thuận lợi
và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu.
Cuối cùng xin gửi tới gia đình lòng biết ơn sâu sắc nhất, nơi cho tôi
động lực để phấn đấu trong quá trình học tập và nghiên cứu.Tôi cũng xin bày
tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
cũng như hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Sinh viên
Lê Thị Mừng
7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết sử dụng Nội dung
1 BQ Bình quân
2 CC Cơ cấu
3 CSCB Cơ sở chế biến
4 đ Đồng
6 ĐVT Đơn vị tính
7 GRET
Reseach and Technological Exchange Group (Tổ
chức nghiên cứu và trao đổi công nghệ)
8 GT Giá trị
9 GTGT Giá trị gia tăng
10 GTSX Giá trị sản xuất
11 GTSXNN/LĐNN Giá trị sản xuất nông nghiệp/lao động nông nghiệp
12 HADEVA
Ha Hoa development agriculture (Hợp tác xã tư
vấn Hạ Hoà)
13 HQSX Hiệu quả sản xuất
14 HTX Hợp tác xã
Trong những năm gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ đã kéo theo
sự ra đời của nhiều sản phẩm mới từ tre, luồng, cùng với thị trường cho các sản
phẩm từ tre, luồng ngày càng mở rộng ra khắp nội địa và quốc tế như: Mỹ, Nhật,
Châu Âu
Với những lợi thế to lớn về kinh tế, xã hội, môi trường, tre luồng đã được các
nhà kinh tế các nước phát triển và nhiều tổ chức thế giới (INBAR, WB, ADB ) xác
định là cây phi gỗ giúp đỡ phát triển kinh tế bền vững nhất , vì vậy càng ngày ngành
hàng tre, luồng càng thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều tổ chức
quốc tế cũng như các nhà khoa học, nhà kinh doanh.
Tuy nhiên trên thực tế là ngành công nghiệp chế biến tre, luồng ở Quan Hóa
vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có của nó. Công nghiệp chế biến
luồng vẫn chỉ mới phát triển ở trình độ thấp, đại đa số hoạt động mới dừng lại ở
mức sơ chế và bán thành phẩm. Sẩn phẩm còn đơn giản, đơn điệu, tính cạnh tranh
của sản phẩm không cao. Các nhà máy, xưởng chế biến có quy mô nhỏ lẻ, hoạt
động phân tán, thiếu sự liên kết với nhau. Vì vậy chưa thể tận dụng được triệt để
nguồn nguyên liệu để nâng cao giá trị gia tăng trên cây luồng nguyên liệu và hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các cơ sở chế biến luồng. Thêm vào đó sự hiểu biết
hạn chế về thị trường, về kiến thức marketing trong quản lý kinh doanh của các chủ
xưởng đã gây cản trở đến việc thúc đẩy mở rộng thị trường tiêu thụ và quy mô sản
xuất, đa dạng hóa, hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thời gian qua, cùng với các chủ trương, chính sách của chính phủ, tỉnh,
huyện Quan Hóa cũng đã quan tâm đến phát triển ngành công nghiệp chế biến
9
luồng như chính sách về trồng mới, thu hút đầu tư cho chế biến, đào tạo tập huấn và
tham quan Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số bất cập trong chính sách hỗ trợ như:
chưa có chính sách, quy định cụ thể giám sát chặt chẽ việc thu mua luồng của các
hộ và các đơn vị đặt hàng; doanh nghiệp lớn thì được ưu tiên hơn các cơ sở chế biến
nhỏ, chưa có kế hoạch cụ thể trong việc quy hoạch phát triển ngành công nghiệp
chế biến luồng.Vì vậy chính sách chưa thực sự tạo điều kiện tốt nhất cho các cơ sở
chế biến luồng phát triển.
chế biến luồng.
1.4.3 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu được triển khai trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2008
Thời gian thu thập số liệu để nghiên cứu từ năm 2005 đến năm 2007 và đầu
năm 2008.
11
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về sản xuất, chế biến
2.1.1.1 Khái niệm về sản xuất, chế biến.
Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, rất cần thiết cho phát
triển kinh tế.
Sản xuất là một quá trình kết hợp các tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo
ra sản phẩm.
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào ( tài nguyên
hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) [2]. Nếu giả
thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp
lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q= f(X1, X2,X3 , Xn)
Trong đó:
Q là lượng sản phẩm nhất định.
X1, X2, X3, ,Xn là lượng của một số yếu tố đầu vào được sử dụng
trong quá trình sản xuất.
Các doanh nghiệp, cũng như các tổ chức kinh tế khi tiến hành sản xuất phải
lựa chọn 3 vấn đề cơ bản đó là: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? Sản xuất như thế
nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản
phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển.
* Sơ chế và chế biến lại
Sơ chế: thường là khâu chế biến ban đầu, được áp dụng chủ yếu đối với
nhận. Như vậy các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh phù hợp. Trong đó có
các chiến lược về sản phẩm: phải xác định được số lượng, cũng như chất lượng, chu kỳ
sống của sản phẩm. Phải có chiến lược mua sắm máy móc thiết bị, lựa chọn công nghệ
thích hợp.
Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về
sản phẩm, nghĩa là sản phẩm được thay đổi về chủng loại với nhau. Đồng thời là
thay đổi về quy mô sản xuất, thay đổi hình thức tổ chức sản xuất, thay đổi việc áp dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu
hoàn hảo hơn.
13
Phát triển sản xuất cần chú ý đảm bảo tính bền vững tức là sản xuất tìm
nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng tới mọi nguồn
tài nguyên.
2.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất
* Nhân tố kinh tế:
Vốn sản xuất: là giá trị của toàn bộ các đầu vào bao gồm các tài sản, vật phẩm
và tiền dùng trong sản xuất kinh doanh.
Vốn là yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa( vốn vận
động không ngừng trong quá trình sản xuất, lưu thông).
Vốn là điều kiện để thực hiện tốt sản xuất và maketing
Quy mô và chất lượng của vốn là điều kiện giúp cho đơn vị nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh, cũng như khai thác tốt hơn các nguồn lực khác.
Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người, nhằm tạo ra của
cải vật chất cho hay các sản phẩm tinh thần cho chính bản thân người lao động và
xã hội
Nguồn nhân lực là toàn thể lao đông tham gia hoạt động sản xuất. Nó bao
gồm cả về mặt số lượng và chất lượng lao động. Chất lượng lao động quyết định kết
quả và hiệu quả sản xuất. Những chi phí cho đào tạo nâng cao trình độ người lao
động được gọi là vốn nhân lực.
Đất đai: là yếu tố sản xuất, nó không chỉ quan trọng đối với sản xuất nông
Sản phẩm là tất cả những yếu tố cụ thể thõa mãn nhu cầu hay ước muốn của
khách hàng, cống hiến lợi ích cho họ và có khả năng được chào bán trên thị trường với
mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hoặc tiêu dùng. Sản phẩm hàng hóa cụ
thể là những vật hữu hình; dịch vụ, sức lao động, tổ chức công nghệ và ý tưởng hay nói
cách khác đó là những sản phẩm vô hình.
* Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Trong cơ chế thị trường hiện nay, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào thì
quá trình tiêu thụ cũng là điều kiện sống còn. Đó là quá trình thực hiện giá trị và giá
trị sử dụng của hàng hóa.
15
Theo nghĩa hẹp thì tiêu thụ hàng hóa lao vụ, dịch vụ là việc chuyển quyền sở
hữu hàng hóa lao vụ, dịch vụ đó thực hiện cho khách hàng đồng thời thu được tiền
hàng hoặc được quyền thu tiền bán hàng.
Theo nghĩa rộng thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm
nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng, tổ
chức sản xuất thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng nhằm mục đích đạt
hiệu quả cao.
Thông thường tiêu thụ sản phẩm được cấu thành bởi các yếu tố:
+ Các chủ thể kinh tế tham gia: là người mua và người bán.
+ Đối tượng tiêu thụ: là sản phẩm hàng hóa và tiền tệ
+ Thị trường tiêu thụ là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của sản xuất kinh doanh, là khâu nối
trung gian giữa một bên là sản xuất phân phối và một bên là tiêu dùng. Tiêu thụ sản
phẩm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và nhịp nhàng. Chỉ
khi nào quá trình tiêu thụ sản phẩm được kết thúc thì chu kỳ sản xuất kinh doanh mới
được tiếp tục, kết quả thu được ở chu kỳ trước tạo điều kiện, làm tiền đề để thực hiện
chu kỳ tiếp theo.
* Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó
quyết định tất cả các khâu khác. Vì thế việc lập chiến lược kinh doanh là hết sức
Người tiêu dùng thường sẽ chọn mua hàng của doanh nghiệp có phương thức
thanh toán đơn giản phù hợp. Doanh nghiệp cần đa dạng hóa phương thức thanh
toán đồng thời tạo điều kiện cho công tác thanh toán thuận lợi. Có nhiều phương
thức thanh toán như trả dần, trả tiền ngay tùy theo điều kiện cụ thể mà doanh
nghiệp có thể áp dụng linh hoạt các phương thức thanh toán khác nhau để lôi cuốn và
giữ được khách hàng.
+ Hỗ trợ Marketing, hỗ trợ sau bán hàng:
Bao gồm các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, khuyến mại, Để có thể
đứng vững trên thị trường thì các doanh nghiệp phải quan tâm tới khách hàng và lợi
ích mà họ cần. Ngày nay các doanh nghiệp thường đầu tư nhiều vào yếu tố này để
thúc đẩy hoạt động tiêu thụ.
17
Các nhân tố khách quan
+ Những yếu tố thuộc về môi trường vĩ mô:
Các chính sách của nhà nước: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình phát
triển của doanh nghiệp. Trong một gia đoạn nhất định thì các chỉ tiêu kế hoạch phát
triển kinh tế xã hột đất nước hoặc vùng là điều kiện làm ăn cho các doanh nghiệp.
Chính sách có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp .
Hoặc có tác động đến người tiêu dùng và từ đó ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp.
Môi trường pháp lý: nếu lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
làm ăn chính đáng tiêu thụ sản phẩm.
Môi trường sinh thái và cơ sở hạ tầng quốc gia: Môi trường sinh thái tốt sẽ
làm tăng năng suất lao động và tác động tích cực tới tiêu thụ. Các cơ sở hạ tầng
quốc gia tốt sẽ tạo điều kiện cho khâu vận chuyển cung ứng sản phẩm cho các đại
lý, khách hàng.
+ Khách hàng: Đây là nhân tố quyết định nhất tới khả năng tiêu thụ của các
doanh nghiệp bởi vì trong cơ chế thị trường thì khách hàng mới chính là " thượng
đế". Nhu cầu ngày càng tăng lên, thị hiếu tiêu dùng càng đa dạng, doanh nghiệp
muốn tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường thì phải có sự đầu tư thích đáng
khác để có lợi nhuận cao.
- Chức năng thông tin
Đối với người sản xuất, thị trường cung cấp thông tin về giá cả, lượng cầu,
thị hiếu tiêu dùng
2.1.2.3 Hệ thống phân phối và kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
* Hệ thống phân phối sản phẩm
Các nhân tố kinh tế tham gia, bao gồm: người cung ứng, giới trung gian
(người bán buôn, đại lý, môi giới, người bán lẻ) và người tiêu dùng [20]
19
Hệ thống phân phối sản phẩm bao gồm: luồng hàng trực tiếp, và luồng hàng
Luồng hàng trực tiếp
Luồng hàng gián tiếp
* Kênh phân phối sản phẩm
Khái niệm :kênh phân phối sản phẩm là sự kết hợp qua lại với nhau giữa
người sản xuất và người trung gian để thực hiện việc chuyển giao hàng hoá một
cách hợp lý nhất, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng [3].
Các loại kênh phân phối sản phẩm (sơ đồ 2.1)
Kênh trực tiếp
Người sản xuất Người tiêu dùng
Kênh một cấp
Người sản xuất Người bán lẻ Người tiêu dùng
Kênh hai cấp
Người
sản xuất
Người bán
buôn
Người
bán lẻ
Người tiêu
dùng
người sản xuất và người tiêu dùng. [10].
Kênh một cấp: gốm một người trung gian gần nhất với người tiêu dùng cuối
cùng trên thị trường, người trung gian này thường là người bán lẻ.
Kênh này có nhiều điểm tương đồng với kênh tiêu thụ trực tiếp. Tuy nhiên có hạn chế
là quy mô lưu thông hàng hoá ít, phân bố trong kênh chưa cân đối hợp lý.
Kênh hai cấp: gồm hai người trung gian trên thị trường tiêu dùng, thành phần
trung gian có thể là nhà bán buôn hoặc bán lẻ. Kênh này có thể áp dụng đối với một
số nhà bán buôn hoặc bán lẻ.
Kênh này có ưu điểm là do mua bán theo từng đoạn nên có tổ chức kênh chặt
chẽ, quy mô hàng hoá lớn và quay vòng vốn nhanh. Tuy nhiên có nhiều rủi ro do
phải qua các khâu trung gian.
Kênh 3 cấp: bao gồm ba người trung gian, kênh này dễ phát huy tác dụng tốt
nếu người sản xuất kiểm soát được và các thành phần trong kênh chia sẻ lợi ích một
cách hợp lý (xem sơ đồ 2.1)
2.1.3 Lý luận về chê biến luồng
Cây luồng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau nhưng để dễ dàng
nghiên cứu ta có thể phân chia thành 3 nhóm mục đích chính:
21
Luồng phục vụ mục đích xây dựng (làm nhà cửa, chống lún cho các công trình, kè
đê, )
Luồng phục vụ sản xuất nông nghiệp (làm giàn, mái che cho vườn, cây cần bảo
vệ )
Chế biến các sản phẩm phục vụ đời sống con người (ván sàn, chiếu, tăm,
đũa, mành, đồ thủ công mĩ nghệ, than ) [27].
Những vấn đề tác động đến hoạt động chế biến trong ngành hàng luồngMô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động chế biến tre, nứa, luồng
* Tác động trực tiếp
Mặc dù trong tỉnh đã có nhiều chương trình, dự án quan tâm đến việc phát
luồng nứa
đầu tư cho lĩnh vực thúc đẩy chế biến. Chỉ có một số dự án nhỏ hỗ trợ cho ngành
nghề nông thôn, nhưng không mang tính vĩ mô.
Cơ sở hạ tầng của các khu vực miền núi còn thấp kém đặc biệt là hệ thống
giao thông và điện cho sản xuất. Công tác khuyến công, đào tạo nghề còn nhỏ lẻ ,
hợp tác quốc tế còn hạn chế và chậm. Đặc biệt là đưa công nghệ mới vào sản xuất,
chưa có sự bứt phá sâu sắc [24].
* Tác động gián tiếp
Việc quy hoạch, quản lý các cơ sở chế biến không kịp với sự phát triển tràn
lan của các cơ sở sản xuất. Các chính sách phát triển sản xuất chế biến như: Đất
đai, thuế, vay vốn tuy đã có tác động nhưng vẫn còn rất hạn chế. Đặc biệt, nhiều
người chủ hoặc giám đốc của các cơ sở chế biến hạn chế về trình độ quản lý nên
còn lúng túng trong trong việc tìm cách để tiếp cận với những chính sách hỗ trợ
trên.
* Đối với thị trường
Với ngành hàng tre luồng Thanh Hoá việc xúc tiến thương mại, quảng bá cho
vùng nguyên liệu và sản phẩm tre luồng chưa thật sự được quan tâm. Công tác tiếp
thị, giá cả quyết định sự tồn tại và phát triển của sản xuất, vì vậy sự phát triển của
các sản phẩm và các làng nghề truyền thống phụ thuộc rất nhiều vào các hoạt động
quảng bá trên. Hiện nay, các hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào các cơ sở hoặc các
công ty thu gom.
* Vấn đề môi trường
Cần áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường để sản xuất bền vững.
Hiện nay tuy sản xuất còn nhỏ lẻ nhưng vấn đề môi trường đã trở nên bức súc. Một
số cơ sở sản xuất giấy và bột giấy gây tác động xấu đến môi trường [24].
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Ngành hàng tre luồng trên thế giới
Luồng có tiềm năng trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu có tính
cạnh tranh nhất của Việt Nam. Là nguồn tài nguyên tái tạo được, luồng được xem là
một loại nguyên liệu thay thế gỗ vì có tính thân thiện môi trường. Thêm vào đó,
hiệu quả đến sự phát triển của ngành hàng
24
Việc tham gia vào các thị trường xuất khẩu sẽ mang lại các cơ hội mới cho
Việt Nam. Hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ kích thích sự đổi mới và phát triển kinh
tế trong nước. Quan trọng nhất, các cơ hội này có thể trở thành một động lực đáng
kể đối với việc giảm nghèo vì 95% sản lượng tre ở Việt Nam là do hàng vạn hộ dân
cung cấp, phần lớn trong số này là những người nghèo, thuộc các nhóm dân tộc
thiểu số sống ở các xã miền núi xa xôi. Với hơn 60.000 ha Luồng, tỉnh Thanh Hóa
chiếm khoảng 55% tổng diện tích Luồng ở Việt Nam. Thanh Hóa còn là một trong
những tỉnh đông dân trong đó 85% vẫn sống dựa vào nông nghiệp
2.2.3 Những phát triển gần đây trong ngành tre
Trong 15 năm trở lại đây, cây tre ngày càng được quan tâm như là một sản
phẩm thay thế gỗ. Bên cạnh các mặt hàng truyền thống như thủ công mỹ nghệ, giấy,
mành, đũa vẫn tiếp tục phát triển thì tre còn được nghiên cứu để phát triển nhiều sản
phẩm mới khác như ván sàn, đồ dùng nội thất, ván sợi ép, than hoạt tính, áo quần, chất
chiết xuất
Hiện nay, trên thế giới người ta phân ngành hàng tre thành các tiểu ngành nhỏ
và mỗi tiểu ngành này có thể tồn tại riêng lẻ hoặc kết hợp với các ngành khác như:
ngành hàng thủ công mỹ nghệ; ngành hàng măng tre (để hộp hoặc dùng tươi);
ngành hàng chế biến công nghiệp [24].
Sự phát triển đa dạng các loại sản phẩm để tạo ra cơ hội mới để công nghiệp
hóa nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Đặc biệt, việc xuất hiện các sản phẩm chế
biến có giá trị cao để có tác động rất lớn về mặt kinh tế, nhất là đối với cộng đồng
nông thôn, so với các ngành công nghiệp chế biến có giá trị thấp mang tính truyền
thống.
Các phân tích thực tế tại Việt Nam cho thấy ngành hàng sản xuất ván sàn sẽ
tạo tổng giá trị 3.100 đôla/ha (trong đó giá trị tạo ra cộng đồng nghèo chiếm 2.400
đôla/ha), tạo ra 1,2 lao động/ha (35% là lao động nông thôn) với 1,9 người hưởng
lợi/ha, chi phí địa phương chiếm 85% tổng chi phí sản xuất, lao động nữ chiếm 49%
trong tổng số lao động. Trong khi đó, đối với ngành sản xuất bột giấy và giấy thì chỉ