MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chính
không thể thay thế được của một số ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm
nghiệp, là một bộ phận không thể tách rời lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ
quyền quốc gia, là nơi trên đó, con người xây dựng nhà cửa, các công trình kiến
trúc…; là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa; là nơi phân bổ các vùng kinh tế,
các khu dân cư; là thành quả cách mạng của cả dân téc; là cơ sở để phát triển hệ
sinh thái, tạo nên môi trường, duy trì sự sống của con người và sinh vật. C.Mác
đã khái quát vai trò kinh tế của đất đai: "Đất là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh
ra mọi của cải vật chất" [4, tr.189].
Đất đai có vai trò quan trọng như vậy, nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn
quan tâm vấn đề đất đai, tăng cường quản lý nhà nước về đất đai. Chánh cương
vắn tắt của Đảng năm 1930 đã chỉ rõ: "Thâu tóm hết ruộng đất của đế quốc chủ
nghĩa làm của công chia cho dân cày". Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành
công, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Sắc lệnh, đạo luật để quản lý đất đai. Khi
cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp chưa hoàn thành, ngày 04/12/1953, Nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Luật Cải cách ruộng đất nhằm
xóa bỏ sự bóc lột của đế quốc, phong kiến do chiếm hữu đất đai mang lại. Cũng
từ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm, ban hành, sửa đổi, bổ sung các
quy định, các chủ trương, đường lối, chính sách trong quản lý nhà nước về đất
đai cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Mét trong các biện pháp hữu hiệu được Nhà nước chú trọng để nâng cao
hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai đó là xử lý các vi phạm hành
chính về đất đai. Các văn bản quan trọng liên quan đến xử lý vi phạm hành
chính về đất đai là Nghị định 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ
ban hành Điều lệ Xử phạt vi cảnh; Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày
30/11/1989 của Hội đồng Nhà nước; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày
1
06/7/1995 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định 04/NĐ-CP ngày
10/01/1997 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
lao động cần cù, "một nắng, hai sương", sử dụng đất có hiệu quả, Ýt có vi phạm
pháp luật đất đai; đã lập nên những kỳ tích với "Bài ca 5 tấn", rồi 10 tấn, 12 tấn
thóc/ha… Nhưng rồi, tháng 5/1997, Thái Bình đã xảy ra khiếu kiện đông người,
gây mất ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; một trong những nguyên
nhân đó là do “ cấp đất, bán đất trái thẩm quyền một cách phổ biến; chính
quyền ở nhiều cơ sở đã lạm dụng việc xử phạt hành chính một cách tùy tiện, trái
quy định, quá sức chịu đựng của dân, gây bất bình trong dân” [51, tr.7]. Sau sù
kiện trên, các cấp, các ngành trong tỉnh đã rút kinh nghiệm; đề ra các chủ
trương, giải pháp sửa chữa, khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót; chấn chỉnh
công tác quản lý, xử phạt các vi phạm hành chính về đất đai, vì vậy các vi phạm
pháp luật về đất đai ngày càng giảm. Những năm gần đây, Thái Bình đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, xây dựng
nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung; với phong trào “xây dựng
cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng/ha/năm và hé gia đình thu nhập đạt
50 triệu đồng/ha/năm” [57, tr.1]. Với quyết tâm trên, Thái Bình từ tỉnh có thu
ngân sách trên địa bàn đạt 235 tỷ đồng năm 2001, đã vinh dự được vào câu lạc
bộ tỉnh có thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.000 tỷ đồng năm 2004. Nhưng bên
cạnh đó:
Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở cấp xã, cấp huyện trong
tỉnh còn bị buông lỏng; còn tình trạng cấp đất, giao đất sai thẩm
quyền. Một số địa phương lợi dụng chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, vật nuôi đã chuyển đổi không đúng mục đích theo quy định của
tỉnh. Một số doanh nghiệp trong cụm công nghiệp của huyện Đông
Hưng còn vi phạm nghiêm trọng Luật Đất đai. Việc xử lý các vi phạm
trên chưa kịp thời, gây bức xúc trong nhân dân [79, tr.8].
3
Chính vì vậy, làm thế nào để hạn chế các vi phạm hành chính về đất đai,
bảo đảm xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm hành chính về đất đai, đặc biệt
là với Thái Bình, một tỉnh đất chật người đông thì càng trở thành những yêu cầu
bức xúc. Là giảng viên giảng dạy môn Quản lý Nhà nước - Luật tại trường
Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến vi phạm pháp luật, vi
phạm hành chính nói chung; hoặc vi phạm pháp luật ở lĩnh vực cụ thể là hải
quan; hoặc ở một phạm vi rộng hơn, trong đó có nội dung nhỏ đề cập đến vi
phạm pháp luật nói chung về đất đai…; mà chưa đề cập đến vi phạm hành chính
về đất đai, đặc biệt cụ thể là ở tỉnh Thái Bình. Chính vì vậy, đề tài “Vi phạm
hành chính về đất đai ở Thái Bình - thực trạng và giải pháp khắc phục” được
xem là công trình đầu tiên nghiên cứu vấn đề vi phạm hành chính về đất đai ở
một địa phương cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
+ Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm phòng, chống vi phạm hành chính về
đất đai ở Thái Bình hiện nay.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích lý luận chung về vi phạm pháp luật và vi
phạm hành chính.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về vi phạm hành
chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Phân tích thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính về
đất đai ở Thái Bình.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp phòng, chống vi phạm hành chính
về đất đai ở Thái Bình trong thời gian tới
+ Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ tháng 7/1995 (thời gian Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành
chính năm 1995 có hiệu lực thi hành) đến hết năm 2004.
5
- Về nội dung và không gian: Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu một vấn đề
cụ thể là vi phạm hành chính về đất đai tại Thái Bình.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
CƠ Sở Lý LUậN Và quy định của pháp luật
Về VI PHạM HàNH CHíNH, xử lý vi phạm hành chính
TRONG LĩNH VựC ĐấT ĐAI
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VI PHẠM HÀNH CHÍNH
1.1.1. Khái niệm, phân loại vi phạm pháp luật
a. Khái niệm vi phạm pháp luật và cấu thành vi phạm pháp luật
+ Khái niệm vi phạm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là tiêu chuẩn của hành vi
con người. Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài
của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Mỗi hành vi đều
được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, mà chủ thể ý
thức được và chủ động thực hiện nó. Những hoạt động của con người không thể
coi là hành vi, nếu con người hoạt động trong trạng thái vô thức.
Trong hoạt động của mỗi người thường có rất nhiều hành vi khác nhau
được thể hiện bằng những phương thức khác nhau trong quá trình sản xuất, trao
đổi, sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống. Song tuỳ theo tính chất, đặc điểm và
những lĩnh vực thể hiện của hành vi con người mà xã hội đặt ra những tiêu
chuẩn, những công cụ điều chỉnh chúng khác nhau. Những hành vi nào của con
người được pháp luật quy định, điều chỉnh thì được gọi là hành vi pháp luật.
Hành vi pháp luật gắn liền với các quy định của pháp luật, những hành vi không
được pháp luật quy định, điều chỉnh thì không phải là hành vi pháp luật.
Hành vi pháp luật rất đa dạng nên có thể phân chia chúng dùa theo nhiều
tiêu chí khác nhau.
- Căn cứ vào phương thức biểu đạt ra bên ngoài có thể chia hành vi pháp
luật thành hành vi hành động và hành vi không hành động.
Hành vi hành động là hành vi mà chủ thể phải thực hiện bằng những thao
tác nhất định. Chẳng hạn, hành vi ký hợp đồng, hành vi tham gia giao thông trên
đường phố
8
Hành vi không hành động là hành vi mà chủ thể thực hiện nó bằng cách
hành vi là không thể thiếu được, nói cách khác, không có hành vi nguy hiểm của
con người thì không có vi phạm pháp luật.
- Thứ hai, là hành vi trái pháp luật: Đã là hành vi xâm hại tới các quan hệ
xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Vi phạm pháp luật không những phải
có dấu hiệu là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn phải có dấu hiệu trái pháp
luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ.
- Thứ ba, có lỗi của chủ thể: Dấu hiệu trái pháp luật chỉ là biểu hiện bên
ngoài của hành vi, để xác định vi phạm pháp luật cần xem xét cả mặt chủ quan
của hành vi, nghĩa là, xác định lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật đó. Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi
trái pháp luật của mình. Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những
điều kiện và hoàn cảnh khách quan, chủ thể thực hiện hành vi đó không cố ý và
cũng không vô ý hoặc không thể nhận thức được, từ đó không lùa chọn được
cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể thực hiện hành vi đó không bị
coi là có lỗi và hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật. Kể cả những hành
vi trái pháp luật mà chủ thể buộc phải thực hiện khi không có sự lựa chọn khác
cũng có thể không bị coi là vi phạm pháp luật.
- Thứ tư, chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý: Năng lực trách nhiệm
pháp lý là khả năng tự mình chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật
trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy chủ thể của vi phạm pháp luật
phải là những người đã đạt tới một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần
và các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi
của mình, có điều kiện lùa chọn và quyết định cách xử sự. Vì vậy, pháp luật chỉ
10
quy định năng lực trách nhiệm pháp lý cho những người đã đạt được một độ tuổi
nhất định, có khả năng lý trí và có tự do ý chí.
Tóm lại, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có
năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cè ý hoặc vô ý, xâm hại các
quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
+ Cấu thành vi phạm pháp luật
nhau thì có tính chất và tầm quan trọng khác nhau, do vậy, tính chất và tầm quan
trọng của khách thể cũng là những yếu tố để xác định mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi vi phạm pháp luật.
b. Phân loại vi phạm pháp luật
Hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng, nên có thể phân
chia vi phạm pháp luật theo nhiều tiêu chí khác nhau.
+ Theo loại quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ bị xâm hại, thì vi phạm
pháp luật phân thành vi phạm pháp luật về tài chính, vi phạm pháp luật về lao
động, vi phạm pháp luật về đất đai, vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp
luật dân sự
+ Theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì vi phạm pháp luật
phân thành vi phạm pháp luật là tội phạm và vi phạm hành chính.
+ Theo tính chất vi phạm và trách nhiệm pháp lý, thì vi phạm pháp luật
phân thành vi phạm pháp luật hình sự, vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm hành
chính, vi phạm kỷ luật Nhà nước.
- Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm): Là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi Ých hợp pháp của tổ
12
chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các
quyền, lợi Ých hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự) [37, tr.19].
- Vi phạm dân sự: Là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới
những quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân
- Vi phạm kỷ luật Nhà nước: Là những hành vi có lỗi, trái với những quy
chế, quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trường học ,
nói cách khác, là không thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, phục vụ được
đề ra trong cơ quan, xí nghiệp, trường học đó Cần chú ý là chủ thể vi phạm kỷ
Về phương diện lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm vi phạm hành chính
phải phản ánh đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của loại vi phạm này, trong đó
thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của chúng, đồng thời cũng phải thể
hiện được sự khác biệt giữa loại vi phạm này với tội phạm về mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi.
Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh
Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Điều 1 của Pháp lệnh này đã ghi
rõ: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm
hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính".
Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi
phạm hành chính cũng được định nghĩa một cách gián tiếp: "Xử phạt vi phạm
hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung
là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt hành chính" [63, tr.6].
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt, song quan niệm về vi phạm hành
chính trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất với nhau về những
14
dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở những nội dung đã
được nêu ra trong hai văn bản pháp luật nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về vi
phạm hành chính như sau:
Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi
phạm các quy định của pháp luật mà không phải là tội phạm và theo quy định
của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
b. Đặc điểm của vi phạm hành chính
Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không
cần xác định các dấu hiệu pháp lý của chúng. Các dấu hiệu pháp lý này được thể
hiện ở bốn yếu tố là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
+ Dấu hiệu trong mặt khách quan
thì dấu hiệu lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đề còn có nhiều ý
kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý của cá nhân trong khi
thực hiện hành vi vi phạm hành chính nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ
chức vi phạm hành chính. Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, chỉ
cần xác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật và hành vi đó theo quy định
của pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ
điều kiện để xử phạt hành chính. Cũng có quan điểm cho rằng, cần phải xác định
lỗi của tổ chức khi vi phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để tiến hành hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này,
lỗi của tổ chức được xác định bằng lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi
thực hiện nhiệm vụ, công cụ được tổ chức đó giao cho. Tuy nhiên, Pháp lệnh Xử
lý vi phạm hành chính hiện hành chỉ quy định chung rằng: “Tổ chức bị xử phạt
hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra” (Điểm b, khoản 1, Điều
6 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính) [63, tr.10] và có nghĩa vụ chấp hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đồng thời, tổ chức phải có trách nhiệm
xác định lỗi của người thuộc tổ chức mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính
16
trong khi thi hành công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
+ Dấu hiệu về chủ thể
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có
năng lực chủ thể.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm
hành chính là người không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và đủ độ tuổi do
pháp luật quy định, cụ thể là:
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể là chủ thể của vi phạm hành
chính với lỗi cố ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành
chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ.
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là một dạng của vi phạm hành
chính vì vậy mà đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai cũng được
thể hiện ở bốn yếu tố là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể.
+ Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là những
biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm hành chính về đất đai, nó gồm có những yếu
tố sau:
- Hành vi trái pháp luật đất đai. Để xác định có hành vi trái pháp luật đất
đai thì ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, về đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai để
xem xét về một hành vi cụ thể.
Nếu một chủ thể thực hiện những việc mà pháp luật đất đai nghiêm cấm
hoặc không làm những việc mà pháp luật đất đai yêu cầu thì người đó là người
có hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Vì vậy hành vi trái pháp luật đất đai là
18
hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp
luật đất đai. Hành vi không bị coi là trái pháp luật đất đai khi nó có liên quan
đến việc thực hiện một mệnh lệnh khẩn cấp của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền hoặc những sự kiện xảy ra ngoài ý chí và khả năng của người sử dụng đất
(tình thế cấp thiết hay sự kiện bất ngờ).
- Hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) do hành vi trái pháp luật đất đai gây ra.
Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật đất đai thể hiện ở chỗ nó
xâm hại quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai hoặc xâm hại đến quyền lợi
của người sử dụng đất. Cụ thể:
Sự xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai thường thể hiện
trong việc định đoạt một cách bất hợp pháp số phận pháp lý của đất đai như
không tuân theo những thủ tục cấp đất do pháp luật quy định, giao đất không
đúng thÈm quyền, không đúng đối tượng, mua, bán, chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trái phép dưới nhiều hình thức như nóp dưới danh nghĩa thanh lý tài
sản, thanh lý nhà cửa hoặc thu tiền bán đất trên danh nghĩa đền bù nhưng sử
dụng số tiền đó không đúng mục đích, hoặc tự tiện chuyển giao đất cho người
- Mục đích, động cơ trong vi phạm hành chính về đất đai
Mục đích của vi phạm hành chính là cái “đích” trong ý thức của người vi
phạm được đặt ra cho hành vi vi phạm đạt tới. Mục đích của vi phạm hành chính
về đất đai chỉ có ở trong một số hành vi vi phạm hành chính về đất đai nhất định
và được thực hiện với lỗi cố ý ví dụ “ hành vi tẩy, xoá, sửa chữa giấy tờ, chứng từ
trong việc sử dụng đất”(Khoản 1 Điều 21 Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai).
Động cơ vi phạm hành chính được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy
người thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trừ những hành vi vi phạm hành
chính về đất đai với lỗi cố ý thì động cơ, mục đích rõ rệt còn các vi phạm hành
chính về đất đai khác thì động cơ, mục đích không rõ nét. Trong các trường hợp
20
này vi phạm hành chính về đất đai chủ yếu do thiếu thận trọng, vô tình hay coi nhẹ
các nghĩa vụ pháp lý mà vi phạm ở mức độ nhỏ và trên thực tế thiệt hại ở những
trường hợp này là không đáng kể. Do đó động cơ, mục đích trong vi phạm hành
chính về đất đai cũng như vi phạm hành chính nói chung không coi là dấu hiệu bắt
buộc.
Hành vi trái pháp luật là sự thực hiện trên thực tế của người vi phạm còn
lỗi thể hiện mục đích cần đạt được của hành vi đó. Việc truy cứu trách nhiệm
pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai khác với việc truy cứu trách
nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật khác là trong đa số các trường
hợp chỉ cần hai dấu hiệu là có hành vi trái pháp luật đất đai và có lỗi là đủ căn
cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý mà không cần phải có đầy đủ cả các yếu tố
khác như có thiệt hại thực tế sảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và
hậu quả bởi vì Luật Đất đai điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp
từ quá trình sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai. Mà đất đai thuộc quyền sở hữu
toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, do đó mọi hành vi xâm phạm tới
quyền sở hữu đều là hành vi vi phạm pháp luật.
+ Khách thể của vi phạm hành chính về đất đai.
Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp
- Chậm nép tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đÊt cho phép;
- Cố ý gây cản trở cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất;
- Không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Tù tiện di chuyển, làm sai lệch mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc
chỉ giới hành lang an toàn của công trình;
- Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất.
b. Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ về đất đai
22
- Hành vi vi phạm trong hành nghề tư vấn về giá đất mà không được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
- Hành vi vi phạm trong hành nghề tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất mà không đủ điều kiện đăng ký hoạt động hành nghề;
- Hành vi vi phạm trong hành nghề dịch vụ về thông tin đất đai, dịch vụ
đo đạc và bản đồ địa chính.
1.3. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
1.3.1. Đặc điểm của hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai
Theo quy định của pháp luật hiện hành, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực đất đai bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính khác.
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hoạt động của các chủ
thể có thẩm quyền căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai để quyết định xử phạt vi phạm hành chính và áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính khác (trong trường hợp cần thiết, theo quy
định của pháp luật) đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về đất đai.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai có các đặc
điểm sau đây:
hành chính trong lĩnh vực đất đai thì không áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính khác với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Như vậy,
khi nói đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai chỉ gồm xử phạt
hành chính, mà không có các biện pháp xử lý hành chính khác. Theo điều 6 của
Nghị định trên thì các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
là cảnh cáo, phạt tiền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm
hành chính; buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm.
24
1.3.2. Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phải đảm bảo các
nguyên tắc sau:
a. Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp
thời gắn với trách nhiệm của chính quyền cấp cơ sở, với công tác kiểm tra, thanh
tra đất đai. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng,
công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc
phục theo quy định của Nghị định 182/2004/ND-CP và quy định của pháp luật có
liên quan.
b. Tổ chức, cá nhân chỉ bị xử phạt hành chính khi thực hiện hành vi vi
phạm hành chính quy định trong Nghị định 182/2004/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 29/10/2004.
c. Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền quy
định tại các Điều 25, 26 và 27 của Nghị định 182/2004/NĐ-CP thực hiện.
d. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chÝnh một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì từng
người vi phạm đều bị xử phạt.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về
từng hành vi vi phạm.
e. Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế
cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong
khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức