chương 5 đạo đức doanh nghiệp - Pdf 14


Câu 2: Bình luận về vai trò và ảnh hưởng của người lãnh đạo
doanh nghiệp tới việc hình thành văn hóa doanh nghiệp ?
Trả lời:
Vai trò
và ảnh
hưởng của
người lãnh
đạo
Lãnh đạo là người hình thành nên văn hóa doanh
nghiệp
Xây dựng tầm nhìn cho doanh nghiệp
Xác định hướng đi, môi trường và các nguyên tắc hoạt
động nói chung cho doanh nghiệp
Lãnh đạo là người phát triển văn hóa doanh nghiệp
Tuyển chọn những người có chung quan điểm với mình
Bản thân nhà lãnh đạo là hình mẫu lý tưởng để mọi
người noi theo
Lãnh đạo là người thay đổi văn hóa doanh nghiệp
Lãnh đạo là người thay đổi đầu tiên:
Lãnh đạo tạo sự thay đổi ở người khác
Truyền bá, tạo động lực để các thành viên trong doanh
nghiệp thực hiện theo những giá trị mà mình đã lựa chọn
Vai trò
và ảnh

hưởng
của
người
lãnh
đạo

đích đó. Những tham vọng, mong muốn, niềm tin của
họ dần dần trở thành những giá trị chung của doanh
nghiệp. Đó chính là nền tảng để doanh nghiệp phát
triển
Xác định hướng đi, môi trường và các nguyên tắc
hoạt động nói chung cho doanh nghiệp: Trong thời
kỳ đầu thành lập doanh nghiệp, nhà lãnh đạo có nhiệm
vụ lựa chọn đường lối hoạt động, phát triển, các nguyên
tắc, quy định cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Sự
lựa chọn ấy được mọi thành viên trong doanh nghiệp
chấp nhận và trở thành chuẩn mực đánh giá các hoạt
động của doanh nghiệp sau này. Các yếu tố này gắn kết
mọi thành viên trong doanh nghiệp với nhau và tạo nên
tinh thần tập thể vững mạnh trong doanh nghiệp.
Lãnh đạo là người phát triển văn hóa doanh nghiệp
Lãnh đạo là người đóng vai trò quan trọng đầu tiên
trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa doanh
nghiệp, cho dù văn hóa doanh nghiệp là sản phẩm
chung của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Nhà
lãnh đạo luôn có xu hướng tuyển chọn những người có
quan điểm chung với mình, và luôn luôn truyền bá, tạo
động lực để các thành viên thực hiện theo những giá trị
mà họ đã lựa chọn. Các nhà lãnh đạo cũng luôn luôn
cố gắng là hình mẫu để mọi người trong doanh nghiệp
noi theo.
Tuyển chọn những người có chung quan điểm với
mình: Để củng cố, duy trì và phát triển những yếu tố văn
hóa mình đã tạo nên, nhà lãnh đạo thường lựa chọn những
người có khát vọng, mong muốn, giá trị, niềm tin tương đối
giống mình vào đội ngũ nhân sự của doanh nghiệp. Đặc

thay đổi. Nhà lãnh đạo là tấm gương cho các thành viên khác noi theo, nên thường là
người thực hiện thay đổi đầu tiên. Chẳng hạn, khi muốn thay đổi cách làm việc độc lập,
từng cá nhân riêng lẻ sang làm việc nhóm trong doanh nghiệp, trước hết bản thân nhà
lãnh đạo là người có tinh thần hợp tác và thực hiện cách làm việc theo nhóm đầu tiên.
Lãnh đạo tạo sự thay đổi ở người
khác: Thay đổi bản thân, đồng thời nhà
lãnh đạo cũng là người kêu gọi, thúc đẩy
sự thay đổi từ mọi thành viên khác trong
doanh nghiệp. Lãnh đạo giải thích lợi ích
của sự thay đổi, tạo ra niềm tin, tâm lý an
tâm để mọi người chấp nhận sự thay đổi.
Lãnh đạo hướng dẫn, giúp đỡ mọi thành
viên trong quá trình thay đổi và cũng là
người giám sát từng bước thay đổi của
doanh nghiệp để kịp thời điều chỉnh, bổ
sung các yếu tố văn hóa mới, phù hợp
với doanh nghiệp
Có quan điểm cho rằng: “ Chỉ nên tuyển những nhân viên
tâm huyết nhiệt tình hơn là những người giỏi, vì nhữn người
giỏi không có tâm càng dễ sinh chuyện”, có quan điểm quản
lý khác cho rằng “ Chỉ nên tuyển những người có năng lực vì
lòng nhiệt tình gầy dựng dễ dàng hơn năng lực”.
Theo bạn quan điểm nào phù hợp hơn? Bình luận
Trả lời:
Theo tôi cả 2 ý kiến trên đều phù hợp, vì:
Tìm được nhân viên vừa ý cả về năng lực lẫn tính cách quyết định 80% thành
công về sau của người lãnh đạo. Điều đầu tiên người lãnh đạo cần ở nhân viên chính là
sự nhiệt tình và thân thiện, bởi công việc tập thể đòi hỏi từng thành viên phải hạn chế
tối đa cái tôi để hòa đồng và đóng góp cho thành quả chung. Người lãnh đạo có thể rèn
luyện bất kỳ chuyên môn nào cho nhân viên mới, nhưng khó thể bắt buộc họ hòa đồng,

của mỗi loại hình doanh nghiệp. Do đó, nếu thiếu yếu tố văn hóa thì
doanh nghiệp khó có thể đứng vững và tồn tại được trên thị trường ở bất
kỳ thời điểm, hay hình thái kinh tế xã hội nào. Ngày nay ở Việt Nam, cũng
như trên thế giới, nguồn nhân lực của doanh nghiệp là con người mà văn
hóa doanh nghiệp là sự liên kết và nhân lên nhiều lần các giá trị của từng
nguồn nhân lực riêng lẻ tổng hợp lại. Không những thế, văn hóa doanh
nghiệp còn được thể hiện qua phong cách của người lãnh đạo đứng đầu
các vị trí của doanh nghiệp và tác phong làm việc của mọi nhân viên. Bởi
vậy, đối tác khi quan hệ thì ngoài việc quan tâm tới lợi nhuận của công ty
họ còn đánh giá doanh nghiệp qua văn hóa của doanh nghiệp đó. Đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
- Sự hình thành và phát triển văn hóa doanh nghiệp Việt Nam có sự ảnh
hưởng của văn hóa dân tộc và môi trường kinh doanh.
+ Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá dân
tộc
Ảnh hưởng của lối sống trọng tình
Ảnh hưởng của ý thức về thể diện
Ảnh hưởng của lối sống linh hoạt
Ảnh hưởng của tâm lý học để làm quan
Ảnh hưởng của lối sống trọng tĩnh
Ảnh hưởng của tính cộng đồng
Ảnh hưởng của tư tưởng gia tộc
Ảnh hưởng của tính địa phương cục bộ
Ảnh hưởng của tính tôn trọng thứ bậc trong xã hội và thủ tiêu vai trò
cá nhân
Ảnh hưởng của sự sùng bái thế lực tự nhiên
+ Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng của môi trường kinh
doanh

nhãn hiệu xà phòng Cô Ba nổi tiếng. Thời đó, với phong trào canh tân đất nước đã
kích thích nhiều người Việt lập ra những hãng buôn lớn, đề cao tinh thần dân tộc
trong kinh doanh. Qua đó có thể khẳng định, trên khắp đất nước ta trong những năm
bị đế quốc thống trị, đã có nhiều doanh nhân thấu hiểu được nỗi đau mất nước, thân
phận nô lệ, nên quyết tâm đề cao tinh thần dân tộc trong kinh doanh - đó là một nội
dung cơ bản của văn hóa doanh nghiệp thời đó.
Thời kỳ thực hiện thể chế kế hoạch hóa tập chung, văn hóa trong các
doanh nghiệp không thể hiện rõ nhưng trong thời kỳ này cũng xuất hiện một số mô
hình kinh doanh có hiệu quả, đã nêu lên một số nét đặc trưng của văn hóa doanh
nghiệp thời kỳ đó, tinh thần dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo vươn lên khắc
phục khó khăn, thiếu thốn và là tiền đề văn hóa doanh nghiệp cho thế hệ doanh
nhân, doanh nghiệp ngày nay kế thừa và phát triển.

Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12 – 1986) và thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được chấp nhận mở ra cho các doanh nghiệp, doanh
nhân nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa quyết định để từng bước hình thành văn
hóa doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội ở nước ta, đó là văn hóa doanh
nghiệp Việt Nam và là động lực để phát huy sức mạnh dân tộc cho công cuộc chấn
hưng đất nước. Mọi người được tự do phát huy tài năng, trí tuệ trong kinh doanh, làm
giàu chính đáng cho mình và cho đất nước. Công cuộc đổi mới đã tạo điều kiện cho sự
ra đời và phát triển dân doanh, đội ngũ doanh nhân mới, hình thành và phát triển văn
hóa doanh nhân mới, mở đường cho sự hình thành và phát triển của văn hóa Doanh
nghiệp Việt Nam.
Có thể khái quát lại: Văn hóa doanh nghiệp thể hiện trên hai mặt: mục đích
kinh doanh và phương pháp quản trị kinh doanh. Trong đó, mục đích kinh doanh là
quyết định toàn bộ hoạt động của mỗi doanh nhân và doanh nghiệp.
Về mục đích kinh doanh:
(1) Đạt hiệu quả và lợi nhuận cao cho cá nhân, cộng đồng.
(2) Có tính nhân văn đối với con người trong xã hội và môi trường sinh thái.
Về phương pháp quản trị kinh doanh, trong thực tế có những điểm chung sau:

bột giặt, chiếc áo trở lại trắng tinh như ban đầu.
Đấy là nội dung của mẫu quảng cáo loại bột
giặt x xuất hiện thường xuyên trên chương trình
Truyền hình Việt Nam.

Câu Hỏi: Bạn hãy nhận xét
về mẩu quảng cáo trên ?
Liệu mẩu quảng cáo đó có
hay và có tính nhân văn sâu
sắc ? Từ đó, theo bạn
quảng cáo có vai trò như
thế nào đối với văn hóa
doanh nghiệp nói riêng và
văn hóa kinh doanh nói
chung ?
I,Nhậnxétvềmẩuquảngcáotrên
Ưuđiểm:
Nêu bật được điểm mạnh của sản phẩm: Làm sạch các vết bẩn trên quần áo.
Định vị thương hiệu: Ở đây chúng ta không cần biết sau quảng cáo này người tiêu
dùng có mua bột giặt X hay không; hoặc không cần phải nói đến những cái chưa
được trong loạt các quảng cáo về bột giặt X, nhưng rõ ràng là thông qua những
mẩu quảng cáo rất ấn tượng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, người ta
đã biết đến bột giặt X trong đời sống thường ngày và biết đến thương hiệu của
doanh nghiệp sản xuất loại bột giặt này
Mục đích của nhà quảng cáo: Thông qua quảng cáo, nhà sản xuất đã đạt được
mục đích là khiến người tiêu dùng biết đến sản phẩm của mình
Nhượcđiểm:
Tính chân thật: quảng cáo trên không mang tính chân thật mà đó chỉ là những hình
ảnh mang tính chất tượng trưng, phóng đại hóa về sản phẩm. Nhằm tạo ấn tượng
mạnh đối với người xem. Còn thực tế, bột giặt X không thể giặt sạch mọi vết bẩn

kinhdoanhnóichung:

Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả tiền để thực hiện việc giới thiệu
thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng, quảng cáo là hoạt động truyền
thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đó người muốn truyền thông
phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đại chúng để đưa thông tin đến
thuyết phục hay tác động đến người nhận thông tin.
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của
người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng
theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.
Quảngcáonhữngnămgầnđâytrởnênthuhútsựquantâmrấtlớncủacác
doanhnghiệp.Nhiềudoanhnghiệprấtđềcaoquảngcáo,coinólàhìnhthứctruyền
thôngmarketinghữuhiệunhất.Họquanniệm:“Làmkinhdoanhmàkhôngcó
quảngcáothìcũnggiốngnhưnháymắttỏtìnhvớimộtcôgáitrongbóng
đêm….Biếtmìnhđangđanglàmgìnhưngchẳngaikhácbiếtcả.”
Nhưvậy,quảngcáođóngvaitròrấtquantrọngđốivớidoanhnghiệp,nóbaogồm
nhữngvaitròsau:

1.Tạo sự nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng:
Trong giai đoạn này, quảng cáo đóng vai trò là công cụ nhắc nhở và in sâu vào
não người tiêu dùng về sự hiện diện của thương hiệu. Do vậy, độ phủ và tần suất
quảng cáo phải đủ mạnh để người tiêu dùng có thể nghe và nhìn thấy thương
hiệu ở nhiều nơi, nhiều thời điểm. Quá trình lặp đi lặp lại quảng cáo sẽ làm
thương hiệu in sâu vào tâm trí người tiêu dùng.
Ví dụ:
Thương hiệu nước tăng lực Number One khi tung ra thị trường lần đầu đã dùng
chiến lược quảng cáo nhắc lại nhiều lần với thông điệp: “Number One, nay đã
có mặt tại Việt Nam” mà không truyền thông gì thêm về lợi ích của sản phẩm.
Thông điệp đó được lặp đi lặp lại trên truyền hình, báo chí, tạp chí và biểu
hiện ngoài trời. Thông điệp trên đã khiến người tiêu dùng tò mò và tự hỏi đó

truyền thông. Do vậy, mỗi nhà quản lý thương hiệu cần phải nhìn lại bản tuyên
ngôn và cấu trúc nền móng của thương hiệu mỗi khi tiến hành truyền thông để luôn
truyền tải hình ảnh nhất quán, độc đáo và khác biệt tới người tiêu dùng.
Có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn mẫu quảng cáo “tra tấn” người xem hàng
ngày với đủ hình thức, từ ngôn từ đến hình ảnh đa sắc. Vậy, làm thế nào để thông
điệp của doanh nghiệp chạy vào não của khách hàng trong thời gian ngắn nhất?
Tất nhiên, ngoài việc nắm bắt những yếu tố của thông điệp quảng cáo, doanh nghiệp
cũng hiểu rõ mục đích doanh nghiệp dành cho quảng cáo. Một khi đã hiểu rõ mục đích
của mình, doanh nghiệp sẽ biết cách để phân bổ ngân sách quảng cáo hợp lý. Tuy
nhiên, điều quan trọng là cần nắm vững các ưu, khuyết điểm của từng loại phương tiện
truyền thông. Truyền hình vẫn được xem là kênh quảng cáo hiệu quả nhất. Ở đó,
những thông điệp có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi giác quan của con
người, từ ngôn từ, âm thanh đến hình ảnh. Ưu điểm là thế, tuy nhiên, chi phí cho quảng
cáo trên truyền hình khá đắt so với báo giấy. Do đó, nó đòi hỏi các mẫu quảng cáo phải
thật sáng tạo, sâu sắc và dễ hiểu… Chi phí quảng cáo trên báo giấy rẻ hơn. Bạn hãy
tận dụng báo chí để truyền đi thông điệp cụ thể của mình bằng một bài viết hoặc hình
ảnh có thể làm rung động tâm trí khách hàng. Điều quan trọng là phải chọn thời điểm
phát sóng hoặc xem ngày phát hành báo chí phù hợp, nếu không muốn mẫu quảng cáo
trở nên lãng phí.
Trong bối cảnh thị trường hiện nay, hàng hóa, dịch vụ đa dạng, phong phú,
người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc phân biệt, đánh giá sản phẩm. Mỗi
doanh nghiệp đều cố gắng tạo một phong cách, một hình ảnh, một ấn tượng, một
uy tín riêng cho sản phẩm của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình ảnh riêng,
dễ đi vào nhận thức của khách hàng, nói cách khác, đưa thương hiệu vào tâm trí
khách hàng. “Doanh nghiệp cần tập hợp các hoạt động nhằm tạo cho sản phẩm
và thương hiệu sản phẩm một vị trí xác định trên thị trường” (P. Kotler). Quảng
cáo là cách để một sản phẩm tiếp cận thị trường dễ dàng nhất nhưng nó cũng
khiến các sản phẩm đó bị đẩy ra khỏi thị trường nhanh nhất. Vì thế, việc rà soát
nội dung kỹ lưỡng sẽ là cách thức dễ dàng để gây thiện cảm đối với khách
hàng.Một nhãn hiệu sẽ lan toả và được nhiều người biết đến nếu mẫu quảng cáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status