nâng cao chất lượng thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam - Pdf 14

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

NHTM Ngân hàng Thương mại
NH Ngân hàng
NHTMCP Ngân hàng Thương mại Cổ phần
NHNN Ngân hàng Nhà nước
BASEL Ủy Ban Basel về Giám sát Hoạt động Ngân hàng
CIC Trung tâm Thông tin Tín dụng
KSNB Kiểm soát nội bộ
TCTD Tổ chức Tín dụng
TCB - Techcombank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam.
CCA Bộ phận Kiểm soát và Hỗ trợ kinh doanh
QTRR Quản trị rủi ro
RCC Trung tâm quản lý tín dụng cá nhân
HĐQT Hội đồng Quản trị
CVTĐ Chuyên viên thẩm định
CGPD Chuyên gia phê duyệt
TGĐ Tổng giám đốc
TSĐB Tài sản đảm bảo
SLA Thỏa thuận mức độ dịch vụ (Service Level Agreement)
KPIs Chỉ số hiệu quả trọng yếu (Key Performance Indicator)
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề
tài
Hoạt động tín dụng đã và đang là một trong những hoạt động kinh
doanh
chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng thương mại. Tuy
nhiên,
cùng
với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng

vực quản lý rủi
ro.
Ngân hàng phải bằng nhiều biện pháp tác động đến hoạt
động tín dụng để hạn
chế
tối đa rủi ro tín dụng nhằm góp phần đạt tới mục tiêu
hoạt động tín dụng an
toàn,
hiệu quả trong tăng
trưởng.
Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên
tại Việt nam áp dụng mô hình phê duyệt và quản lý tín dụng tập trung nói chung và
phê duyệt tín dụng bán lẻ tập trung nói riêng tại một đơn vị trực thuộc hội sở ngân
hàng, một mô hình đang được các ngân hàng lớn trên thế giới áp dụng, hiện cũng
cho thấy những ưu thế vượt trội trong việc giảm thiểu rủi ro tín dụng một cách hiệu
quả nhất. Chính vì là ngân hàng đầu tiên triển khai tại Việt nam nên Tecchombank
cũng gặp phải nhiều khó khăn và thách thức, làm thể nào để giải quyết được các
khó khăn và hạn chế trong công tác thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ tập
trung là một nhiệm vụ cần thiết, giú p ngân hà ng
hỗ
trợ việc phân bổ vốn hiệu
quả hơn trong họat động tín dụng, giảm thiểu các thiệt
hại
phát sinh từ rủi ro tín
dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng.
Góp
phần nâng cao uy tín
- 2 -
và tạo ra lợi thế của ngân hàng trong cạnh
tranh.

.
- Giới thiệu mô hình phê duyệt tập trung tín dụng bán lẻ. Phân tích thực
trạng công tác thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng bán lẻ, những kết
quả đạt được và những mặt còn hạn chế ảnh hưởng tới công tác thẩm
định và quản trị rủi ro tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương
Việt
Nam.
- Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra
một
số
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định và
quản trị rủi ro tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương
Việt
Nam.
3.
Đối
tượng và phạm vi nghiên
cứu
Đối
tượng nghiên cứu của đề tài là: công tác thẩm định và quản trị rủi
ro bán lẻ, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng,
các
biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng công tác thẩm định và quản lý rủi
ro.
Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyên nhân ảnh
- 3 -
hưởng tới chất lượng công tác thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng, thực trạng
hoạt động trong thời gian qua tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương

N
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Giới thiệu hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động ra đời từ rất lâu trên thế giới và
đang có mặt trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế xã hội. Theo Luật các tổ
chức tín dụng số 02/1997/QH10 định nghĩa thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
khác có liên quan”. Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung gian mà qua
đó các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại và chính các nguồn vốn
này sẽ được sử dụng nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong xã hội
với mức lãi suất cao hơn. Ngoài ra, thông qua hoạt động của mình các ngân hàng
còn cung cấp các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng đa dạng phù hợp nhu cầu của
các thành phần kinh tế trong xã hội, từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Nói một
cách ngắn gọn thì:
- Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp;
- Ngân hàng thương mại hoạt động vì lợi nhuận;
- Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, vì:
 Hàng hóa quan trọng của ngân hàng là tiền tệ do Nhà nước sử dụng
để quản lý nền kinh tế;
 Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn;
 Chịu sự chi phối mạnh của chính sách của Nhà nước;
 Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng.
- 5 -
1.1.2. Một số hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng hoạt động với vai trò là người đứng ra tập trung, huy động các
nguồn vốn trong toàn xã hội sau đó sử dụng để cung cấp tín dụng cho các đối
tượng khách hàng có nhu cầu để sản xuất kinh doanh, tiêu dùng. Đây là hoạt động
rất quan trọng của ngân hàng thương mại vì là hoạt động tập trung hàng hoá
kinh doanh cho mình và đối với xã hội thì hoạt động này sẽ giúp tập trung các

vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi các khách hàng này không thực
hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết với các đối tác.
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thực hiện xem xét việc cung cấp các bảo
lãnh cho khách hàng tương tự như xem xét một khoản cho vay và các khoản
bảo lãnh này cũng được tính vào tổng hạn mức tín dụng rủi ro của khách hàng
khi giao dịch với ngân hàng.
1.1.2.6. Hoạt động chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá
Là việc ngân hàng mua lại thương phiếu và giấy tờ có giá của khách hàng,
đây là thương phiếu còn trong thời gian hiệu lực. Khách hàng sẽ nhận được số tiền
chiết khấu sau khi ngân hàng đã trừ lãi suất chiết khấu (có thể có phí chiết khấu).
1.1.2.7. Hoạt động cung cấp dịch vụ
Trong giai đoạn trước đây, lợi nhuận từ các hoạt động cấp tín dụng của các
ngân hàng thường chiếm khoản 2/3 tổng lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên,
trong thời gian gần tỷ lệ này đã được thay đổi theo xu hướng giảm tỷ trọng của lợi
nhuận từ hoạt động cấp tín dụng và gia tăng tỷ trọng lợi nhuận từ các
hoạt động dịch vụ trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Mặc dù hoạt động cấp
tín dụng là hoạt động truyền thống của các ngân hàng thương mại nhưng do
hoạt động này chứa đựng nhiều rủi ro cũng như các hoạt động phòng chống rủi
ro tín dụng phức tạp, tốn kém nên các ngân hàng thương mại đang có xu
hướng đưa ra ngày càng nhiều các sản phẩm dịch vụ ngân hàng khác nhằm tối
đa hoá khả năng thu phí từ khách hàng. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể
kể đến bao gồm:
- 7 -
- Dịch vụ thẻ;
- Dịch vụ kiều hối;
- Dịch vụ chuyển tiền;
- Dịch vụ thanh toán quốc tế;
- Dịch vụ quản lý ngân quỹ;
- Dịch vụ chi hộ lương;
- Dịch vụ tư vấn tài chính;

phẩm dịch vụ của mình cũng như phải có phương pháp quản lý hiệu quả các sản
phẩm của mình nhằm đạt lợi nhuận cao nhất cùng với mức rủi ro thấp nhất.
Các ngân thương mại Việt Nam thật sự được vận hành theo cơ chế thị
trường chỉ từ hơn 10 năm qua, chính vì vậy, mặc dù đã có những bước chuyển
mình đáng ghi nhận nhưng so các ngân hàng nước ngoài thì các ngân hàng của
chúng ta còn kém xa về mặt số lượng, chất lượng sản phẩm và khả năng năng
triển khai và quản lý ngân hàng hiệu quả, an toàn.
Kinh tế Việt Nam đang trên con đường hội nhập tài chính với các lợi ích,
rủi ro và thách thức, các ngân hàng thương mại cần phải điều chỉnh các nhìn của
mình đối với việc rà soát và xây dựng lại một hệ thống quản lý các hoạt động
ngân hàng đểđảm bảo phát huy tối đa các lợi ích mà việc hội nhập tài chính mang
lại đồng thời giảm thiểu, vượt qua các rủi ro, thách thức. Trong đó, hoạt động tín
dụng của ngân hàng cần được quan tâm một cách đúng mức do đặc điểm và
mức độ rủi ro cao của nó.
1.2. THẨM ĐỊNH VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI.
1.2.1. Hoạt động tín dụng
1.2.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho KH sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa
- 9 -
thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người
đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức khi đến
hạn. Tín dụng có thể hiểu một cách đơn giản là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc tài sản cho bên kia
bằng nhiều hình thức như: cho vay, bán chịu hàng hoá, chiết khấu, bảo lãnh,…
được sử dụng trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định
nào đó đã thỏa thuận.
Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) là quan hệ chuyển

- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1
năm). Tín dụng ngắn hạn được sử dụng để bổ sung vốn lưu động và các nhu cầu
thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể vay vốn.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm,
khoản tín dụng trung hạn thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn thực
hiện các dự án cải tạo tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, nói
chung là đầu tư theo chiều sâu.
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm, khoản tín
dụng dài hạn thường được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình mới.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng được cung
cấp cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa. Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn
trong quá trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, chi phí sản xuất
hoặc đáp ứng nhu cầu thiếu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các chủ thể kinh tế.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn
phục vụ đời sống và thường được thu hồi dần từ nguồn thu nhập của cá nhân vay
vốn.
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
- Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ
- 11 -
thể vay vốn được bảo đảm bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ
vốn vay hoặc bảo đảm bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba.
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó NH
chủ động lựa chọn KH để cho vay trên cơ sở KH có tín nhiệm với NH, có năng lực
tài chính và có phương án, dự án khả thi có khả năng hoàn trả nợ vay.
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn:
- Tín dụng vốn lưu động: được cung cấp để bổ sung vốn lưu động cho
các thành phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với NH.
- Tín dụng vốn cố định: cho vay để hình thành nên tài sản cố định cho
các thành phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với NH.

quan trọng của thẩm định tín dụng thể hiện ở những điểm sau:
- Giúp đánh giá được mức độ tin cậy của phương án tiêu dùng, sản xuất hoặc
dự án đầu tư mà khách hàng lập và nộp khi làm thủ tục vay vốn.
- Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi quyết định cho vay.
- Giúp cho cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có thể mạnh dạn cho vay và
giảm được xác xuất hai loại sai lầm trong quyết định cho vay: cho vay một
dự án tồi và từ chối một dự án tốt.
1.2.2.3. Những nội dung chính của thẩm định tín dụng
Thẩm định tư cách khách hàng vay vốn
Mục đích của thẩm định tư cách khách hàng vay vốn là đánh giá tư cách, nhân thân
khách hàng, lịch sử quan hệ tín dụng, tư cách pháp nhân, tính chất hợp pháp và mức
độ tin cậy đối với những thủ tục vay mà khách hàng phải tuân thủ.
Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng, khách hàng muốn vay vốn phải
thỏa mãn các điều kiện vay vốn sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm
dân sự theo quy định của pháp luật.
- Có mục đích vay vốn hợp pháp.
- 13 -
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
- Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư khả thi và có
hiệu quả.
- Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ và
hướng dẫn của NHNN Việt Nam.
- Theo đó, đánh giá mức độ rủi ro tín dụng xét về tư cách khách hàng có thể
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Khách hàng có thuộc nhóm không được cho vay, cần hạn chế, hoặc ngừng
quan hệ tín dụng hay không?
- Khách hàng có thuộc đối tượng (xếp theo loại hình doanh nghiệp hay ngành
sản xuất, nhóm khách hàng, địa bàn…) cần thận trọng trong xem xét cấp tín
dụng hay không?

- Mức độ rủi ro của ngành kinh tế, khu vực mà khách hàng đang hoạt động
bao gồm : tính chất của hàng hóa dịch vụ, các đối thủ cạnh tranh, thị trường
trong nước và quốc tế, ảnh hưởng của cơ chế chính sách của nhà nước, của
hội nhập toàn cầu hóa liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng…).
- Phân tích kết quả thực về lỗ, lãi.
- Đặc điểm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Thẩm định khả năng tài chính
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết là một trong những
điều kiện tiên quyết để xem xét cho khách hàng vay. Đối với khách hàng điều này
giúp cho họ giữ được uy tín và cam kết đã thỏa thuận. Đối với ngân hàng, khả năng
tài chính của khách hàng giúp cho yên tâm hơn về khả năng trả nợ. Thẩm định tài
chính dựa vào báo cáo của những kỳ gần nhất và được đánh giá ở những nội dung
cơ bản sau:
- 15 -
- Tính chính xác, kịp thời và đầy đủ của thông tin được sử dụng.
- Diễn biễn về giá trị thực của doanh nghiệp (Vốn chủ sở hữu thực có = Tổng
tài sản sau khi trừ đi các khoản mục không có giá trị thực như: nợ khó đòi,
hàng hóa mất phẩm chất… - Nợ ngắn hạn – Nợ dài hạn.
- Biến đổi cơ cấu nguồn vốn – sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp;
- Biến động về quy mô tài sản nợ, tài sản có, đặc biệt là các khoản mục: hàng
tồn kho, các khoản phải thu, chi phí chờ kết chuyển…).
- Đánh giá về tính hợp lý của cơ cấu nguồn vốn và việc sử dụng các nguồn
vốn đó.
Diễn biến luồng tiền của khách hàng, các hệ số khả năng thanh toán, hệ số
khả năng trả nợ.
Thẩm định tính khả thi – khả năng thu hồi nợ
Một khách hàng có tình hình tài chính tốt, đảm bảo nợ vay trong quá khứ và hiện tại
chưa hẳn có tình hình tài chính và khả năng trả nợ tốt trong tương lai. Khả năng trả

- Nêu rủi ro từ việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
- Rủi ro từ hồ sơ pháp lý của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro về giảm giá trị của tài sản đảm bảo.
- Rủi ro về suy giảm khả năng thanh toán của bên bảo lãnh.
- Rủi ro về tính thanh khoản của tài sản đảm bảo.(khả năng dễ chuyển hóa tài
sản thành tiền).
- Rủi ro do sự thay đổi chính sách của nhà nước.
1.2.3. Rủi ro tín dụng và quy trình quản lý rủi ro tín
dụng
1.2.3.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
- 17 -
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH là những biến cố không mong đợi
khi xảy ra, dẫn đến tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự
kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp
vụ tài chính nhất định
Theo uỷ ban Basel: Rủi ro tín dụng (RRTD) mà khách hàng vay hoặc bên
đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam
kết. Cũng theo uỷ ban này, “Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của
người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kì sự vi
phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác
định là bất kì sự vi phạm nghiêm trọng nào đó với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả
nợ gốc và lãi”.
Theo quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN (ngày 22 tháng 04 năm 2005)
của thống đốc NHNN Việt Nam thì “ RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của
mình cam kết”.
Có thể nhận dạng RRTD ở 2 đặc tính:
(1) Biên độ rủi ro: thể hiện sự thiệt hại mà rủi ro gây ra.
(2) Tần số xuất hiện của rủi ro: thể hiện việc xuất hiện của rủi ro đó nhiều

cố, ký quỹ và bảo lãnh. Thế nhưng, trên thực tế, mặc dầu các khoản tín dụng giữa
ngân hàng và người vay đều được xác lập theo các điều khoản của hợp đồng tín
dụng nhưng tình trạng vi phạm cam kết đó xảy ra khá phổ biến, kể cả trong trường
hợp người vay có năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam kết đó. Thậm
chí, ngay cả trường hợp có đảm bảo nợ vay như thế chấp, cầm cố tình trạng rủi ro
tín dụng vẫn xảy ra, do tài sản dùng làm đảm bảo nợ vay gặp rủi ro về giá trị vì
những biến động về thời gian và thị trường. Điều đó có nghĩa là, một khi còn có
hoạt động ngân hàng thì còn có rủi ro trong hoạt động tín dụng và buộc người ta
phải nghĩ đến việc dành một khoản tiền gọi là quỹ dự phòng để bù đắp khi có rủi ro
xảy ra.
- 19 -
1.2.3.3. Phân loại rủi ro tín
dụng
Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro danh mục và rủi ro giao
dịch.
- Rủi ro danh mục được phân ra hai loại rủi ro nội tại và rủi
ro
tập trung
.
 Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi
chủ
thể
đi vay hoặc ngành kinh
tế.
 Rủi ro tập trung là mức dư nợ cho vay được dồn cho một số
khách
hàng, một số ngành kinh tế hoặc một số loại cho vay hoặc một khu vực địa
lý.
- Rủi ro giao dịch có 3 thành phần: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi
ro

hàng
cũng
chứa đựng nhiều rủi
ro.
- Do tình hình kinh tế, chính trị thế
giới
- 20 -
Trong tình hình thế giới đang trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay,
mọi
tình hình biến động về kinh tế, chính trị ở bất cứ quốc gia nào, khu vực nào
đều
ảnh
hưởng nhất định đến nền kinh tế, chính trị trong nước từ đó làm gia tăng
nguy cơ
rủi
ro tín dụng của ngân
hàng.
* Nguyên nhân chủ
quan
- Nguyên nhân từ phía khách
hàng
 Do khách hàng không đủ năng lực pháp lý: nguời vay phải có đủ năng
lực
hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín
dụng.
 Nhân cách, trình độ quản lý của khách hàng: đây cũng là nguyên
nhân
quan trọng trong việc dẫn đến rủi ro cho Ngân hàng, khách hàng có khả
năng trả
nợ

động
và nguồn vốn sử dụng: ngân hàng dự trữ vốn quá ít so với nhu cầu bảo
đảm
thanh
toán từ đó sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán nếu khách hàng
có nhu cầu rút
vốn
nhiều hoặc ngân hàng dự trữ vốn quá nhiều, gây ứ đọng
vốn, lãng phí trong sử
dụng vốn.
- 21 -
 Ngân hàng thiếu thông tin về khách hàng nên không dự đoán được rủi
ro
đối với một khoản
vay.
 Ngân hàng đánh giá không đúng về đảm bảo (về tài sản thế chấp, cầm
cố
hoặc về người bảo
lãnh).
 Do chuyên viên khách hàng, cán bộ lãnh đạo yếu hoặc thiếu chuyên môn,
chủ
quan
về khách hàng cũ, hoặc do thiếu đạo đức nghề
nghiệp.
1.2.3.5. Thiệt hại do rủi ro tín
dụng
- Đối với ngân
hàng
Rủi ro tín dụng sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng do ngân hàng bị mất cơ
hội

khi rủi ro tín
dụng
xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi
của những người
gửi
tiền cũng bị ảnh hưởng. Tổn thất của các ngân hàng làm gia
tăng quan ngại về
tài
chính công như khả năng xảy ra sự đổ xô rút tiền ngân hàng
“bank
runs”.
Bên cạnh đó, ngày nay hoạt động của ngân hàng mang tính xã hội hóa
cao
nên một khi rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng thì nó sẽ ảnh hưởng rất
lớn
đến
nền kinh tế-xã hội. Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng, dù chỉ ở
- 22 -
một
ngân
hàng mà không được ứng cứu kịp thời thì có thể gây phản ứng dây
chuyền đe
dọa
đến tính an toàn toàn và ổn định của cả hệ thống ngân hàng. Từ
đó sẽ gây ra
những
bất ổn về kinh tế - xã
hội.
Rõ ràng, rủi ro tín dụng có thể gây ra những thiệt hại to lớn, không
lường

Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức
độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình
độ phân tích, đánh giá chủ quan của chuyên viên khách hàng
Mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng mô hình định lượng để
lượng hóa được rủi ro và dự báo những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cấp
tín dụng. Các mô hình thường được sử dụng là:
* Xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s
RRTD hay rủi ro không hoàn được vốn trái phiếu của công ty thường được
thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu. Những đánh giá này được chuẩn bị bởi một
số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó Moody’s và Standard & Poor’s là những
dịch vụ tốt nhất.
Xếp hạng Tình trạng
Moody’s Aaa Chất lượng cao nhất
Aa Chất lượng cao
A Chất lượng vừa cao hơn
Baa Chất lượng vừa
Ba Nhiều yếu tố đầu cơ
B Đầu cơ
Caa Chất lượng kém
Ca Đầu cơ có rủi ro cao
C Chất lượng kém nhất
Standard & Poor’s AAA Chất lượng cao nhất
AA Chất lượng cao
A Chất lượng vừa cao hơn
BBB Chất lượng vừa
BB Chất lượng vừa thấp hơn
B Đầu cơ
CCC-CC Đầu cơ có rủi ro cao
C Trái phiếu có lợi nhuận

 Mức lãi suất: mức lãi suất càng cao thường gắn với mức độ rủi ro cao.
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status