CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG
I. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
1. Tổng quan về dự án đầu tư:
1.1. Khái niệm về dự án
Có rất nhiều cách định nghĩa dự án. Tùy thuộc theo mục đích mà nhấn mạnh
một khía cạnh nào đó.
Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: Cách hiểu “tĩnh” và
cách hiểu “động”. Theo cách hiểu “tĩnh” thì dự án là hình tượng về một tình huống
(một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai: “ Dự án là một lĩnh
vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp
riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể
mới”.
Trên phương diện quản lý: “Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra
một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: (1) Nỗ lực tạm thời, nghĩa là mọi dự
án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu
của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ, (2) Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những
sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác.
1.2. Đặc trưng cơ bản của dự án.
- Dự án có mục đích, kết quả xác định. Tất cả các dự án đều phải có kết quả
được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một dây chuyền sản xuất hiện
đại hay là chiến thắng của một chiến dịch vận động tranh cử vào một vị trí chính
trị. Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi
nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của
các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một
Trang 3
hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để
thực hiệnvà quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về
thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao.
lại là duy nhất, hầu như không lặp lại như Kim tự tháp Ai Cập hay đê chắn lũ Sông
Thames ở London. Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và
dễ bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn
có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy cũng tạo nên
nét duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án.
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận
quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều
bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu,
các cơ quan quản lý nhà nước… Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ
đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. Giữa các bộ phận
quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và
cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không
giống nhau. Tính chất này của dự án dẫn đến hai hậu quả nghiêm trọng: (1) không
dễ các bên tham gia có cùng quyền lợi, định hướng và mục tiêu; (2) khó khăn
trong việc quản lý, điều phối nguồn lực… Để thực hiện thành công mục tiêu của
dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối liên hệ với các bộ phận
quản lý khác.
- Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia
nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và
với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Trong đó
có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp
nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau… Do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều
quan hệ phức tạp nhưng năng động.
- Tính bất định và rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật
tư và lao động rất lớn để thực hiên trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt
khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường
có độ rủi ro cao. Tuy nhiên các dự án không chịu cùng một mức độ không chắc
chắn, nó phụ thuộc vào: Tầm cỡ của dự án, mức độ hao mòn của dự án, công nghệ
được sử dụng, mức độ đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí,
tính phức tạp và tính không thể dự báo được của môi trường dự án…
2.1.1. Khái niệm
Trang 6
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và
giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng
thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về
kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện
tốt nhất cho phép.
Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều
phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực
hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định.
Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính
nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành
động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống
hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống.
Điều phối thực hiện. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn,
lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian.
Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự
án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và
thiết bị phù hợp.
Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình
thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc
trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án
giữa kỳ cuối và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến
nghị các pha sau của dự án.
Các giai đoạn của quá trình quản lý dự án hình thành một chu trình năng động
từ việc lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó phản hồi cho việc
tái lập kế hoạch dự án như trình bày trong hình:
Trang 7
Điều phối thực hiện
Bố trí tiến độ thời gian
sinh tăng một số khoản mục chi phí. Thời gian thực hiện dự án kéo dài, chi phí lãi
vay ngân hàng, chi phí gián tiếp cho bộ phận (chi phí hoạt động của văn phòng dự
án) tăng theo thời gian và nhiều trường hợp, phát sinh tăng khoản tiền phạt do
không hoàn thành đúng tiến độ ghi trong hợp đồng.
Trang 8
Ba yếu tố: thời gian, chi phí và mức độ hoàn thiện công việc có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án,
giữa các thời kỳ đối với cùng một dự án, nhưng nói chung, đạt được kết quả tốt đối
với mục tiêu này thường phải “hy sinh” một hoặc hai mục tiêu kia. Trong quá trình
quản lý dự án thường diễn ra hoạt động đánh đổi mục tiêu. Đánh đổi mục tiêu dự
án là việc hy sinh một mục tiêu nào đó để thực hiện tốt hơn mục tiêu kia trong điều
kiện thời gian và không gian cho phép, nhằm thực hiện tốt nhất tất cả các mục tiêu
dài hạn của quá trình quản lý dự án. Nếu công việc dự án diễn ra theo đúng kế
hoạch thì không phải đánh đổi mục tiêu. Tuy nhiên, kế hoạch thực thi công việc dự
án thường có những thay đổi do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác
nhau nên đánh đổi là một kỹ năng quan trọng của nhà quản lý dự án. Việc đánh đổi
mục tiêu diễn ra trong suốt quá trình quản lý, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc dự án.
Ở mỗi giai đoạn của quá trình quản lý dự án, có thể một mục tiêu nào đó trở thành
yếu tố quan trọng nhất cần phải tuân thủ, trong khi các mục tiêu khác có thể thay
đổi, do đó, việc đánh đổi mục tiêu đều có ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các
mục tiêu khác.
Đánh đổi mục tiêu phải luôn dựa trên các điều kiện hay các ràng buộc nhất
định. Bảng 1 trình bày các tình huống đánh đổi. Tình huống A và B là những tình
huống đánh đổi thường gặp trong quản lý dự án. Theo tình huống A, tại một thời
điểm chỉ có một trong ba mục tiêu cố định, trong tình huống B, có hai mục tiêu cố
định còn các mục tiêu khác thay đổi. Tình huống C là trường hợp tuyệt đối. Cả ba
mục tiêu đều cố định nên không thể đánh đổi hoặc cả ba mục tiêu cùng thay đổi
nên cũng không cần phải đánh đổi.
Loại tình
huống
2.1.3. Đặc điểm của quản lý dự án
- Tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạm thời. Tổ chức quản lý dự án được
hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn. Trong thời gian tồn tại
Trang 10
dự án, nhà quản lý dự án thường hoạt động độc lập với các phòng ban chức năng.
Sau khi kết thúc dự án, cần phải tiến hành phân công lại lao động, bố trí lại máy
móc thiết bị.
- Quan hệ giữa chuyên viên quản lý dự án với phòng chức năng trong tổ chức.
Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng. Người
đứng đầu dự án và những người tham gia quản lý dự án, là những người có trách
nhiệm phối hợp mọi nguồn lực, mọi người từ các phòng chuyên môn nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu của dự án. Tuy nhiên, giữa họ thường nảy sinh mâu thuẫn
về vấn đề nhân sự, chi phí, thời gian và mức độ thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật.
2.1.4. Một số điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý dự án với quản lý quá trình
sản xuất liên tục của doanh nghiệp
Quản lý rủi ro một cách thường xuyên. Quản lý dự án thường phải đối phó với
nhiều rủi ro có độ bất định cao trong công tác lập kế hoạch, dự tính chi phí, dự
đoán sự thay đổi công nghê, sự thay đổi cơ cấu tổ chức… Do vậy, quản lý dự án
nhất thiết phải đặc biệt chú trong công tác quản lý rủi ro, cần xây dựng các kế
hoạch, triển khai thường xuyên các biện pháp phòng chống rủi ro.
Quản lý sự thay đổi. Đối với quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh thường
xuyên của doanh nghiệp, các nhà quản lý thường nhìn vào mục tiêu lâu dài của tổ
chức để áp dụng các phương pháp, kỹ năng quản lý phù hợp. Ngược lại, trong
quản lý dự án, vấn đề được đặc biệt quan tầm là quản lý thời gian và quản lý sự
thay đổi. Môi trường của dự án là môi trường biến động do ảnh hưởng của nhiều
nhân tố. Quản lý tốt sự thay đổi góp phần thực hiện tốt mục tiêu của dự án.
Quản lý nhân sự. Chức năng tổ chức giữ vị trí quan trọng trong quản lý dự án.
Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp sẽ có tác dụng phân rõ trách nhiệm và quyền
lực trong quản lý dự án, do đó, đảm bảo thực hiện thành công dự án. Ngoài ra, giải
quyết vấn đề “hậu dự án” cũng là điểm khác biết giữa hai lĩnh vực quản lý.
quyết định về dự án
• Phải trả giá đắt cho các quyết
định sai lầm
• Nhân sự mới cho mỗi dự án
• Phân chia trách nhiệm thay đổi
tùy thuộc vào tính chất của từng dự
án
• Môi trường làm việc thường
xuyên thay đổi
Hình 1.4. Những khác nhau cơ bản giữa quản lý sản xuất theo dòng và
hoạt động phát triển dự án
2.2. Nội dung của quản lý dự án
Trang 12
2.2.1. Quản lý kế hoạch dự án
Là một bộ phận của quản lý dự án, nó bao gồm các quy trình cần thiết để đảm
bảo rằng các thành phần khác nhau của dự án được phối hợp hoàn toàn thích đáng.
Nó đảm bảo dung hòa giữa các mục tiêu ( xung đột lẫn nhau) của dự án và các lựa
chọn để thỏa mãn mong chờ của các bên liên quan đến dự án.
Để dự án hoàn thành thắng lợi, cũng cần tập trung vào quản lý hòa nhập giữa
các thành phần của dự án bao gồm các thành phần khác nhau của tổ chức dự án và
các thành phần khác nhau của chu kỳ dự án.
Trang 13
Quản lý dự án
Lập kế hoạch tổng quan
Lập kế hoạch
Thực hiện kế hoạch
Quản lý những thay đổi
Quản lý phạm vi
Xác định phạm vi
Lựa chọn nhà thầu, tổ
chức đấu thầu
Quản lý hợp đồng, tiến
độ cung ứng
Quản lý rủi ro dự án
Xác định rủi ro
Đánh giá rủi ro
Xây dựng chương
trình quản lý rủi ro đầu
tư
2.2.2. Quản lý phạm vi dự án
Quản lý phạm vi dự án bao gồm các quy trình đòi hỏi để đảm bảo rằng dự án
bao gồm tất cả các công việc yêu cầu để hoàn thành dự án một cách xuất sắc.
- Phạm vi của sản phẩm: Các đặc tính và chức năng mà sản phẩm phải có.
- Phạm vi dự án: Các công việc phải làm để bàn giao sản phẩm có các đặc tính
và chức năng đã được xác định.
Trang 14
Quản lý sự hòa nhập
Thực hiện kế hoạch dự án
1. Đầu vào
- Kế hoạch dự án
- Tài liệu hỗ trợ
- Chiến lược tổ chức thực hiện
dự án
- Chương trình hành động
2. Công cụ và kỹ thuật
- Kỹ năng quản lý chugn
-Kiến thức, kỹ năng và sản
phẩm
- Trình tự thực hiện các công
- Phương pháp lập kế hoạch
dự án
- Kiến thức, kỹ năng của các
bên liên quan
- Hệ thống thông tin quản lý
dự án
3. Đầu ra
- Kế hoạch dự án
- Tài liệu hỗ trợ
2.2.3. Quản lý thời gian
Trang 15
Lập kế hoạch phạm vi
1. Đầu vào
- Mô tả sản phẩm.
- Quyết định thực hiện dự án.
- Những yếu tố hạn chế.
- Những giả định.
2. Công cụ và kỹ thuật
- Phân tích sản phẩm.
- Phân tích Chi phí/Lợi ích
- Lựa chọn các phương án
- Đánh giá của chuyên gia
3. Đầu ra
- Báo cáo về phạm vi của dự
án.
- Tài liệu hỗ trợ dự án.
- Kế hoạch quản lý phạm vi dự
án.
Xác định phạm vi
1. Đầu vào
- Mô tả sản phảm.
- Hoạch định chiến lược.
- Tiêu chuẩn lựa chọn dự án.
- Thị trường của dự án.
2. Công cụ và kỹ thuật
- Phương pháp lựa chọn dự án.
- Đánh giá của chuyên gia.
3. Đầu ra
- Quyết định thực hiện dự
án.
- Quyết định của giám đốc
điều hành dự án.
- Những yếu tố hạn chế.
- Những giả định.
Kiểm tra phạm vi
1. Đầu vào
- Kết quả của công việc.
- Hồ sơ sản phẩm.
2. Công cụ kỹ thuật
- Thanh tra.
3. Đẩu ra
- Chấp nhận chính thức.
Quản lý thời gian bao gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo dự án hoàn
thành đúng lúc.
2.2.4. Quản lý chi phí
Trang 16
Quản lý thời gian
Sắp xếp các hoạt động
1. Đầu vào
- Danh sách hoạt động.
3. Đầu ra
-Ứoc tính thời gian thực hiện
hoạt động.
-Cập nhật danh mục hoạt động
Kiểm soát lịch trình dự án
1. Đầu vào
- Lịch thực hiện dự án, Các báo cáo tiến
độ, yêu cầu thay đổi kế hoạch quản lý
thời gian.
2. Công cụ và kỹ thuật
- Hệ thống kiểm soát những thay đổi
lịch thực hiện công việc.
- Cách tính độ sai lệch thời gian, phần
mềm quản lý dự án.
3. Đầu ra
- Cập nhật lịch thực hiện công việc, điều
chỉnh các hoạt động
- Các bài học kinh nghiệm.
Xác định các hoạt động
1. Đầu vào
-Cấu trúc phân chia dự án
-Báo cáo về phạm vi của dự
án.
-Các thông tin của dự án
tương tự.
- Những yếu tố ràng buộc.
những giả định.
2. Công cụ và kỹ thuật
- Phân chia dự án.
- WBS của một số dự án
- Đơn giá, ước tính thời gian cho từng công
việc.
- Các thông tin từ các dự án tương tự,
2. Công cụ và kỹ thuật
- Công thức toán học
- Phần mềm Exel
3. Đầu ra
- Ước tính chi phí
- Các tính toán chi tiết bổ trợ
- Kế hoạch quản lý chi phí
Dự thảo ngân sách
1. Đầu vào
- Ước tính chi phí.
- Cấu trúc phân chia công việc.
- Lịch thực hiện dự án.
2. Công cụ và kỹ thuật
- Công cụ và kỹ thuật ước tính chi phí
3. Đầu ra
- Chi phí cơ sở (chi phí kế hoạch ban
đầu)
Kiểm soát chi phí
1. Đầu vào
- Chi phí kế hoạch, Các báo cáo tài chính
- Các yêu cầu thay đổi
- Kế hoạch quản lý chi phí
2. Công cụ và kỹ thuật
- Hệ thống kiểm tra thay dổi chi phí
- Phương pháp xác định độ lệch chi phí
- Các kế hoạch bổ sung, tính toán nền móng
3. Đầu ra
-Công cụ kỹ thuật quản lý
kế hoạch chất lượng
- Biêu mẫu kiểm tra chất
lượng
3. Đầu ra
Cải tiến chất lượng
Kiểm tra chất lượng
1. Đầu vào
- Kế hoạch quản lý chất
lượng
- Xác định các chỉ tiêu vận
hành
- Danh mục các tiêu chuẩn
nghiệm thu
2. Công cụ kỹ thuật
- Thanh tra, giám sát, kiểm
tra.
- Biểu đồ
- Phân tích xu thế, phân
tích nhân - quả
3. Đầu ra
- Cải thiện chất lượng
- Quy định nghiệm thu
- Hoàn tất bảng nghiệm
thu như trong danh mục
Lập kế hoạch chất lượng
1. Đầu vào
- Mô tả sản phẩm
- Các tiêu chuẩn và quy
- Phân công nhân lực dự
án
- Hướng dẫn nhóm dự án
Phát triển đội ngũ
1. Đầu vào
- Nhân lực của dự án
- Kế hoạch dự án
- Kế hoạch quản lý nhân lực
- Các báo cáo sử dụng nhân
lực
- Ý kiến nhận xét từ bên ngoài
2. Công cụ và kỹ thuật
- Kỹ năng quản lý tổng hợp
- Sắp xếp, đào tạo
3. Đầu ra
- Cải thiện các chỉ tiêu sử
dụng nhân lực
- Đầu vào của các đánh giá
hiệu suất sử dụng lao động
Kế hoạch tổ chức
1. Đầu vào
- Các mặt phân giới của dự
án
- Nhu cầu nhân lực
- Các ràng buộc
2. Công cụ và kỹ thuật
- Các dự án tương tự
- Tài liệu hướng dẫn
- Lý thuyết tổ chức
- Phân tích của các bên liên
- Kỹ năng thông tin
- Hệ thống thu nhận thông tin
- Hệ thống phân phối thông tin
3. Đầu ra
- Hồ sơ của dự án
Báo cáo đánh giá
1. Đầu vào
- Kế hoạch dự án, kết quả công việc
- Các biên bản khác của dự án
2. Công cụ và kỹ thuật
- Tổng quan toàn bộ việc tổ chức dự án
- Phân tích độ lệch,
- Phân tích xu thế
- Phân tích giá trị tăng thêm
- Công cụ và kỹ thuật phân phối thông
tin
3. Đầu ra
- Các báo cáo đánh giá
- Đề nghị thay đổi
Kết thúc dự án về mặt hành
chính
1. Đầu vào
- Các tài liệu đánh giá dự án
- Tài liệu về sản phẩm dự án
2. Công cụ và kỹ thuật
- Công cụ, kỹ thuật báo cáo đánh
giá thực hiệ dự án
3. Đầu ra
- Biên bản nghiệm thu thực hiện
- Bài học kinh nghiệm
Nhận diện
1. Đầu vào
- Các đầu ra kế hoạch khác
- Thông tin của dự án tương tự
2. Công cụ và kỹ thuật
- Kỹ thuật nảy ý nghĩ (Brainstomy)
- Phân tích nhân - quả
- Phỏng vấn
3. Đầu ra
- Các nguồn rủi ro
- Các sự kiện sinh ra rủi ro
- Đầu vào của các quy trình khác
Biện pháp đối phó rủi ro
1. Đầu vào
- Các cơ hội rủi ro, chống lại rủi ro
-Các cơ hội chấp nhận, bỏ qua rủi ro
2. Công cụ và kỹ thuật
- Mua hàng hóa dịch vụ
- Kế hạch hạn mức
- Phòng ngừa, mua bảo hiểm
3. Đầu ra
- Kế hoạch quản lý rủi ro
- Đầu vào các quyết định
- Kế hoạch hạn chế rủi ro
- Hợp đồng cam kết
2.2.9. Quản lý đấu thầu
Quản lý đấu thầu bào gồm các quy trình cần thiết để được cung cấp các hàng
hóa và dịch vụ từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án.
Trang 23
Quản lý đấu thầu
-Hệ thống kiểm tra thay đổi
- Báo cáo bán hàng
- Hệ thống thanh toán
3. Đẩu ra
- Các thay đổi hợp đồng
- Yêu cầu thanh toán, trao đổi
tiền hàng
Kết thúc hợp đồng
1. Đầu vào
- Tài liệu hợp đồng
2. Công cụ và kỹ thuật
- Kiểm kê, kế toán mua
hàng
3. Đầu ra
- Dữ liệu hợp đồng
- Biên bản nghiệm thu
thanh lý hợp đồng
Kế hoạch mua hàng
1. Đầu vào
- Mổ tả sản phẩm
- Các nguồn mua
- Các điều kiện mua hàng
- Các ràng buộc, giả định
2. Công cụ và kỹ thuật
- Phân tích đánh giá của
chuyên gia
- Lựa chọn dạng hợp đồng
3. Đẩu ra
- Kế hoạch mua hàng
- Bản kê công việc
xuất.
Tóm lại, dự án xây dựng được hiểu như một phạm vi hoạt động sáng tạo
hoặc thay đổi cả những chức năng hoạt động của công trình, hệ thống sản xuất,
công nghệ kỹ thuật, môi truờng… cũng như sự hình thành toàn thể từ quan điểm
thống nhất của các mục tiêu, địa điểm và thời gian thực hiện.
Loại dự án xây dựng được xác định bởi quy mô, thời hạn thực hiện, chất
lượng, mục tiêu, sự hạn chế tài nguyên… và quản lý dự án xây dựng đòi hỏi phải
Trang 24
có một tổ chức năng động, các thành viên thông thạo công việc, biết phối hợp hoạt
động với nhau một cách hiệu quả.
Xuất phát từ tầm quan trọng của yếu tố thời gian, nhiều dự án xây dựng có vốn
đầu tư không lớn, nhưng thời điểm giành cơ hội cạnh tranh bán sản phẩm của chủ
đầu tư ra ngoài thị trường lại cấp bách, do vậy, mà công tác quản lý dự án xây
dựng đảm bảo đưa công trình vào hoạt động đúng hạn có một ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong kinh doanh.
Về chất lượng dự án xây dựng có thể không sai sót, nhưng điểm chủ yếu đối
với chất lượng công trình là độ tin cậy và bền vững cao. Những dự án như vậy
chúng ta thường gặp ở những nhà máy hóa chất, khí gas hoặc điện nguyên tử.
Dự án xây dựng không phải tồn tại một cách ổn định cứng. Hàng loạt những
phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân,
chẳng hạn các tác nhân từ bên trong như nguồn nhân lực, tài chính, các hoạt động
sản xuất… và bên ngoài như môi trường chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật,
thậm chí cả các điều kiện tự nhiên - xã hội v.v… Những phần tử riêng của dự án
có thể được sử dụng vừa như các yếu tố thuộc thành phần bên trong, vừa như bên
ngoài của chính nó, chẳng hạn, một đơn vị xây lắp chuyên ngành đồng thời có thể
thực hiện công việc của một vài dự án khác nhau.
Khởi đầu dự án xây dựng có thể được tính từ thời điểm xuất vốn đầu tư để
thực hiện công trình. Tuy nhiên trước đó người ta có thể còn phải chờ đợi, cân
nhắc các phương án và lựa chọn chúng, nhưng dù sao thì dự án vẫn tồn tại một
cách trừu tượng cho đến khi hiện diện một quá trình thực thi thực tế.
có nhiều điểm khác biệt so với việc thi công các sản phẩm của các ngành khác.
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có
đặc điểm sau:
Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và cả về
phương pháp chế tạo. Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt
hàng của chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng.
Sản phẩm là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ. Vốn đầu tư
xây dựng lớn, thời gian kiến tạo và thời gian sử dụng lâu dài. Do đó, khi tiến hành
Trang 26
xây dựng phải chú ý ngay từ khi lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát
thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại,
hoặc sửa chữa gây thiệt hại vốn đầu tư và giảm tuổi thọ của công trình.
Sản phẩm thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn. Số lượng, chủng loại vật
tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác
nhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức
tạp thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ.
Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu
tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình.
Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều cảnh quan và môi trường tự nhiên, do
đó liên quan đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt
công trình.
Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa - nghệ thuật
và quốc phòng. Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc,
mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt… Có thể nói sản
phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học - kỹ thuật và văn hóa trong
từng giai đoạn phát triển một đất nước.
Sản phẩm xây dựng thuộc phần kết cấu nâng đỡ bao che không trực tiếp tác
động tới đối tượng lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm. Đặc điểm này đòi
hỏi người thiết kế phải chọn những giải pháp kết cấu, giải pháp bố cục mặt bằng
hợp lý, tiết kiệm.