I. GIỚI THIỆU
Du lịch là một ngành công nghiệp trên thế giới. Ngành du lịch đóng góp 10% trong tổng số việc
làm, 11 % trong tổng GDP và ước tính tăng 1.6 tỷ trong năm 2020. Thông thường, ngành du lịch
có ảnh hưởng lớn đến con người và tự nhiên. Ngành du lịch mang cả giá trị tích cực lẫn tiêu cực.
Việc phát triển và khai thác du lịch không lành mạnh có thể làm cho môi trường sống và cảnh
quan xuống cấp. Trong khi đó, phát triển và khai thác du lịch lành mạnh sẽ nâng cao ý thức và
bảo vệ văn hoá địa phương đồng thời tạo cơ hội phát triển kinh tế cho các quốc gia và cộng
đồng.
Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên đang nỗ lực để giảm thiểu các tác động tiêu cực và khuyến khích
khai thác thiên nhiên có trách nhiệm để nâng cao chất lượng cuộc sống và khám phá thêm các
giá trị về văn hoá cúng như tài nguyên thiên nhiên.
Du lịch sinh thái cộng đồng là vấn đề luôn gây tranh cãi. Đôi khi loại hình du lịch này được giải
thích là một loại của du lịch thu hút khách du lịch và là một cách thức để bảo vệ thiên nhiên.
Theo đó đây là một nghành du lịch thị trường được gọi là “du lịch thiên nhiên”. Tuy nhiên, một
du lịch sinh thái đúng nghĩa yêu cầu có đường lối hoạch định mà có khả năng loại bỏ các yếu tố
tiêu cực và phát huy các yếu tố tích cực của du lịch thiên nhiên. Theo Tổ chức du lịch sinh thái
quốc tế, du lịch sinh thái là có ý thức và trách nhiệm đối với môi trường thiên nhiên như bảo tồn
môi trường và đảm bảo lối sống lành mạnh cho người dân quanh khu vực.
Định nghĩa này không chỉ có ngụ ý chúng ta nên công nhận và ủng hộ cho việc bảo vệ tài nguyên
thiên nhiên mà còn là thước đo xã hội của du lịch sinh thái. Thuật ngữ “ Du lịch sinh thái cộng
đồng” xác định thước đo xã hội . Đây là một loại của du lịch sinh thái mà mỗi cộng đồng trong
khu vực nên có trách nhiệm bảo tồn tính bền vững thông qua việc phát triển và quản lý và góp
phần nào những thuận lợi trong cộng đồng.
Cộng đồng được định nghĩa như thế nào sẽ còn phải phụ thuộc vào cấu trúc xã hội và cơ cấu
trong khu vực đó. Tuy nhiên, định nghĩa này ngụ ý đến trách niệm và sự ủng hộ của chính quyền
địa phương. Đặc biệt, tại những nơi có nhiều người dân bản địa, họ phải có quyền quản lý đất và
tài nguyên. Du lịch sinh thái cộng đồng nên phát huy sử dụng bền vững và có trách nhiệm sưu
tầm. Tuy nhiên, nó phải bao quát các sáng kiến cá nhân trong cộng động.
Các đặc điểm chung về du lịch sinh thái được tổng kết bởi chương trình môi trường của Liên
Hợp Quốc và Tổ chức du lịch thế giới bao gồm:
cũng có giá trị cung cấp thông tin cho các tổ chức và các ngành, đồng thời minh hoạ khả năng
khai thác rộng hơn, công việc và nhiệm vụ của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên.
Kết luận, sẽ có 12 nghiên cứu được chia thành 4 phần có liên quan đến sáng kiến về du lịch sinh
thái cộng đồng, bao gồm:
A. Cân nhắc xem liệu du lich sinh thái có là một lựa chọn đúng hay không
B. Đưa ra kế hoạch du lịch sinh thái cộng đồng và các liên quan khác;
C. Phát triển các dự án du lịch công đồng mang tính khả thi;
D. Đẩy mạnh các hoạt động có ảnh hưởng tích cực đến môi trường và cộng đồng.
Tuy các sang kiến trên được sắp xếp theo một trật tự liên tục nhưng các nghiên cứu nên được
phát triển hơn để thu về bức tranh hoàn thiện.
Quan điểm của quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
Quan điểm về du lịch của quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên xác định ngành du lịch nên xây dựng
một mục tiêu chung là bảo vệ môi trường thiên nhiên trong lâu dài. Điều đó có nghĩa là phát triển
và xây dựng du lịch:
- là một phần của chiến lược phát triển bền vững
- phù hợp với việc bảo tồn hệ thống sinh thái tự nhiên; và
- phải có liên quan đến văn hoá và người dân địa phương, đảm bảo tính phối hợp giữa các yêú tố
đảm bảo phù hợp nhất.
Từ đó, các quan điểm này nhằm mục đích phát triển và thúc đẩy du lịch. Quỹ quốc tế bảo vệ
thiên nhiên tin tưởng rằng du lịch nên duy trì môi trường bền vững, kinh tế ổn định và xã hội
công bằng.Tuy chỉ chiếm số luợng nhỏ trong du lịch toàn cầu nhưng du lịch sinh thái là sự liên
hợp của nhiều mục đích tốt, tạo nhiều thuận lợi cho các nơi được cho là khu vực thiên nhiên kể
cả các khu vực được bảo vệ.
Là một tổ chức bảo tồn, Quỹ WWF quan tâm đến việc phát triển du lịch sinh thái nhằm phát huy
việc bảo tồn thiên nhiên và quá trình xây dựng hệ thống sinh thái. Quỹ WWF tin rằng, việc tham
gia các hoạt động tại cộng đồng địa phương là một phần thiết yếu của điều này, từ đó xây dựng
du lịch sinh thái cộng đồng. Đồng thời, thông qua đó, Quỹ WWF xây dựng các nguyên tắc chung
về công bằng xã hội, tính toàn vẹn văn hoá, chính sách xoá đói giảm nghèo nhằm hướng dẫn các
chương trình phát triển.
Du lịch sinh thái đang nhận được sự quan tâm đáng kể từ các tổ chức bảo tồn, tổ chức phát triển
thức kém của mọi người, cụ thể đó là vì lợi ích mà tỏ ra thờ ơ với môi trường. Điều này thuộc về
mô hình liên quan đến cộng đồng( theo dõi trong nghiên cứu số 4).
- Loại sáng kiến nào cần thiết để thay đổi quan điểm và hành động nhằm đem lại các lợi ích
trong việc bảo vệ môi trường? Du lịch sinh thái mang lại lợi ích gì? Du lịch sinh thái gây tổn hại
đến môi trường như thế nào khi so sánh với các sáng kiến khác?
- Du lịch sinh thái còn có thể gây ra các tác nhân gì nữa? Liệu có thể ngăn chặn hay không?
- Các thêm các giải pháp nào giảm tải nỗ lực nhưng vẫn thu được các kết quả tương ứng hoặc là
tốt hơn không? Điều này cũng yêu cầu như quy định với du lcịh sinh thái trong bối cảnh phát
triển bền vững( theo nghiên cứu số 3).
Việc phát triển cơ sở hạ tầng về du lịch tại Sabah, Malayxia:
Ở Sabah, Quỹ thiên nhiên hoang dã của Malayxia nỗ lực xây dựng dự án du lịch cộng đồng bền
vững lý tưởng ( MESCOT) dưới sự trợ giúp của Quỹ thiên nhiên hoang dã và Chính phủ Nauy.
Tuy nhiên ở đất nước này liên tục có tình trạng thất thoát về tài nguyên thiên nhiên bởi quả trình
khai thác dầu trái phép. Dự án du lịch sinh thái bền vững lý tưởng nhằm mục đích tạo nguồn thu
lợi nhuận bền vững liên tục. Người dân làng hi vọng Dự án du lịch cộng đồng bền vững lý tưởng
sẽ mang tính khả thi về du lịch sinh thái.
Mô hình này hi vọng sẽ đáp lại mong muốn của dân làng về nhu cầu du lịch sinh thái. Theo đó,
người dân sẽ có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Giai đoạn đầu tiên của việc thực hiện dự án sẽ là các kỹ năng trong cộng đồng để phát triển dự
án thành công.
Các kỹ năng này sẽ bao gồm sự hiếu khách, tài chính, tiếp thị, kỹ năng máy tính và tiếng anh cơ
bản. Nghiên cứu về nguồn tài nguyên và văn hoá sẽ được đưa vào. Bài học quan trọng sẽ là
nghiên cứu về việc xây dựng các sản phẩm du lịch hiệu quả. Cấu trúc luôn rất quan trọng. Theo
đó, việc phát triển nơi ở, dịch vụ thuyền buồm và các sản phẩm thủ công tại các làng nghề phải
được chú trọng. Những người tham gia sẽ bao gồm thanh niên và đảm bảo cân bằng giữa số
lượng nam và nữ khi tham gia.
Yếu tố quan tâm đầu tiên của khách du lịch sẽ là điều kiện ăn ở. Với con só trên 800 phòng ngủ
được thống kê trong 6 tháng đầu năm, du lich sinh thái có thể mang lại một nguồn thu đáng kể.
Từ kết quả như vậy, các điều phối viên nên chú ý đến việc cung cấp điều kiện ăn ở.
Việc quan tâm đến điều kiện ăn ở là mục tiêu quan trọng của dự án sau khi Quỹ thiên nhiên
gian. Chẳng hạn như xung đột biên giới Namibia tại Caprivi liên tục ảnh hưởng đến nhu cầu thị
trường tại khu vực nhưng vẫn có thể hứa hẹn các sang kiến du lịch sinh thái để bình ổn tại khu
vực.
Nếu tiền đề này đáp ứng cũng không có nghĩa là hệ thống du lịch sinh thái sẽ thành công, nó chỉ
có giá trị cho quá trình đem ra phân tích đánh giá cho các bước tiếp theo.
Kiểm tra các tiền đề sẽ được đưa ra nghiên cứu. Căn cứ về tiền đề và cách thức kiểm tra nhanh
về tính khả thi trước đó sẽ được áp dụng giữa cho các ngành hỗ trợ trong lĩnh vực du lịch.
Nhóm bảo vệ thiên nhiên cộng đồng tại Namibia
Tại Namibia, Quỹ thiên nhiên hoang dã chỉ đạo các tổ chức quốc gia và quốc tế nhằm thực hiện
dự án hỗ trợ công tác quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên cộng đồng. Việc gây quỹ thông
qua du lịch để hỗ trợi phát triển và bảo vệ điaj phương là một phần của dự án.
Trước khi độc lập, các cộng đồng đã không có quyền để quản lý và thu các lợi nhuận từ các sản
phẩm tự nhiên mà chỉ đơn giản là duy trì sự sống. Trường hợp như việc mất mát 97 số dê và cừu
trong một đêm được cảnh báo.
Hiện tượng săn bắt trái phép trên diện rộng đã xảy ra. Người đứng đầu các khu vực này đã đứng
ra bổ nhiệm người bảo vệ rừng dưới sự hỗ trợ từ phía các Tổ chức Phi Chính phủ. Sau khi giành
độc lập, quá trình này đã được thắt chặt hơn bằng các luật lệ được quy định bởi Bộ Môi Trường
và Du lịch. Bộ này sẽ quy định cho các cá nhân về quyền hạn cũng như trách nhiệm trong việc
sử dụng, quản lý và thu lợi nhuận từ môi trường tự nhiên cũng như du lịch. Theo đó, Cục bảo vệ
khu vực cộng đồng được thành tlập và đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong vấn đề bảo vệ
thiên nhiên tại khu vực.
Nhóm bảo vệ sẽ bao gồm các nhóm người muốn làm việc cùng nhau, đưa ra các quyết định cùng
nhau và giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai dựa theo điều khoản đặt ra. Chính phủ sẽ duy
trì trách nhiệm tổng quát nhằm đảm bảo bền vững và bảo vệ thống nhất.
Nhóm bảo vệ sẽ tìm ra các cách thứec nhằm bảo vệ du lịch. Tuy nhiên,thuận lợi nhiều nhất về
mặt tài chính phụ thuộc vào khả năng mà được quy định bởi luật pháp. Đó là cách thức liên
doanh với các đơn vị tư nhân nhằm phát huy cách thức bảo vệ và xây dựng các chương trình
nhằm kiểm chế xâm nhập trái phép.
Các hỗ trợ và dẫn dắt liên tục được thực hiện đối với nhóm bảo vệ, chẳng hạn như việc quản lý
tài chính và các hợp đồng đàm phán. Các lợi nhuận đặc biệt thu được từ việc tổ chức các chuyến
động bảo vệ và hỗ trợ theo hướng các doach nghiệp nhỏ và các sáng kiến cộng dồng cũng như
việc xúc tiến quốc gia và quốc tế.Ví dụ như ở Brazil, WWF liên tục tìm kiếm chính sách quốc
gia cũng như tiềm năng tại các địa phương.
Các kế hoạch phát triển du lịch sinh thái tại Brazil
Brazil là một minh chứng cho các hỗ trợ được quy về cho du lịch sinh thái. Mặc dù điều này có
thể thúc đẩy việc bảo vệ quốc gia nơi mà ý thức bảo vệ môi trường vẫn còn thấp nhưng nó vẫn
là mối đe doạ cho Brazil bởi một ngành du lcịh không kiểm soát cùng với các mối đe doạ liên tục
tới môi trường tự nhiên. Do đó, Quỹ WWF tại Brazil liên tục nỗ lực xây dựng các chương trình
bảo vệ, theo đó ý thức của người dân cũng dần được cải thệin ở cả cấp đọ quốc gia lẫn địa
phương. Đây là một động lực để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại Braxin.
Nội dung của chương trình bao gồm:
- Đễ xuất và kiểm tra phương pháp luận về việc đào tạo về du lịch sinh thái cộng đồng dựa vào 8
dự án thí điểm được đa dạng hoá lĩnh vực sinh thái cộng đồng, một cách thức của du lịch sinh
thái;
- Đưa phương pháp luận đến các đại phương tại Brazil, và;
- Xác định phương hướng phát triển hệ thống chứng chỉ về du lịch sinh thái cấp quốc gia.
Đào tạo nhằm mục đích bảo vệ. Quy định liên quan đến các hội thảo trong 6 tháng và sẽ trực tiếp
hỗ trợ kỹ thuật đến các dự án. Các hội thảo bao gồm các học viên nhằm cải thiện phương pháp
luận. Các bài học bao gồm sự cần thiết cảu đội ngũ nhân viên kỹ thuật và sự cần thiết của công
tác tư vấn và nghiên cứu khi đưa du lịch sinh thái đến cộng đồng.
2. Kế hoạch cho du lịch sinh thái cộng đồng
Ba gợi ý tiếp theo liên quan tới các loại cấu trúc và các quy trình cần được thay thế trong một
cộng đồng để phát huy du lịch sinh thái và vì lợi ích của người dân địa phương và môi trường.
Đây không phải là các bước tuần tự và nên được xem xét cùng nhau.
2.1. Tìm hướng giải quyết tốt nhất cho cộng đồng
Các cấu trúc hiệu quả sẽ tác động đến cộng đồng để gây ảnh hưởng và có thể thu lợi từ phát triển
du lịch sinh thái. Liên quan đến cộng đồng là một vấn đề mấu chốt mang lại thành công cho du
lịch sinh thái cộng đồng. Các cơ hội và giải pháp sẽ thay đổi tại các khu vực khác nhau giữa các
cộng đồng. Một nguyên tắc quan trọng là sự kết hợp giữa cấu trúc xã hội và cộng đồng,mặc dù
có thể tạo ra những thách thức cũng như cơ hội.
nhằm mang lại lợi ích kinh tế xã hội. Các sáng kiến du lịch sinh thái cộng đồng nên tập trung vào
chiến lược rõ ràng thống nhất và được lĩnh hội bởi cộng đồng địa phương và các cổ đông mà
quan tâm đến lợi ích du lịch và bảo tồn. Chiến lược nên xây
dựng một bức tranh toàn diện đáp ứng nhu cầu và cơ hội trong khu vực, do đó, một loạt các hành
động bổ sung có thể được thực hiện. Một trong những lợi ích chính từ việc xây dựng chiến lược
là cung cấp cho cộng đồng các công cụ và kiến thức cần thiết để đưa ra quyết định sáng suốt.
Chiến lược nên dựa trên cộng đồng lãnh đạo và khai thác quanh cộng đồng . Tuy nhiên, những
người thực hiện phải là những người có kinh nghiệm và kiến thức về du lịch và bảo tồn thiên
nhiên.
Những người tham gia nên bao gồm đại diện của các cộng đồng địa phương, am hiểu các nhà
khai thác du lịch, các doanh nhân địa phương, các tổ chức phi chính phủ có liên quan, cơ quan
bảo tồn bao gồm cả quản lý khu bảo tồn, và chính quyền địa phương. Sự liên kết nên được thực
hiện như phù hợp với cấp chính phủ trong khu vực và quốc gia.
Chiến lược bao gồm:
- Thu tập các thái độ và nhận thức du lịch,các cơ hội và cạm bẫy, kinh nghiệm hiện tại, mối quan
tâm và mức độ quan tâm;
- Đánh giá thị trương toàn diện; và
- Đánh giá về các di sản văn hoá và thiên nhiên; bao gồm các cơ hội mang lại từ du lịch sinh thái
và đánh giá các ưu nhược điểm cũng như cơ hội và thách thức mang lại.
Bên ngoài quá trình chiến lược phải là một tầm nhìn thống nhất cho du lịch sinh thái trong
khoảng thời gian quy định, cùng với việc xác định các mục tiêu, đối tưọngvà các ưu tiên chiến
lược, kế hoạch hành động, và kết quốnc thể kiểm soát.
Kế hoạch hành động nên lấy từ các sáng kiến thực tế, bao gồm phạm vi thời gian, trách nhiệm và
nguồn lực yêu cầu. Cần tránh các sai lầm cũng nhưe hạn chế tham vọng khi đưa ra các mục tiêu.
Các hành động nên bao gồm việc phát triển chuyên sâu và dự án tiếp thị. Ở một số địa điểm ít
hoặc nhiều, nên chú ý đển quản lý du lịch, bao gồm cả chính sách về kiểm soát phát triển và các
du khách hiện có. Ở nhiều nơi, quan hệ giữa các cộng đồng địa phương và một khu vực bảo vệ
có thể là một yếu tố quan trọng của chiến lược, bao gồm hành động thống nhất về thu phí công
viên và công tác bảo tồn trong cộng đồng, đó là một vấn đề quan trọng đối với du lịch sinh thái .
2.3. Đảm bảo tính nhất quán giữa môi trường và văn hoá
- Quy hoạch cả trong và ngoài khu bảo tồn. Điều này nên bao gồm việc xác định địa điểm và
mức độ quy hoạch cho phép. Trong một số làng và cộng đồng đã xác định cụ thể khu du lịch
sinh thái mà yêu cầu cả về cơ sở cung cấp và các giải pháp bảo tồn động vật hoang dã. Nhìn
chung là phải xác định vị trí nhà nghỉ cho khách du lịch cách xa khu vực làng cộng đồng.
3. Phát triển các dự án du lịch sinh thái cộng đồng
Nhiều dự án du lịch sinh thái không thật sự khả thi và mang lại thất bại. Hai gợi ý tiếp theo
sẽ xác định khó khăn trong việc thực hiện.
3.1. Đảm bảo thực tế thị trường và thúc đẩy hiệu quả
Dự án du lịch sinh thái phải được xây dựng trên sự hiểu biết về nhu cầu thị trường và mong
muốn của người tiêu dùng cũng như cách thức đưa sản phẩm ra thị trường.
Lý do chính các dự án du lịch sinh thái luôn thất bại là bởi nó không thu hút đủ số lượng khách
tham quan. Đó là bởi vì các giả định được đưa ra liên quan đến tiếp thị tại một địa điểm cụ thể
hoặc kinh nghiệm không thực tế và không dựa trên nghiên cứu. Kết quả là, hoạt động khuyến
mại bị chêch hướng. Vấn đề là thiếu kiến thức du lịch không chỉ giữa các cộng đồng địa phương
mình mà còn là thiếu các cơ quan tư vấn và các cơ quan tài trợ.
Việc đánh giá thị trường toàn diện phải được tiến hành thông qua điểm đến và các dự án du lịch
sinh thái tư nhân. Điều này cần xem xét như sau
- Các mẫu, các hồ sơ và các lợi ích của khách du lịch đến khu vực phải dựa trên các khảo sát về
khách du lịch. Về nguyên tắc thì sẽ dễ dàng để duy trì khách du lịch hiện tại hơn là thu hút du
khách mới.
- Vị trí của khu vực phải được nhìn nhận tại các mạch du lịch trong nước. Nếu là sự lệch pha sẽ
gây ra sự khác biệt.
- Mức độ, bản chất và sự tồn tại các sản phẩm du lịch sinh thái sẽ gây ra sự cạnh tranh nhưng
cũng tạo nên tiềm năng.
- Các hoạt động của các nhà khai thác tour du lịch trong nước và các công ty liên đới đất đai
trong nước và sự bảo trợ bởi công ty lữ hành quốc tế.
- Các thông tin hiện hành và cơ chế quảng cáo tại khu vực
Chất lượng độc nhất hoặc đặc biệt tại một khu vực cùng với các sản phẩm du lịch khác phải được
xác định. Theo những kiến thức về thị trường, các thông tin đầu tiên về khách du lịch nên được
thông qua. Tại một vài khu vực, thị trường khách du lịch trong nước có thể là tiềm năng hơn so
Một yếu tố nữa là sự kết hợp giữa ID và các trang web hữu ích. Chẳng hạn như trang web
www.responsibletravel.com có thể đưa thông tin quảng cáo đến các chương trình như các
chương trình của ID mà đáp ứng cá tiêu chí du lịch. Điều này đã nhận được các đánh giá cao từ
các khách hàng về sự minh bạch về đánh giá cũng như quảng bá các sản phẩm.
3.3. Xây dựng các sản phẩm chất lượng
Các sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng nên đảm bảo chất lượng cao và thắt chặt kế hoạch kinh
doanh.
Lý do thứ hai gây ra thất bại là việc liên quan đến chất lượng thực hiện dự án về kế hoạch kinh
doanh.
Chất lượng phải duy trì ở kinh nghiệm và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Điều này có nghĩa
là phải xác định tham gia nghiên cứu thị trường. Mặc dù không qua phức tạp nhưng thành phần
quan trọng của thị trường du lịch sinh thái mà các nhà điều phối tour liên tục quan tâm là tìm
kiếm kinh nghiệm thực tế về môi trường thiên nhiên hoang dã giàu tiềm năng, điều kiện phải
thoải mái và đáng tin cậy và có thể khai thác thúc đẩy kinh doanh. Bên cạnh đó, cũng cần thiết
để khai thác các giá trị về tính cởi mở, tính đặc quyền tịa các khu vực để xúc tiến du lịch sinh
thái.
Có ba yêu cầu mấu chốt như sau:
- Chú ý đến chi tiết, đảm bảo các yêu cầu, cấp độ
- Chất lượng và độ chính xác của quảng cáo và thông tin, đưa ra cam kết nhưng vẫn phải đảm
bảo kết quả pahỉ sát với thực tế. Tất cả khách du lcịh trong thị trường này đang tăng lên trong tốc
độ tìm kiếm cấp độ cao để nắm vững thông tin.
- Tính xác thực và môi trường. Khách du lịch trong môi trường du lịch sinh thái sẽ thích nghi
nhanh với các giá trị truyền thống và giá trị thực.
Thông qua chiến lược quảng cáo
- Chất lượng của môi trường tự nhiên và cảnh quan xét trong các khía cạnh như tính duy nhất,
sự hấp dẫn và phong phú. Nếu đạt được các tiêu chí này, dự án sẽ thu được nhiều cơ hội thành
công hơn. Ngược lại nếu không đạt được các tiêu chí này thì cần quan tâm đến chất lượng về
điều kiện sinh hoạt.
- Sự kết hợp giữa yếu tố tự nhiên và văn hoá. Nhiều khách du lich sẽ quan tâm đến vấn đề này.
- Điều kiện ăn ở: sạch sẽ luôn là tiêu chí đầu tiên, các hệ thống về tắm rửa, nhà vệ sinh, thiết kế
dựa trên kết kết quả;
- Đào tạo người dân địa phương thông qua các chuyên gia được cấp chứng chỉ tại công ty du lịch
quốc gia;
- Xúc tiến công tác bảo tồn thông qua duy trì các cuộc đi bộ đường núi và thăm các di tích di sản
điển hình;
- Thiết lập hiệp hội du lịch sinh thái Zarnesti để xúc tiến dự án;
- Liên kết với các công ty lữ hành chuyên nghiệp; và
Chương trình thu hút 40 nhóm trong năm 2000 và mang lại lợi nhuận cao từ các nhà điều hành.
4.Thúc đẩy các thuận lợi đến cộng đồng và môi trường
Gợi ý thứ 4 nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm cải thiện cách thức thực hiện các sáng kiến
du lịch sinh thái cộng đồng nỗ lực thu về các lợi nhuận xã hội, kinh tế và môi trường.
4.1. Tác động của công tác quản lý.
Các bước chủ yếu nên được xây dựng trong cộng đồng để giảm thiếu ảnh hưởng của môi
trường và tận dụng tối đa lợi nhuân từ du lịch sinh thái.
Thiết kế của tất cả các tòa nhà mới nên được xem xét cẩn thận. Các thiết kế truyền thống và vật
liệu sẵn có ở địa phương nên được sử dụng. Trong một số cộng đồng, thu nhập theo hướng tích
cực thu được đáng kể, ví dụ, cung cấp mái lợp lá.Điều này cần được xem xét trước. Hành động
cần được thực hiện, cả ở giai đoạn phát triển và điều hành cơ sở vật chất, để giảm tiêu thụ nước
và năng lượng, giảm chất thải và tránh ô nhiễm. Công nghệ năng lượng thấp phù hợp với vị trí
nên được áp dụng nếu có thể. Tái chế cần được khuyến khích và tất cả các hình thức xử lý chất
thải nên được quản lý cẩn thận, với một nguyên tắc cách ly lượng chất thải khỏi các di tích như
có thể. Sử dụng phương tiện giao thông giảm thiểu gây ôi nhiễm môi trường trong các quy hoạch
của chương trình và các thông tin được cung cấp.
Để giảm thiểu thâm hụt kinh tế, cần nỗ lực để tạo ra các sản phẩm và dịch tại địa phương và tạo
công ăn việc làm cho người dân địa phương. Người thợ có thể được hỗ trợ thông qua việc lập
nên các nhóm địa phương và mạng lưới, và giúp đỡ việc tiếp thị và giá cả.
Các cộng đồng địa phương cần được khuyến khích và giúp đỡ những vấn đề này mà không ảnh
hưởng đến cuộc sống của họ, thông qua thông tin và đào tạo. Các du khách sẽ đưa ra các phản
hồi. Việc đóng góp ý kiến của khách du lịch và các công ty lữ hành là rất quan trọng (xem
Hướng dẫn 11).
Tầm quan trọng của tiếp thị hiệu quả được (giới thiệu trong Hướng dẫn 7)
Cùng với các lời khuyên tiếp thị kỹ thuật, các dự án cần được hỗ trợ thông qua đánh giá các dữ
liệu nghiên cứu quốc gia, hỗ trợ các cuộc khảo sát khách du lịch và liên kết với các thành phần
tiếp thị nhằm quảng các các công ty lữ hành và các trang web đón khách du lịch quốc gia. Việc
xây dựng nơi đăng ký dự án du lịch sinh thái cộng đồng cần thiêt phải thiết lập hệ thống dự
phòng.
Sẽ là giá trị cho việc cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật thông qua các mạng lưới dự án. Một vài nước
đã thiết lập mối liên kết các sáng kiến du lịch cộng đồng. Cách thức này không chỉ tăng cường ý
thức và hỗ trợ tiếp thị mà còn thúc đẩy chất lượng chung và phân phối hỗ trợ tài chính.
Các dự án du lịch sinh thái dưới sự bảo trợ của Quỹ WWF có kinh nghiệm đào tạo, đặc biệt là ở
Namibia( xem phần 7) và Brazil ( xem phần 9).
4.3. Hỗ trợ của khách du lịch và công ty lữ hành
Các kinh nghiệm du lịch sinh thái nên nâng cao ý thức bảo tồn, các vấn đề cộng đồng giữa
khách du lịch và công ty lữ hành cùng với các cơ chế nhận được hỗ trợ.
Các lợi nhuận thêm có thể thu được thông qua việc cải thiện qaun hệ với khách du lịch, với các
công ty lữ hành. Các lợi nhuận này bao gồm ý thức về các vấn đề môi trường và xã hội, bổ sung
cách cư xử của khách khi tham quan và tiếp nhận sự hỗ trợ trực tiếp cho cộng đồng địa phương.
Các quy tắc ứng xử dành cho du khách nên được quy định. Một vài quy tắc có thể là quy định
chung, tuy nhiên vẫn phải xây dựng các tiêu chí quy tắc phân loại theo từng khu di tích.
Điều này tập trung vào các câu hỏi chẳng hạn như đọc và tìm hiểu trước, lựa chọn các công ty lữ
hànhvà các điểm đến mà tập trung vào các khía cạnh văn hóa địa phương, giảm thiểu tác động
môi trường và tập trung vào vấn đề bảo tồn. Tương tự, mã số cho các công ty lữ hành bao gồm
các vấn đề môi trường và văn hóa tại các địa điểm có liên quan, gắn kết quan hệ với các cộng
đồng bản địa, các thông điệp gửi đến nhân viên và khách hàngvà thêm nhiều hướng dẫn và quy
định chi tiết hơn. Các yêu cầu này được đặt ra cho hình thức du lịch sinh thái. Chương trình Bắc
Cực của Quỹ WWF đã thông qua các quy định này.
Tăng cường tài chính hoặc các hình thức hỗ trợ khác từ khách du lịch (chẳng hạn như tham gia
nghiên cứu) đã trở thành một thực tế khá phổ biến tại các điểm du lịch sinh thái. Điều này được
áp dụng mức thuế cho các công ty lữ hành. Mặc dù một số công ty lữ hành phản đối ý kiến này
nhưng ảnh hưởng của nó đến giá cả du lịch tương đối nhỏ. Khách du lịch thích thú các cơ hội
cứu này cũng như áp dụng tại các địa phương.
Nghiên cứu không xác định chi tiết xem bằng cách nào để nắm bắt và tìm ra phương hướng mà
chỉ có tính chất sưu tầm về các vấn đề va chủ đề đang được cân nhắc và quan tâm. Tại các nước
như Braxin, Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên luôn quan tâm đến vấn đề phát triển chính trị và
thực tế về du lịch sinh thái phù hợp với hoàn cảnh của quốc gia ấy và nghiên cứu chi tiết hơn.
Tuy các nghiên cứu chỉ phục vụ như là tài liệu cho Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên nhưng nó
cũng có giá trị cung cấp thông tin cho các tổ chức và các ngành, đồng thời minh hoạ khả năng
khai thác rộng hơn, công việc và nhiệm vụ của Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên.
Kết luận, sẽ có 12 nghiên cứu được chia thành 4 phần có liên quan đến sáng kiến về du lịch sinh
thái cộng đồng, bao gồm:
A. Cân nhắc xem liệu du lich sinh thái có là một lựa chọn đúng hay không
B. Đưa ra kế hoạch du lịch sinh thái cộng đồng và các liên quan khác;
C. Phát triển các dự án du lịch công đồng mang tính khả thi;
D. Đẩy mạnh các hoạt động có ảnh hưởng tích cực đến môi trường và cộng đồng.
Tuy các sang kiến trên được sắp xếp theo một trật tự liên tục nhưng các nghiên cứu nên được
phát triển hơn để thu về bức tranh hoàn thiện.
Quan điểm của quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên
Quan điểm về du lịch của quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên xác định ngành du lịch nên xây dựng
một mục tiêu chung là bảo vệ môi trường thiên nhiên trong lâu dài. Điều đó có nghĩa là phát triển
và xây dựng du lịch:
- là một phần của chiến lược phát triển bền vững
- phù hợp với việc bảo tồn hệ thống sinh thái tự nhiên; và
- phải có liên quan đến văn hoá và người dân địa phương, đảm bảo tính phối hợp giữa các yêú tố
đảm bảo phù hợp nhất.
Từ đó, các quan điểm này nhằm mục đích phát triển và thúc đẩy du lịch. Quỹ quốc tế bảo vệ
thiên nhiên tin tưởng rằng du lịch nên duy trì môi trường bền vững, kinh tế ổn định và xã hội
công bằng.Tuy chỉ chiếm số luợng nhỏ trong du lịch toàn cầu nhưng du lịch sinh thái là sự liên
hợp của nhiều mục đích tốt, tạo nhiều thuận lợi cho các nơi được cho là khu vực thiên nhiên kể
cả các khu vực được bảo vệ.
Là một tổ chức bảo tồn, Quỹ WWF quan tâm đến việc phát triển du lịch sinh thái nhằm phát huy
- Khuyến khích người dân có ý thức bảo vệ môi trường và;
- Thúc đẩy ý thức người dân, thuân lợi kinh tế và các biện pháp bảo vệ cho môi trường tự nhiên.
Phải xác định rõ ràng về mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương và việc khai thác tài nguyên.
Theo đó, cần phải xác định các vấn đề quan trọng như sau:
- Chúng ta phải có các hành động như thế nào? Ai là đối tượng tham gia hành động này? Như thế
nào được hiểu là bảo vệ và tàn phá môi trường? Thách thức đối với mô hình du lịch sinh thái là ý
thức kém của mọi người, cụ thể đó là vì lợi ích mà tỏ ra thờ ơ với môi trường. Điều này thuộc về
mô hình liên quan đến cộng đồng( theo dõi trong nghiên cứu số 4).
- Loại sáng kiến nào cần thiết để thay đổi quan điểm và hành động nhằm đem lại các lợi ích
trong việc bảo vệ môi trường? Du lịch sinh thái mang lại lợi ích gì? Du lịch sinh thái gây tổn hại
đến môi trường như thế nào khi so sánh với các sáng kiến khác?
- Du lịch sinh thái còn có thể gây ra các tác nhân gì nữa? Liệu có thể ngăn chặn hay không?
- Các thêm các giải pháp nào giảm tải nỗ lực nhưng vẫn thu được các kết quả tương ứng hoặc là
tốt hơn không? Điều này cũng yêu cầu như quy định với du lcịh sinh thái trong bối cảnh phát
triển bền vững( theo nghiên cứu số 3).
Việc phát triển cơ sở hạ tầng về du lịch tại Sabah, Malayxia:
Ở Sabah, Quỹ thiên nhiên hoang dã của Malayxia nỗ lực xây dựng dự án du lịch cộng đồng bền
vững lý tưởng ( MESCOT) dưới sự trợ giúp của Quỹ thiên nhiên hoang dã và Chính phủ Nauy.
Tuy nhiên ở đất nước này liên tục có tình trạng thất thoát về tài nguyên thiên nhiên bởi quả trình
khai thác dầu trái phép. Dự án du lịch sinh thái bền vững lý tưởng nhằm mục đích tạo nguồn thu
lợi nhuận bền vững liên tục. Người dân làng hi vọng Dự án du lịch cộng đồng bền vững lý tưởng
sẽ mang tính khả thi về du lịch sinh thái.
Mô hình này hi vọng sẽ đáp lại mong muốn của dân làng về nhu cầu du lịch sinh thái. Theo đó,
người dân sẽ có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Giai đoạn đầu tiên của việc thực hiện dự án sẽ là các kỹ năng trong cộng đồng để phát triển dự
án thành công.
Các kỹ năng này sẽ bao gồm sự hiếu khách, tài chính, tiếp thị, kỹ năng máy tính và tiếng anh cơ
bản. Nghiên cứu về nguồn tài nguyên và văn hoá sẽ được đưa vào. Bài học quan trọng sẽ là
nghiên cứu về việc xây dựng các sản phẩm du lịch hiệu quả. Cấu trúc luôn rất quan trọng. Theo
đó, việc phát triển nơi ở, dịch vụ thuyền buồm và các sản phẩm thủ công tại các làng nghề phải
tàn phá;
- Các địa phương nên nhân biểt về tiềm năng, tỷ lệ rủi ro và các thay đổi của nó;
- Các cấu trúc tiềm năng mang lại du lịch cộng đồng hiệu quả;
- Không ảnh hưởng đến văn hoá và truyền thống bản địa; và
- Đánh giá thị trường theo nhu cầu tiềm năng và phương tiện hiệu quả để tiếp cận.
Các tiền đề phụ thuộc vào hoàn cảnh các địa phương tuy nhiên vẫn có thể thay đổi theo thời
gian. Chẳng hạn như xung đột biên giới Namibia tại Caprivi liên tục ảnh hưởng đến nhu cầu thị
trường tại khu vực nhưng vẫn có thể hứa hẹn các sang kiến du lịch sinh thái để bình ổn tại khu
vực.
Nếu tiền đề này đáp ứng cũng không có nghĩa là hệ thống du lịch sinh thái sẽ thành công, nó chỉ
có giá trị cho quá trình đem ra phân tích đánh giá cho các bước tiếp theo.
Kiểm tra các tiền đề sẽ được đưa ra nghiên cứu. Căn cứ về tiền đề và cách thức kiểm tra nhanh
về tính khả thi trước đó sẽ được áp dụng giữa cho các ngành hỗ trợ trong lĩnh vực du lịch.
Nhóm bảo vệ thiên nhiên cộng đồng tại Namibia
Tại Namibia, Quỹ thiên nhiên hoang dã chỉ đạo các tổ chức quốc gia và quốc tế nhằm thực hiện
dự án hỗ trợ công tác quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên cộng đồng. Việc gây quỹ thông
qua du lịch để hỗ trợi phát triển và bảo vệ điaj phương là một phần của dự án.
Trước khi độc lập, các cộng đồng đã không có quyền để quản lý và thu các lợi nhuận từ các sản
phẩm tự nhiên mà chỉ đơn giản là duy trì sự sống. Trường hợp như việc mất mát 97 số dê và cừu
trong một đêm được cảnh báo.
Hiện tượng săn bắt trái phép trên diện rộng đã xảy ra. Người đứng đầu các khu vực này đã đứng
ra bổ nhiệm người bảo vệ rừng dưới sự hỗ trợ từ phía các Tổ chức Phi Chính phủ. Sau khi giành
độc lập, quá trình này đã được thắt chặt hơn bằng các luật lệ được quy định bởi Bộ Môi Trường
và Du lịch. Bộ này sẽ quy định cho các cá nhân về quyền hạn cũng như trách nhiệm trong việc
sử dụng, quản lý và thu lợi nhuận từ môi trường tự nhiên cũng như du lịch. Theo đó, Cục bảo vệ
khu vực cộng đồng được thành tlập và đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt trong vấn đề bảo vệ
thiên nhiên tại khu vực.
Nhóm bảo vệ sẽ bao gồm các nhóm người muốn làm việc cùng nhau, đưa ra các quyết định cùng
nhau và giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai dựa theo điều khoản đặt ra. Chính phủ sẽ duy
trì trách nhiệm tổng quát nhằm đảm bảo bền vững và bảo vệ thống nhất.
gây ra cho các ngành khác.
Cùng với sự sáp nhập theo phương ngang nắm giữ trong cộng đồng, sự thành công của các sáng
kiển của du lịch cộng đồng có thể phụ thuộc vào sự sáp nhập cả ở phương dọc ở cấp độ sáng kiến
cấp quốc gia nhằm hỗ trợ và thúc đẩy du lcịh trách nhiệm. Bên cạnh việc liên kết với những cái
đã có, các nỗ lực nên được phát huy nhằm hỗ trợ du lịch sinh thái bao gồm sự phối hợp giữa các
bộ các chính sách du lịch và môi trường. Việc hỗ trợ cấp quốc gia teho hưóng liên kết các hoạt
động bảo vệ và hỗ trợ theo hướng các doach nghiệp nhỏ và các sáng kiến cộng dồng cũng như
việc xúc tiến quốc gia và quốc tế.Ví dụ như ở Brazil, WWF liên tục tìm kiếm chính sách quốc
gia cũng như tiềm năng tại các địa phương.
Các kế hoạch phát triển du lịch sinh thái tại Brazil
Brazil là một minh chứng cho các hỗ trợ được quy về cho du lịch sinh thái. Mặc dù điều này có
thể thúc đẩy việc bảo vệ quốc gia nơi mà ý thức bảo vệ môi trường vẫn còn thấp nhưng nó vẫn
là mối đe doạ cho Brazil bởi một ngành du lcịh không kiểm soát cùng với các mối đe doạ liên tục
tới môi trường tự nhiên. Do đó, Quỹ WWF tại Brazil liên tục nỗ lực xây dựng các chương trình
bảo vệ, theo đó ý thức của người dân cũng dần được cải thệin ở cả cấp đọ quốc gia lẫn địa
phương. Đây là một động lực để phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại Braxin.
Nội dung của chương trình bao gồm:
- Đễ xuất và kiểm tra phương pháp luận về việc đào tạo về du lịch sinh thái cộng đồng dựa vào 8
dự án thí điểm được đa dạng hoá lĩnh vực sinh thái cộng đồng, một cách thức của du lịch sinh
thái;
- Đưa phương pháp luận đến các đại phương tại Brazil, và;
- Xác định phương hướng phát triển hệ thống chứng chỉ về du lịch sinh thái cấp quốc gia.
Đào tạo nhằm mục đích bảo vệ. Quy định liên quan đến các hội thảo trong 6 tháng và sẽ trực tiếp
hỗ trợ kỹ thuật đến các dự án. Các hội thảo bao gồm các học viên nhằm cải thiện phương pháp
luận. Các bài học bao gồm sự cần thiết cảu đội ngũ nhân viên kỹ thuật và sự cần thiết của công
tác tư vấn và nghiên cứu khi đưa du lịch sinh thái đến cộng đồng.
2. Kế hoạch cho du lịch sinh thái cộng đồng
Ba gợi ý tiếp theo liên quan tới các loại cấu trúc và các quy trình cần được thay thế trong một
cộng đồng để phát huy du lịch sinh thái và vì lợi ích của người dân địa phương và môi trường.
Đây không phải là các bước tuần tự và nên được xem xét cùng nhau.
- Đảm bảo chế dộ minh bạch, đơn giản để thu lại sáng kiến tích cực cho các doanh nghiệp tư
nhân; giảm thiểu gánh nặng tài chính; và
- Thiết lập các uỷ ban có người dân địa phương, các doanh nghiệp tư nhân, cơ quan nhà nước và
các tổ chức phi chính phủ để đảm bảo hiểu biết về các điều khoản nhằm giúp đỡ các địa phương.
2.2. Hợp tác tìm kiếm sự nhất quán trong chiến lược
Các nhà tư vấn cộng đồng và các cổ đông khác nên thống nhất chiến lược về du lịch sinh thái
nhằm mang lại lợi ích kinh tế xã hội. Các sáng kiến du lịch sinh thái cộng đồng nên tập trung vào
chiến lược rõ ràng thống nhất và được lĩnh hội bởi cộng đồng địa phương và các cổ đông mà
quan tâm đến lợi ích du lịch và bảo tồn. Chiến lược nên xây
dựng một bức tranh toàn diện đáp ứng nhu cầu và cơ hội trong khu vực, do đó, một loạt các hành
động bổ sung có thể được thực hiện. Một trong những lợi ích chính từ việc xây dựng chiến lược
là cung cấp cho cộng đồng các công cụ và kiến thức cần thiết để đưa ra quyết định sáng suốt.
Chiến lược nên dựa trên cộng đồng lãnh đạo và khai thác quanh cộng đồng . Tuy nhiên, những
người thực hiện phải là những người có kinh nghiệm và kiến thức về du lịch và bảo tồn thiên
nhiên.
Những người tham gia nên bao gồm đại diện của các cộng đồng địa phương, am hiểu các nhà
khai thác du lịch, các doanh nhân địa phương, các tổ chức phi chính phủ có liên quan, cơ quan
bảo tồn bao gồm cả quản lý khu bảo tồn, và chính quyền địa phương. Sự liên kết nên được thực
hiện như phù hợp với cấp chính phủ trong khu vực và quốc gia.
Chiến lược bao gồm:
- Thu tập các thái độ và nhận thức du lịch,các cơ hội và cạm bẫy, kinh nghiệm hiện tại, mối quan
tâm và mức độ quan tâm;
- Đánh giá thị trương toàn diện; và
- Đánh giá về các di sản văn hoá và thiên nhiên; bao gồm các cơ hội mang lại từ du lịch sinh thái
và đánh giá các ưu nhược điểm cũng như cơ hội và thách thức mang lại.
Bên ngoài quá trình chiến lược phải là một tầm nhìn thống nhất cho du lịch sinh thái trong
khoảng thời gian quy định, cùng với việc xác định các mục tiêu, đối tưọngvà các ưu tiên chiến
lược, kế hoạch hành động, và kết quốnc thể kiểm soát.
Kế hoạch hành động nên lấy từ các sáng kiến thực tế, bao gồm phạm vi thời gian, trách nhiệm và
nguồn lực yêu cầu. Cần tránh các sai lầm cũng nhưe hạn chế tham vọng khi đưa ra các mục tiêu.
- Hợp đồng với các Công ty lữ hành về số lượng nhóm tham gia
- Mã số quản lý khách du lịch
- Áp dụng việc đánh giá tác động môi trường, xã hội và văn hóa hệ thống nhằm phát triển các đề
xuất. Điều này được hiểu là nên quan tâm một cách chi tiết của những gì phục vụ du khách,
chẳng hạn như việc lựa chọn các sản phẩm bán cho họ (ví dụ như tránh các đồ tạo tác với một ý
nghĩa thiêng liêng) hoặc sử dụng các nguồn nhiên liệu không phù hợp.
- Quy hoạch cả trong và ngoài khu bảo tồn. Điều này nên bao gồm việc xác định địa điểm và
mức độ quy hoạch cho phép. Trong một số làng và cộng đồng đã xác định cụ thể khu du lịch
sinh thái mà yêu cầu cả về cơ sở cung cấp và các giải pháp bảo tồn động vật hoang dã. Nhìn
chung là phải xác định vị trí nhà nghỉ cho khách du lịch cách xa khu vực làng cộng đồng.
3. Phát triển các dự án du lịch sinh thái cộng đồng
Nhiều dự án du lịch sinh thái không thật sự khả thi và mang lại thất bại. Hai gợi ý tiếp theo
sẽ xác định khó khăn trong việc thực hiện.
3.1. Đảm bảo thực tế thị trường và thúc đẩy hiệu quả
Dự án du lịch sinh thái phải được xây dựng trên sự hiểu biết về nhu cầu thị trường và mong
muốn của người tiêu dùng cũng như cách thức đưa sản phẩm ra thị trường.
Lý do chính các dự án du lịch sinh thái luôn thất bại là bởi nó không thu hút đủ số lượng khách
tham quan. Đó là bởi vì các giả định được đưa ra liên quan đến tiếp thị tại một địa điểm cụ thể
hoặc kinh nghiệm không thực tế và không dựa trên nghiên cứu. Kết quả là, hoạt động khuyến
mại bị chêch hướng. Vấn đề là thiếu kiến thức du lịch không chỉ giữa các cộng đồng địa phương
mình mà còn là thiếu các cơ quan tư vấn và các cơ quan tài trợ.
Việc đánh giá thị trường toàn diện phải được tiến hành thông qua điểm đến và các dự án du lịch
sinh thái tư nhân. Điều này cần xem xét như sau
- Các mẫu, các hồ sơ và các lợi ích của khách du lịch đến khu vực phải dựa trên các khảo sát về
khách du lịch. Về nguyên tắc thì sẽ dễ dàng để duy trì khách du lịch hiện tại hơn là thu hút du
khách mới.
- Vị trí của khu vực phải được nhìn nhận tại các mạch du lịch trong nước. Nếu là sự lệch pha sẽ
gây ra sự khác biệt.
- Mức độ, bản chất và sự tồn tại các sản phẩm du lịch sinh thái sẽ gây ra sự cạnh tranh nhưng
cũng tạo nên tiềm năng.
Việc kết giao các mối quan hệ bên ngoài giúp duy trì lâu dài cho chương trình. Quỹ WWF của
Vương quốc Anh đang hợp tác với Chương trình chuyên sâu về thiên nhiên và du lịch sinh thái
( tên gọi là NEAP), chương trình xác nhận chứng chỉ về du lịch sinh thái có trụ sở tại Úc nhằm
quản lý và xác nhận các tour. Tour đầu tiên đến Trung Quốc đối mắt với nhiều thách thức cho cả
người tham gia lẫn nhân viên cụ thể là về cơ sở vật chất và đối tượng phiên dịch đáp ứng nhu cầu
của khách du lịch mang lại các tour thành công.
Một yếu tố nữa là sự kết hợp giữa ID và các trang web hữu ích. Chẳng hạn như trang web
www.responsibletravel.com có thể đưa thông tin quảng cáo đến các chương trình như các
chương trình của ID mà đáp ứng cá tiêu chí du lịch. Điều này đã nhận được các đánh giá cao từ
các khách hàng về sự minh bạch về đánh giá cũng như quảng bá các sản phẩm.
3.3. Xây dựng các sản phẩm chất lượng
Các sản phẩm du lịch sinh thái cộng đồng nên đảm bảo chất lượng cao và thắt chặt kế hoạch kinh
doanh.
Lý do thứ hai gây ra thất bại là việc liên quan đến chất lượng thực hiện dự án về kế hoạch kinh
doanh.
Chất lượng phải duy trì ở kinh nghiệm và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Điều này có nghĩa
là phải xác định tham gia nghiên cứu thị trường. Mặc dù không qua phức tạp nhưng thành phần
quan trọng của thị trường du lịch sinh thái mà các nhà điều phối tour liên tục quan tâm là tìm
kiếm kinh nghiệm thực tế về môi trường thiên nhiên hoang dã giàu tiềm năng, điều kiện phải
thoải mái và đáng tin cậy và có thể khai thác thúc đẩy kinh doanh. Bên cạnh đó, cũng cần thiết
để khai thác các giá trị về tính cởi mở, tính đặc quyền tịa các khu vực để xúc tiến du lịch sinh
thái.
Có ba yêu cầu mấu chốt như sau:
- Chú ý đến chi tiết, đảm bảo các yêu cầu, cấp độ
- Chất lượng và độ chính xác của quảng cáo và thông tin, đưa ra cam kết nhưng vẫn phải đảm
bảo kết quả pahỉ sát với thực tế. Tất cả khách du lcịh trong thị trường này đang tăng lên trong tốc
độ tìm kiếm cấp độ cao để nắm vững thông tin.
- Tính xác thực và môi trường. Khách du lịch trong môi trường du lịch sinh thái sẽ thích nghi
nhanh với các giá trị truyền thống và giá trị thực.
Thông qua chiến lược quảng cáo
lớn như sói, gấu và mèo rừng luôn mang lại các giá trị kinh tế cao.
Việc phát triển các chương trình bao gồm các yếu tố như sau:
- Tập trung các nhóm kiểm tra sự thích nghi của cộng đồng
- Tập trung vào một nơi, cụ thể là Zarnesti với 27000 dân với một nền kinh tế không ổn định cần
được hỗ trợ;
- Làm việc với các cá nhân trong cộng đồng để phát triển các dịch vụ du lịch, xúc tiến mở rộng
dựa trên kết kết quả;
- Đào tạo người dân địa phương thông qua các chuyên gia được cấp chứng chỉ tại công ty du lịch
quốc gia;
- Xúc tiến công tác bảo tồn thông qua duy trì các cuộc đi bộ đường núi và thăm các di tích di sản
điển hình;
- Thiết lập hiệp hội du lịch sinh thái Zarnesti để xúc tiến dự án;
- Liên kết với các công ty lữ hành chuyên nghiệp; và
Chương trình thu hút 40 nhóm trong năm 2000 và mang lại lợi nhuận cao từ các nhà điều hành.
4.Thúc đẩy các thuận lợi đến cộng đồng và môi trường
Gợi ý thứ 4 nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm cải thiện cách thức thực hiện các sáng kiến
du lịch sinh thái cộng đồng nỗ lực thu về các lợi nhuận xã hội, kinh tế và môi trường.
4.1. Tác động của công tác quản lý.
Các bước chủ yếu nên được xây dựng trong cộng đồng để giảm thiếu ảnh hưởng của môi
trường và tận dụng tối đa lợi nhuân từ du lịch sinh thái.
Thiết kế của tất cả các tòa nhà mới nên được xem xét cẩn thận. Các thiết kế truyền thống và vật
liệu sẵn có ở địa phương nên được sử dụng. Trong một số cộng đồng, thu nhập theo hướng tích
cực thu được đáng kể, ví dụ, cung cấp mái lợp lá.Điều này cần được xem xét trước. Hành động
cần được thực hiện, cả ở giai đoạn phát triển và điều hành cơ sở vật chất, để giảm tiêu thụ nước
và năng lượng, giảm chất thải và tránh ô nhiễm. Công nghệ năng lượng thấp phù hợp với vị trí
nên được áp dụng nếu có thể. Tái chế cần được khuyến khích và tất cả các hình thức xử lý chất
thải nên được quản lý cẩn thận, với một nguyên tắc cách ly lượng chất thải khỏi các di tích như
có thể. Sử dụng phương tiện giao thông giảm thiểu gây ôi nhiễm môi trường trong các quy hoạch
của chương trình và các thông tin được cung cấp.
Để giảm thiểu thâm hụt kinh tế, cần nỗ lực để tạo ra các sản phẩm và dịch tại địa phương và tạo
tránh gây ra thất thoát. Các nguồn vay lãi suất thấp và thẻ tín dụng dài hạn hỗ trợ các địa phương
cần phải xác định đúng lúc. Các uỷ ban địa phương sẽ phê duyệt các vấn đề về tài chính nhằm
mang lại thành công trong các khu vực.
Quan trọng là phải chứng minh được sự thành công của các dự án cộng đồng nhỏ bảo gồm các
chiến lược tín dụng nhỏ để khuyến khích các chương trình hỗ trợ tài chính từ chính phủ và các
nhà tài trợ.
Tầm quan trọng của tiếp thị hiệu quả được (giới thiệu trong Hướng dẫn 7)
Cùng với các lời khuyên tiếp thị kỹ thuật, các dự án cần được hỗ trợ thông qua đánh giá các dữ
liệu nghiên cứu quốc gia, hỗ trợ các cuộc khảo sát khách du lịch và liên kết với các thành phần
tiếp thị nhằm quảng các các công ty lữ hành và các trang web đón khách du lịch quốc gia. Việc
xây dựng nơi đăng ký dự án du lịch sinh thái cộng đồng cần thiêt phải thiết lập hệ thống dự
phòng.
Sẽ là giá trị cho việc cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật thông qua các mạng lưới dự án. Một vài nước
đã thiết lập mối liên kết các sáng kiến du lịch cộng đồng. Cách thức này không chỉ tăng cường ý
thức và hỗ trợ tiếp thị mà còn thúc đẩy chất lượng chung và phân phối hỗ trợ tài chính.
Các dự án du lịch sinh thái dưới sự bảo trợ của Quỹ WWF có kinh nghiệm đào tạo, đặc biệt là ở
Namibia( xem phần 7) và Brazil ( xem phần 9).
4.3. Hỗ trợ của khách du lịch và công ty lữ hành
Các kinh nghiệm du lịch sinh thái nên nâng cao ý thức bảo tồn, các vấn đề cộng đồng giữa
khách du lịch và công ty lữ hành cùng với các cơ chế nhận được hỗ trợ.
Các lợi nhuận thêm có thể thu được thông qua việc cải thiện qaun hệ với khách du lịch, với các
công ty lữ hành. Các lợi nhuận này bao gồm ý thức về các vấn đề môi trường và xã hội, bổ sung
cách cư xử của khách khi tham quan và tiếp nhận sự hỗ trợ trực tiếp cho cộng đồng địa phương.
Các quy tắc ứng xử dành cho du khách nên được quy định. Một vài quy tắc có thể là quy định
chung, tuy nhiên vẫn phải xây dựng các tiêu chí quy tắc phân loại theo từng khu di tích.
Điều này tập trung vào các câu hỏi chẳng hạn như đọc và tìm hiểu trước, lựa chọn các công ty lữ
hànhvà các điểm đến mà tập trung vào các khía cạnh văn hóa địa phương, giảm thiểu tác động
môi trường và tập trung vào vấn đề bảo tồn. Tương tự, mã số cho các công ty lữ hành bao gồm
các vấn đề môi trường và văn hóa tại các địa điểm có liên quan, gắn kết quan hệ với các cộng
đồng bản địa, các thông điệp gửi đến nhân viên và khách hàngvà thêm nhiều hướng dẫn và quy