LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường, thuế được nhìn nhận là một công cụ hữu hiệu của Nhà nước để
điều tiết nền kinh tế. Thuế vừa đáp ứng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa thúc đẩy
phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích đầu tư đồng thời đảm bảo công bằng xã hội.
Trong đó, thuế doanh thu được áp dụng từ ngày 01 tháng 10 năm 1990 nhằm thay thế chế
độ thu quốc doanh đối với kinh tế quốc doanh vàmootj số loại thuế trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh. Thuế doanh thu được áp dụng rộng rãi với mọi ngành nghề, mọi hình
thức kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, thuế doanh thu đã bộc lộ một số
nhược điểm. Đặc biệt, việc tính thuế trên toàn bộ doanh thu qua từng khâu lưu chuyển
hàng hóa, từ sản xuất, bán buôn, đến bán lẻ đã ảnh hưởng không tốt đến giá cả và sản
xuất kinh doanh. Cùng một mặt hàng nếu được tổ chức sản xuất và lưu thông qua ít khâu
thì tổng số thuế phải nộp sẽ ít hơn so với việc được tổ chức qua nhiều khâu. Điều này là
không phù hợp với cơ chế thị trường và kinh tế chuyên môn hóa cao.
Trước những đòi hỏi của thực tiễn, nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ đổi mới kinh tế xã
hội, hệ thống thuế đã được cải tiến một cách đồng bộ nhằm đáp ứng những đòi hỏi của
nền kinh tế. Một trong những sụ kiện quan trọng của công cuộc cải cách thuế là việc xay
dựng và ban hành luật thuế GTGT thay cho luật thuế doanh thu.
Việc áp dụng thuế GTGT đã góp phần tăng thu ngân sách nhà nước và đóng góp tích cực
vào quá trình hiện đại hóa ngành thuế cũng như quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới. Để được như vậy, đòi hỏi phải triển khai công tác thu thuế trên thực tiễn. Cũng như
nhiều sắc thuế khác, việc triển khai công tác thu thuế trên thực tiễn bên cạnh những thành
tựu còn có nhiều hạn chế cần khắc phục. Do đó, nhóm 8 xin lựa chọn đề tài nghiên cứu
là: “Nội dung quản lý thu thuế GTGT. Liên hệ với thực tiễn quản lý thu thuế GTGT ở Việt
Nam hiện nay”. Đây là một đề tài có ý nghĩa thiết thực và hữu ích, cần được nghiên cứu
một cách toàn diện và sâu sắc.
NỘI DUNG
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT ở Việt Nam.
1.1 Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT ở Việt Nam.
1.1.1 Thuế
a. Khái niệm
Có nhiểu quan niệm khác nhau về thuế, tùy thuộc về các lĩnh vực, góc độ nghiên cứu
• Thuế là hình thức phân phối lại, gắn chặt với các hoạt động kinh tế của Nhà nước
Thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào
NSNN. Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và chi tiêu
cho nhiều hàng hóa hơn là người nộp thuế nhiều hơn. Số tiền này sau đó lại được Nhà
nước chi tiêu vào hàng hóa công cộng, trợ cấp hưu trí, y tế,…tạo ra tính công bằng tương
đối cho xã hội.
1.1.2. Thuế giá trị gia tăng (VAT)
a. Khái niệm
Trước khi thuế giá trị gia tăng ra đời, nước ta đã áp dụng thuế doanh thu. Đây là một
loại thuế bị thu trùng ở nhiều giai đoạn khác nhau, từ sản xuất đến tiêu dùng. Từ đó, để
hạn chế việc tính trùng thuế ở các giai đoạn, thuế GTGT đã ra đời.
Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
nhằm động viên một phần thu nhập của người dân vào ngân sách nhà nước
b. Đặc điểm
• Thuế GTGT là loại thuế gián thu
Thuế GTGT là loại thuế đánh trực tiếp vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành giá cả hàng hóa và dịch vụ, được cộng thêm
vào giá bán của người cung cấp.
• Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lắp
Thuế GTGT đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở các giai đoạn từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ đó. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả
các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
• Thuế GTGT có tính trung lập cao
Thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do
người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào
NSNN. Do đó, thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là
một khoản thu được cộng thêm vào giá bán hàng hóa.
Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất
kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán
cuối cùng, bất kể số giai đoạn nhiều hay ít.
Đối với các hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa, dịch vụ hưởng hoa hồng , giá
chưa có thuế làm căn cứ tính thuế là tiền hoa hồng thu từ các hoạt này.
Đối với gia công hàng hóa là giá gia công chưa có thuế(bao gồm tiền công, nhiên liệu,
động lực, vật liệu phụ và chi phí khác để gia công)
Đối với loại hàng hóa, dịch vụ đặc thù được dùng loại chứng từ thanh toán ghi giá thanh
toán là giá đã có thuế GTGTthì giá chưa có thuế được xác định như sau:
Gía tính thuế = Gía có thuế / (1+ % thuế suất của hàng hóa- dịch vụ đó)
Thời điểm xác định giá tính thuế GTGT là thời điểm cơ sở kinh doanh đã chuyển giao
quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa, dịch vụ( đối với trường hợp xây dựng , lắp đặt là
thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, khối lượng xây dựng lắp đặt hoàn thành)
không phân biệt đã thu được tiềm hay chưa thu được tiền.
1.1.2.2.2 Thuế suất
Điều 7 Nghị định số 158/2003/NĐ-CP quy định hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu gia
công xuất khẩu được hưởng thuế xuất 0%, 21 loại hàng hóa, dịch vụ hưởng thuế suất 5%.
Còn lại đa số các ngành nghê kinh doanh hàng hóa dịch vụ đều chịu thuế suất 10%. Việc
quy định ít mức thuế suất như trên tạo điều kieennj thuận lợi cho việc tính thuế cũng như
kiểm soát công tác thu nộp thuế, thể hiện rõ tính ưu việt của thuế GTGT so với thuế
doanh thu.
Phương pháp tính thuế
Có 2 phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp
tính thuế trực tiếp trên thuế GTGT
1, Phương pháp khấu trừ thuế
a, Đối tượng áp dụng: Các đơn vị tổ chức KD, DN thành lập theo luật DN, Luật HTX,
DN có vốn đầu tư nước ngoài và những đơn vị, tổ chức kinh doanh khác đã thực hiện
đầy đủ các điều kiện về kế toán, HĐ, Ctừ.
b, Điều kiện về hóa đơn chứng từ:
Sử dụng hóa đơn GTGT
Phải ghi đầy đủ, đúng nội dung quy định bao gồm cả khoản phụ thu, phí thu thêm (nếu
có)
c, Cách tính:
Lưu ý: Trường hợp hàng hóa, dịch vụ DN phải nộp thuế gián thu như thuế TTĐB, thuế
XK thì khi xác định GTGT phải trừ đi thuế gián thu đã nộp của hàng hóa dịch vụ đó.
1.1.2.2.3 Kê khai và nộp thuế GTGT
a, Đăng kí nộp thuế GTGT
Tất cả các cơ sở KD thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo qui định của Luật thuế
GTGT đều phải đăng ký với cơ quan thuế nơi cơ sở kinh doanh về các nội dung và các
chỉ tiêu lien quan thao hướng dẫn của cơ quan thuế.
b, Kê khai thuế GTGT
Các cơ sở KD hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải lập và gửi cho cơ quan thuế
tờ khai tính thuế GTGT từng tháng kèm theo bảng kê hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán
theo mẫu qui định. Thời gian gửi tờ khai của tháng chậm nhất là ngày 20 của tháng tiếp
theo.
c, Nộp thuế GTGT
Đối tượng nộp thuế GTGT có trách nhiệm nọp thuế GTGT đầy đủ, đúng hạn vào
ngân sách nhà nước.
Trình tự thủ tục nộp thuế thực hiện như sau:
Cơ sở KD nộp thuế theo phương pháp khẩu trừ thuế sau khi nộp tơ khai thuế GTGT cho
cơ quan hải quan thuế phải nộp thuế GTGT vào NSNN. Thời hạn nộp thuế của tháng
chậm nhất không quá 20 ngày của tháng tiếp theo.
Đối với cơ sở kinh doanh có mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng làm thủ tục nộp thuế
bằng giấy nộp tiền vào NSNN, thời hạn nộp thuế vào NSNN được tính từ ngày ngân hàng
nhận và làm thủ tục trích chuyển tiền từ tài khoản của cơ sở vào NSNN. Đối với cơ sở
kinh doanh nộp thuế bằng tiền mặt thời hạn nộp thuế vào NSNN là ngày cơ quanKB
hoặc cơ quan thuế nhận tiền thuế.
Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp số thuế GTGT còn thiếu vào NSNN sau 10 ngày kể
tư ngày nộp báo cáo quyết toán thuế, nếu nộp thừa được trừ vào thuế phải nộp của kỳ tiếp
theo, hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở thược đối tượng được hoàn thuế.
Tổ chức, cá nhân( hộ) KD nộp thuế GTGT theo phương pp tính trực tiếp trên GTGT có
kê khai và thực hiện nộp thuế theo thong báo thuế của cơ quan thuế, thời hạn nộp thuế
chậm nhất không quá 20 ngày của tháng tiếp theo. Đối với cá nhân( hộ) KD nộp thuế
Đối tượng được hưởng ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo pháp lệnh về ưu đãi miễn trừ
ngoại giao.
1.1.2.3 Vai trò của thuế GTGT
Thuế GTGT là một trong những thuế tạo nguồn thu quan trongjtrong NSNN của
quốc gia
Thuế GTGT góp phần khuyến khích chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất để nâng cao
năng suất, chất lượng hạ giá thành sản phẩm
Thuế GTGT có tác dụng khuyến khích xuất khẩu hàng hóa.
Thuế GTGT góp phần thúc đẩy các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện tốt chế đọ kế
toán.
1.2. Công tác quản lý thu thuế GTGT ở Việt Nam
1.2.1. Công tác quản lý thu thuế
1.2.1.1. Khái niệm
Quản lý thu thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân
sách nhà nước thực hiện. Đặt ra thuế là đặc quyền thuộc Nhà Nước. Lập kế hoạch thu, tổ
chức thu thuế, kiểm tra, thanh tra và xử phạt hành thuế đương nhiên là những nghiệp vụ
nội hàm đặc quyền đó. Chúng được gọi chung một tên là quản lý thu thuế. Có thể hiểu
đơn giản đấy là những hoạt động thường xuyên của cơ quan thu hướng về phía đối tượng
nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định. Đặc biệt, khi hiểu biết
chung của toàn xã hội về ý nghĩa và vai trò của thuế ngày càng tăng thì càng đòi hỏi bộ
máy quản lý thu thuế hoàn thiện tính chuyên nghiệp và hợp tác thân thiện với đối tượng
nộp thuế. Nộp thuế trở thành hành vị thể hiện quyền công dân. Quản lý thu thuế phải góp
phần hỗ trợ công dân thực thu quyền và nghĩa vụ của mình.
• Mục tiêu của quản lý thu thuế:
Đảm bảo kế hoạch thu ngân sách NN một cách đầy đủ và kịp thời.
Nâng cao mặt bằng nhận thức của dân chúng và cả bộ phận nhân viên thuế về vai trò của
thuế đối với đời sống kinh tế- xã hội của đất nước.
Thực hiện tốt nhất dự toán thuế đã được các cơ quan quyền lực NN quyết định .
Bảo đảm các văn bản pháp luật về thuế được thực thi một cách nghiêm chỉnh trong thực
tiễn đời sống xã hội.
thuế được đưa vào áp dụng trong thực tiễn nền kinh tế.
- Nguyên tắc công khai: Vì đối tượng nộp thuế là rất rộng, do đó nguyên tắc
công khai cho phép kiểm tra lẫn nhau: cán bộ thuế kiểm tra việc thực hiện
nghĩa vụ đóng thuế đồng thời đối tượng nộp thuế có thể kiểm tra giám sát
cán bộ thuế.
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Bất cứ một hoạt động kinh doanh nào
cũng có đối tượng lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, dó đó phải có chi
phí trực tiếp và chi phí gián tiếp nhưng trong thuế đều do đối tượng nộp thuế
gánh chịu, vì vậy phải làm sao cho thực sự tiết kiệm và hiệu quả nhất.
1.2.2.2. Vai trò, nội dung quản lý thu thuế GTGT
a. Vai trò:
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ đảm bảo nguồn thu
cho Ngân sách Nhà nước mà còn là một công cụ quan trọng để Nhà nước có thể
quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế
là nguồn thu chủ yếu của NSNN, ở Việt Nam theo thống kê của tổng cục thuế thì
trên 90% NSNN là từ thuế, đặc biệt là thuế GTGT. Thuế GTGT là một loại thuế
tiến hộ, điều tiết rộng rãi hầu hết mọi đối tượng trong nhân dân, thuế GTGT có vai
trò rất to lớn trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Vì vậy, công tác quản lý
thu thuế GTGT mặc nhiên trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia.
Sau 15năm thi hành luật thuế GTGT (luật thuế GTGT ở Việt Nam có hiệu
lực từ ngày 1/1/1999), bên cạnh những thành tựu đạt được còn vấn đề bất cập:
- Các vụ gian lận thuế GTGT ngày càng nhiều, hình thức càng ngày càng tinh
vi hơn cho thấy vấn đề gian lần thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm
và đáng báo động bởi nó tạo ra sự bất công bằng cho các đối tượng nộp thuế.
- Do nhiều người còn nhận thức chưa đầy đủ về nghĩa vụ nộp thuế, ý thức
chấp hành luật thuế GTGT còn chưa cao dẫn đến tình trạng thất thu thuế.
- Luật thuế GTGT còn chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay, do đó
công tác quản lý thu thuế còn gặp nhiều vấn đề khó khăn, hạn chế.
Vì vậy cần phải tăng cường hiệu quả công tác quản lý thu thuế GTGT cũng
như tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân để công tác nộp thuế ngày càng
- Cơ sở kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ có mức thuế suất thuế giá trị
gia tăng khác nhau phải kê khai thuế giá trị gia tăng theo từng mức thuế suất quy
định đối với từng loại hàng hoá, dịch vụ; nếu cơ sở kinh doanh không xác định
được theo từng mức thuế suất thì phải tính và nộp thuế theo mức thuế suất cao nhất
cuả hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở có sản xuất, kinh doanh.
3. Nộp thuế:
Thuế giá trị gia tăng nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định sau:
- Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách
nhà nước theo thông báo nộp thuế cuả cơ quan thuế. Thời hạn nộp thuế cuả tháng
được ghi trong thông báo chậm nhất không quá ngày 25 cuả tháng tiếp theo.
- Cơ sở kinh doanh, người nhập khẩu hàng hoá phải nộp thuế giá trị gia tăng
theo từng lần nhập khẩu. Thời hạn thông báo và thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng
đối với hàng nhập khẩu thực hiện theo thời hạn thông báo và thời hạn nộp thuế
nhập khẩu.
- Trong kỳ tính thuế, cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương
pháp khấu trừ thuế, nếu có số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra thí được khấu
trừ vào kỳ tính thuế tiếp theo. Trong trường hợp cơ sở kinh doanh đầu tư mới tài
sản cố định, có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được
hoàn thuế theo quy định cuả Chính phủ.
- Thuế giá trị gia tăng nộp vào ngân sách nhà nước bằng đồng Việt Nam.
4. Quyết toán thuế:
Cơ sở kinh doanh phải thực hiện quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế.
Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ
ngày kết thúc năm, cơ sở kinh doanh phải nộp báo cáo quyết toán thuế cho cơ quan
thuế và phải nộp đủ số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán, nuế nộp thừa thì được trừ vào số thuế
phải nộp kỳ tiếp theo.
Trong trường hợp cơ sở kinh doanh sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể,
phá sản, cơ sở kinh doanh cũng phải thực hiện quyết toán thuế với cơ quan thuế
trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày có quyết định trên.
- Tập trung và huy động nguồn thu cho NSNN không ngừng phát triển và
nuôi dưỡng nguồn thu. Thuế chiếm trên 90% nguồn thu của NSNN, do vậy
cần phải quán triệt công tác quản lý thuế để đảm bảo cho Nhà nước thự hiện
được chức năng của mình và hạn chế thâm hụt ngân sách.
- Phát huy tốt nhất vai trò của thuế: Vai trò của thuế tồn tại và phát huy khi
mà đối tượng thực hiện nộp thuế áp dụng một cách tốt nhất sắc thuế đó trong
thực tế.
- Nâng cao ý thức chấp hành luật thuế và pháp luật của Nhà nước. Nhà nước
tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô thông qua luật và pháp lệnh, luật thuế
mang tính cưỡng chế cao. Vì vậy việc thực thi chính sách thuế tốt sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả sống và làm việc theo pháp luật.
Quản lý thu thuế GTGT còn có những mục tiêu cụ thể sau:
- Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN, tăng về tỷ trọng trong tổng
số thu thuế gián thu nói riêng và thu ngân sách nói chung để đảm bảo tình
hình cắt giảm thuế Nhập khẩu trong quá trình tham gia hội nhập.
- Phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Khuyến khích phát triển sản xuất và dịch vụ đặc biết là xuất khẩu.
- Đơn giản hóa chính sách, tăng cường tính trung lập của thuế.
YÊU CẦU CHÍNH LÀ NGUYÊN TẮC.
Phần 2; Thực trang quản lý thu thuế GTGT ở việt Nam hiện nay
2.1 Tình hình phát triển kinh tế ở việt nam giai đoạn 2010-2013 ảnh hưởng đến công tác
quản lý thu thuế
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng bất ổn khá nghiêm
trọng, đặc biệt là giai đoạn 2010- 2012. Nguyên nhân được bắt nguồn từ những tác động
tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và cuộc khủng hoảng nợ công châu âu đã
khiến cho bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam xám xịt. Lạm phát liên tục tăng cao từ mức
11,8% năm 2010 lên đến mức đỉnh 18,13% năm 2011, đã đẩy nền kinh tế rơi vào tăng
trưởng nóng rất nguy hiểm. Và để hạn chế tình trạng giá cả leo thang, bong bóng bất
động sản liên tục phình to như vậy, chính phủ đã đưa ra các công cu mạnh bao gồm cả
chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa như thắt chặt nguồn cùng tiền trên thị trường,
Với bản chất là loại thuế tiêu dùng, thuế GTGT vẫn tiếp tục phát huy vai trò là loại
thuế có số thu đóng góp vào Ngân sách nhà nước nhiều nhất, đặc biệt trong giai đoạn
hiện nay, thuế GTGT càng phát huy vai trò là loại thuế gián thu đóng vai trò quan trọng
do đây là loại thuế ít biến động và ít thay đổi hơn thuế thu nhập doanh nghiệp hay thuế
thu nhập cá nhân. Ngoài ra, thuế GTGT được nộp vào ngân sách kịp thời (ngay trong kỳ
phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ) nên thuế GTGT tạo nguồn thu đều đặn
cho nhà nước trong bối cảnh nhiều quốc gia phải đối mặt với tình trạng giảm lượng tiền
mặt do số thu về thuế giảm và chi ngân sách tăng.
Trong những năm gần đây, mặc dù nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn,
thách thức do ảnh hưởng bởi kinh tế thế giới nhưng số thu từ thuế GTGT vẫn được bảo
đảm, cụ thể:
Đơn vị tính: tỷ đồng
STT CHỈ TIÊU 2008 2009 2010 2011 2012
1 Tổng thu NSNN
430.54
9
442.340
559.17
0
704.26
7
742.650
2 Thuế GTGT:
- Tổng thu chưa trừ hoàn thuế
125.55
4
146.146
204.96
4
253.11
chứng minh vì vậy trong nhiều trường hợp phạm vi mức độ của thuế GTGT không được
xác định đúng. Lại cộng thêm tiêu chí phân định danh mục hàng hoá, dịch vụ dựa trên
tính năng công dụng và mục đích sử dụng hàng hoá, dịch vụ để xác định mức thuế suất,
nên trong nhiều trường hợp cùng một mặt hàng có thể bị áp dụng các mức thuế khác nhau
Qua quá trình triển khai thực hiện, những quy định của Luật thuế GTGT đã đi vào
cuộc sống, tác động tích cực đến nhiều mặt kinh tế, xã hội của đất nước và đạt được mục
tiêu đề ra khi ban hành Luật. Tuy nhiên, do những biến động nhanh về kinh tế - xã hội và
trước yêu cầu ngày càng cao về hiện đại hóa công tác quản lý thuế nên một số quy định
của Luật đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cần phải được sửa đổi, bổ sung. Ngày
19/6/2013, Quốc Hội khoá 13 đã thông qua Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế GTGT, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.
- Bổ sung quy định “giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường là
giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT”. Việc bổ sung quy định
này là để bảo đảm đồng bộ trong hệ thống chính sách thuế và phù hợp với nguyên tắc và
thông lệ quốc tế về giá tính thuế GTGT là giá bán cuối cùng chưa có thuế GTGT. (Theo
Luật thuế bảo vệ môi trường thì Thuế BVMT là khoản thuế gián thu tính bằng mức tuyệt
đối cộng vào giá bán của hàng hoá chịu thuế do người mua, người nhập khẩu hàng hoá
trả. Thuế BVMT cấu thành trong giá vốn hàng hoá của người nộp thuế BVMT. Do vậy
trong các khâu sau khâu nộp thuế người bán không thể xác định được số thuế BVMT
trong giá trị hàng hoá khi bán cho khách hàng, không tách được thuế BVMT khỏi giá tính
thuế GTGT).
- Bổ sung quy định về nguyên tắc xác định hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu áp dụng thuế
suất 0% là “Hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, trong khu phi thuế
quan; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính
phủ”. Việc bổ sung quy định này nhằm đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế về việc xác
định hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được căn cứ vào nơi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ ở
nước ngoài, kể cả các loại hình dịch vụ thực hiện trong nước nhưng được sử dụng (tiêu
dùng) ở nước ngoài, tránh các trường hợp lách luật (cung cấp dịch vụ cho nước ngoài
nhưng thực tế dịch vụ tiêu dùng tại Việt Nam) cũng như giải quyết được vướng mắc cho
NNT trong trường hợp dịch vụ được xuất khẩu và được tiêu dùng ngoài Việt Nam
hiểm;
• Doanh thu hoa hồng đại lý được hưởng từ hoạt động đại lý bán hàng hoá, dịch vụ thuộc
diện không chịu thuế GTGT.
Tính đến ngày 01/01/2012, số lượng doanh nghiệp tăng lên khoảng 162.000 doanh
nghiệp so với thời điểm năm 2008 khi ban hành Luật. Số lượng lớn doanh nghiệp tăng
thêm này đều phải kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khiến chi phí, thời
gian kê khai, nộp thuế GTGT đối với người nộp thuế và chi phí quản lý của cơ quan thuế
đều tăng mạnh tương ứng. Một số ít doanh nghiệp lợi dụng cơ chế thông thoáng trong
việc thành lập doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp chỉ nhằm mua bán hoá đơn, lợi
dụng hoá đơn khống để khấu trừ, hoàn thuế làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh
doanh, gây thất thu cho NSNN.
Thực tế này đòi hỏi phải có cơ chế ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp
khấu trừ để khắc phục những vướng mắc hiện hành, như kinh nghiệm các nước đã thực
hiện và đạt kết quả tốt.
Các chuyên gia quốc tế (IMF, WB, IFC) khi đánh giá hệ thống thuế GTGT của Việt
Nam cũng cho rằng việc không quy định ngưỡng phải đăng ký hiện hành đã đẩy các
doanh nghiệp/ĐTNT nhỏ vào hệ thống thuế GTGT đã dẫn đến sự không hiệu quả khi
đánh giá chi phí quản lý bỏ ra trên một đồng tiền thuế thu được. Vì vậy, các tổ chức này
đều khuyến nghị Việt Nam cần quy định một mức ngưỡng đăng ký thuế GTGT, đồng
thời áp dụng chế độ thuế đơn giản đối với những đối tượng dưới ngưỡng quy định.Chính
vì vậy Luật thuế GTGT mới bổ sung quy định về ngưỡng doanh thu nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ là: Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh và trừ trường hợp có
đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ. Như vậy, từ ngày 01/01/2014 hộ, cá
nhân kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp –
không thuộc đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ kể cả trường hợp có doanh thu
hàng năm trên 1 tỷ.
Thuế GTGT là một sắc thuế có số thu ngân sách lớn nhất trong hệ thống chính sách
thuế hiện nay. Với các nội dung sửa đổi, bổ sung trong Nghị định sẽ tiếp tục tạo điều kiện
cho người nộp thuế nộp đúng và đủ số thuế phải nộp và cơ quan thuế thuận lợi hơn trong
khai khấu trừ tối đa nâng từ 03 tháng lên 6 tháng; yêu cầu phải có chứng từ thanh
toán qua ngân hàng đối với giá trị mua vào từng lần từ hai mươi triệu đồng trở lên;
quy định tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ thuế
đầu vào để khuyến khích đầu tư, đã tạo thuận lợi hơn cho công tác hạch toán kế
toán và bảo đảm quyền lợi của doanh nghiệp làm ăn chân chính, ngăn chặn các
hành vi mua bán, sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, gian lận trong khấu trừ, hoàn