SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SÁNG TẠO MỘT SỐ BIỆN PHÁP
MỚI GIÚP TRẺ HỌC TỐT MÔN
KHÁM PHÁ KHOA HỌC
Phần mở đầu
I.1 / Lý do chọn đề tài
Giáo viên mầm non những người thầy đầu tiên trong hệ thống giáo dục,
chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp trồng người.
Bác Hồ kính yêu đã dạy rằng “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
phải trồng người” vì lợi ích của cả dân tộc, của cả quốc gia, vì trẻ em là hạnh phúc
của mọi gia đình, của mọi nhà việc bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ không phải chỉ là
trách nhiệm của mọi người mà của toàn xă hội.
Vậy thì mỗi giáo viên mầm non chúng ta cần chung tay gieo trồng chăm sóc
và bảo vệ trẻ như thế nào?
Trẻ em như một tờ giấy trắng làm quen với môi trường xung quanh chính là
bắt đầu thích ứng đến lĩnh hội và cải tạo môi trường. ca dao xưa có câu “ Dạy con
từ thủa còn thơ” đã đúc rút ra từ kinh nghiệm “ Dạy con rèn người” của ông cha ta.
Mỗi chúng ta đều được lớn lên từ những môi trường đầu tiên. Đó là những tiếng ru
ngọt ngào của bà, của mẹ. Những ngọn đèn cháy lung linh trong đêm, những ngôi
sao nhỏ lấp lánh trên cao. Môi trường âm thanh và hình ảnh xung quanh đó đều
mang lại nguồn biểu tượng vô cùng phong phú và theo trẻ cho đến hết cuộc đời, đã
gợi lên lòng yêu quê hương, đất nước ở mỗi con người. Khám phá môi trường
xung quanh trẻ có vốn hiểu biết những gì quanh mình và sẽ hình thành nên nhưng
thói quen tốt, xấu của trẻ. Đất nước ta ngày một phát triển do vậy con người cần
Tôi viết sáng kiến ra đây cho nhưng chị em trong ngành cùng tham khảo và
góp ý. Chúng ta hãy vì nền giáo dục của mầm non hãy tạo nền tảng vững chắc cho
chặng đường khôn lớn của trẻ các bạn nhé.
I. 2/ Mục đích- Nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích: I. 2/ Mục đích- Nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
- Tôi nghiên cứu đề tài này để tìm ra một số biện pháp mới giúp trẻ làm quen với
môi trường xung nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá cái mới, cái lạ ở trẻ.
- Đề tài thành công trẻ sẽ khám phá khoa học một cách hứng thú có tác dụng giáo
dục về mọi mặt: Ngôn ngữ, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ thể lực
- Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong công
tác chăm sóc cho trẻ mầm non ở 5- 6 tuổi. Sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc
lực cho quá trình hình thành nhân cách cho trẻ.
* Nhiệm vụ của đề tài
- Tìm ra giải pháp mới và thực hành áp dụng rồi kiểm tra đánh giá kết quả trên trẻ
- Các phương pháp biện pháp nghiên cứu phải đảm bảo tính khoa học.
- Đề tài có tính ứng dụng thực tiến phù hợp với đối tượng nghiên cứu.
I.3/ Đối tượng nghiên cứu
- Tôi chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ Mầm Non 5-6 tuổi trường Mầm Non Hoa
Sen.
- Căn cứ vào thực tế và kinh nghiệm tôi chọn nghiên cứu của đề tài: “Sáng tạo một
số biện pháp mới giúp trẻ học tốt môn khám phá khoa học”.
I.4 / Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
- Tôi giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu là tìm ra một số biện pháp mới giúp
trẻ khám phá khoa học.
-Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình tôi có sử dụng một số giáo trình
thuộc bộ môn khám phá khoa học và tư liệu của đồng nghiệp để nghiên cứu.
Điều này đòi hỏi cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển
của đứa trẻ trong quan hệ với hiện thực.
- Sự mở rộng và làm phong phú kinh nghiệm xã hội của trẻ diễn ra trong quá trình
giao tiếp giữa trẻ với bạn, với người lớn khi trẻ đến trường mầm non, nhờ
đó mà trẻ không chỉ nhận được thông tin ở MTXQ mà còn nắm được cách thể hiện
hành vi mối quan hệ tình cảm giữa người với người.
* Theo cơ sở tâm lý của môn học:
- Qua các kết quả nghiên cứu tâm lý khẳng định rằng trẻ 5-6 tuổi diễn ra mạnh mẽ
nhất về tâm lý. Tư duy ngôn ngữ của trẻ phát triển gần như hoàn thiện.Trong quá
trình sống trẻ tích lũy được nhiều kinh nghiệm và trẻ 5-6 tuổi đã xuất hiện sự tự
nhận thức ở trẻ.
- Trẻ ở tuổi này lĩnh hội các biểu tượng khái quát về sự vật hiện tượng hiểu được
mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Nếu được giáo dục một cách
đúng đắn trẻ không những chỉ lĩnh hội tri thức về sự vật, hiện tượng xung quanh,
mà còn học được cách tiếp cận đối tượng, cách thức khám phá sự vật hiện tượng
trong MTXQ. Chính quá trình khám phá môi trường đã tạo điếu kiện để trẻ phát
triển thể chất, thẩm mỹ đạo đức và lao động cho trẻ.
- Hưỡng dẫn trẻ KPKH là phương thức hoạt động gắn bó giữa giáo viên và trẻ
nhằm tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với MTXQ để trẻ thích ứng với môi trường,
nhận thức về MT, tích cực tham gia cải tạo MT thỏa mãn nhu cầu khám phá và
phát triển bản thân trẻ.
- Để giúp trẻ làm tốt vai trò chủ thể của quá trình khám phá thế giới xung quanh
giáo viên cần quan tâm đến nhu cầu, hứng thú của trẻ tận dụng các biện pháp, các
cơ hội trong cuộc sống cho trẻ được khám phá sự vật hiện tượng xung quanh chúng
cho trẻ được trải nghiệm cảm xúc, tích lũy kinh nghiệm để đi đến hiểu biết bản
chất của sự vật hiện tượng và có kỹ năng sống phù hợp.
II. 2 Thực trạng
- Năm học 2011-2012 bản thân được phân công giảng dạy tại lớp lá 3 trường Mẫu
giáo Hoa Sen.
- Khả năng phân nhóm phân loại tốt.
- Cháu rất hăng say với hoạt động thực hành nhận thức ngày càng phát triển.
- Kỹ năng sống của trẻ ngày càng tiến bộ.
- Cháu biết phân biệt cái đúng cái sai và có những hành vi ứng xử phù hợp với yêu
cầu xã hội.
* Hạn chế:
- Tôi chưa tìm ra được biện pháp hay để cho trẻ khuyết tật phát triển tốt nhất hoạt
động cùng lúc với trẻ bình thường
- Một số cháu dân tộc tại chỗ ( Ê Đê) vẫn còn hạn chế trong cách tiếp cận biện
pháp mới của tôi
- Chưa mạnh dạn đưa ý kiến đề xuất sử dụng biện pháp mới lên các đối tượng trẻ
cùng độ tuổi trong trường để thử nghiệm khảo sát cùng lúc với các lớp bạn.
- Đối tượng nghiên cứu còn hạn chế.
c. Mặt mạnh – Mặt yếu
* Mặt mạnh :
-Tôi được đào tạo 3 năm tập trung tại trường trung cấp chính quy chuyên ngành
mầm non, đã học hết xong khóa học đại học từ xa có kinh nghiệm hiểu về đặc
điểm tâm sinh lý của trẻ với những bộ môn khác nhau nên có sẵn một số kiến thức
về bộ môn KPKH.
- Có kinh nghiệm 13 năm công tác từ các vùng miền nông thôn, thành phố miền
xuôi, miền núi khác nhau nên có một số kinh nghiệm trong việc đánh giá quan sát
khảo sát trẻ.
* Mặt yếu:
- Sử dụng máy tính chưa thành thạo nên để tải hình ảnh từ mạng còn phải nhờ đồng
nghiệp hoặc nhờ người thân.
- Tôi sử dụng tiếng dân tộc thiểu số còn yếu mà trong lớp học sinh dân tộc thiểu số
lại khá đông, nên vận dụng biện pháp mới cũng gặp không ít nan giải.
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
-Nguyên nhân, yếu tố chính thúc đẩy tôi nghiên cứu đề tài này là vì sự trăn trở của
STTN
ỘI DUNG K
ết
qu
ảT
ỐT
-
KHÁ
TB
Y
ẾU
1
K
ỹ năng quan sát,t
ìm ra
đ
ặc điểm v
ện cái mới lạ v
à có thái đ
ộ h
ành
động phù hợp
16 cháu
53,33%
8 cháu
26,66%
6 cháu
20%
4
Có kỹ năng sống và khả năng giao tiếp
tốt
15 cháu
50%
10 cháu
33,33%
5 cháu
16,66%
ơi, mẹ ơi vì sao xung quanh ta lại có nhiêu cái lạ thế? lại có cháu nói cô ơi cháu
biết rồi, trẻ phán đoán và tìm ra câu trả lời trí tưởng tượng của trẻ 5 tuổi sẽ bay xa
bay cao và phát triển một cách tốt nhất đấy các bạn a.
Với biện pháp này tôi đã áp dụng rất thành công ở trẻ lớp tôi tôi đưa ra đây một số
thí nghiệp cho chị em cùng tham khảo nhé:
* Thí nghiệp 1: Dạy trẻ cách phòng tránh bệnh “ Tay, chân, miệng”
Thực hiện:
Tôi cho cháu xem các hình ảnh về bệnh tay,chân, miệng và giải thích cho cháu
biết chân tay miệng là bệnh rất dễ lây truyền. Tôi cũng cho cháu biết con vi trùng
lây bệnh rất nhỏ bằng mắt thường không thể nhìn thấy. Đồng thời làm một thí
nghiệm cho trẻ xem:
Tôi dùng một lọ nước hoa xịt nước hoa vào 1 trẻ cho các bạn trong lớp nhận xét
bạn đó rất thơm hỏi cháu: Các con có nhìn thấy gì không mà sao thơm thế?
Tôi nói cho cháu biết có nhiều thứ tồn tại mà không nhìn thấy bằng mắt.
Tôi cho cháu làm thí nghiệm cùng nhau như: Xịt nước hoa vào tay bạn A rồi cho
cháu ngửi và nhận xét tay bạn A thơm – Cho lớp ngửi tay bạn B không xịt nước
hoa và nhận xét tay bạn B không thơm - sau đó cho 2 cháu bắt tay nhau một lúc.
rồi lại cho lớp ngửi tay 2 bạn và các cháu phát hiện ra tay bạn B bây giờ đã thơm
như tay bạn A, Tôi nói cho cháu biết con vi khuẩn cũng nhỏ như mùi nước hoa và
đặt câu hỏi: Các con có nhìn thấy con vi khuẩn của bệnh tay, chân, miệng không.
Qua đó tôi cho cháu biết tay, chân, miệng lây qua các đường giao tiếp như: Nếu
người bị bệnh cầm đồ chơi thì con vi khuẩn của bệnh sẽ bám vào đồ chơi đó . Đồ
chơi đó mà không được rửa sạch bằng xà bông hoặc không được sát trùng thì khi
người khác cầm vào đó con vi trùng sẽ bám vào tay và người lành lại lây bệnh.
Bệnh còn lây qua đường hô hấp trong khi nói chuyện với nhau và dạy cháu phòng
bệnh bằng cách thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Thường xuyên tự vệ sinh đồ
chơi trong lớp và ở nhà sẽ phòng tránh được bệnh chân, tay, miệng…
Một tiết học rất nhẹ nhàng không cần nhiều đồ dùng, đồ chơi mà tôi cảm thấy các
cháu rất say mê với việc được khám phá và tiết học đạt hiệu quả rất cao.
cho tôi về những thành quả do cháu đã thí nghiệm ở nhà như: Hoa đổi màu, nhuộm
quả…
Tôi thật sự phấn khởi với những phương pháp, biện pháp khi cho cháu thí
nghiệm đạt hiệu quả cao giúp trẻ say mê khám phá khoa học.
Biện pháp 2: Khám phá khoa học qua vật thật bằng hình thức tham quan.
+ Nội dung :Xác định chủ đề về nội dung tham quan là khám phá về môi trường
tự nhiên hay môi trường xã hội để đặt ra nhiệm vụ.
+ Chuẩn bị
Giáo viên :
- Xác định vị trí và địa điểm đến tham quan thuận lợi nhất ( không để trẻ mệt và
không ảnh hưởng đến mục đích chính
- Kiểm tra địa điểm tham quan trước xác định đối tượng cần thiết quan sát, xác
định tình tự quan sát nội dung khối lượng tri thức mà trẻ cần lĩnh hội.
- Xác định địa điểm cho trẻ tự quan sát và nghỉ ngơi
Cho trẻ:
- Trước tham quan vài ngày cần đàm thoại với trẻ nhằm mục đích tạo hứng thú cho
trẻ, thông báo cho trẻ địa điểm nội dung của buổi tham quan.
- Quan tâm đến sức khỏe của trẻ, chuẩn bị các dụng cụ cần thiết, trang phục cho trẻ
phù hợp với thời tiết vận động.
+ Cách thực hiện:( Tổ chức tham quan)
- Dù khám phá môi trường tự nhiên hay môi trường xã hội giáo viên cũng cần tổ
chức đàm thoại ngắn nhằm mục đích nhắc trẻ về mục đích tham quan, các quy tắc
hành vi cần thực hiện trong quá trình tham quan.
- Tổ chức cho trẻ quan sát có thể quan sát (Tập thể, nhóm, cá nhân) giáo viên giúp
trẻ xác định được những dấu hiệu đặc trưng của sự vật hiện tượng bằng các biện
pháp khác nhau: Như đặt ra các câu hỏi câu đố bài thơ hướng dẫn trẻ quan sát,
khảo sát, sử dụng phương pháp trò chơi, sử dụng kể chuyện và giải thích để bổ
sung cho sự quan sát của trẻ. Trong quá trình quan sát có thể sử dụng các tác phẩm
văn học hoặc âm nhạc.
Ví dụ về tìm hiểu MT tự nhiên “Khám phá về các loại hoa”
+ Tổ chức tham quan : Cô đàm thoại ngắn về đề tài tham quan để nhắc trẻ nhớ mục
đích tham quan, hướng cháu chú ý quan sát các loại hoa chú ý với môi trường thiên
nhiên cô cần cho trẻ tự phát hiện. Cho trẻ quyền lựa chọn đối tượng trong khuôn
khổ yêu cầu ví dụ: Có cháu biết quá nhiều về hoa hồng do mẹ trồng ở nhà cháu nên
đến khu tham quan cháu thích khám phá hoa lạ hơn thì cô giáo cần tôn trọng ý kiến
của trẻ mỗi cháu, có thể có sở thích khác nhau cô tạo điều kiện cho cháu quan sát
bằng cách cô đọc câu đố về các loại hoa và cho cháu lựa chọn sau đó cho cháu
quan sát theo nhóm. Cuối cùng cô tạo cơ hội cho cháu mô tả về những gì cháu vừa
quan sát. Thời gian có hạn nên mỗi buổi tham quan về cô có thể trao đổi với trẻ
trong mọi lúc mọi nơi bằng cách gợi nhớ lại buổi tham quan để tất cả cháu đều
được mô tả những gì mình khám phá. Trong khi tham quan cô và cháu có thể hát
múa về các loại hoa hoặc cô kể chuyện “ Sự tích hoa mào gà” hoặc “ Sự tích hoa
phù dung”… cho cháu nghe trong giờ giải lao . Cuối cùng cho cháu nhặt cỏ tưới
nước cho hoa cháu sẽ có ý thức trong lao động ham mê cái đẹp và yêu thiên nhiên
cây cỏ hoa lá…
+ Công việc sau tham quan
- Ngay sau khi tham quan các đối tượng trẻ thu nhặt được cần phải đặt ở góc thiên
nhiên ( Hoa cắm vào lọ hay giỏ, động vật để vào bể hoặc bồn…) để có thể cho
cháu quan sát động thực vật.
Sau tham quan vài ngày tổ chức đàm thoại. Giáo viên đặt câu hỏi sao cho trí nhớ
của trẻ xuất hiện toàn bộ quá trình tham quan, xác định thời điểm giáo dưỡng và
giáo dục để trẻ xác định mối quan hệ giữa các hiện tượng. Qua đó trẻ bày tỏ được
cảm xúc của trẻ với buổi tham quan.
Biện pháp 3: Xây dựng góc “Bé với thiên nhiên ” để trẻ hoạt động KPKH
- Sắp xếp các hộp đựng vỏ cây khô, hoa, lá ép khô , các loại hạt … Có ngắn nhãn
mác và hình ảnh rõ ràng để trẻ dễ nhận thấy, trẻ được chơi và làm được những sản
phẩm từ những đồ chơi ấy. Các tranh, lô tô về chủ điểm đều được phân loại để ở
Đối với tranh đều có chữ cái tương ứng ở dưới cũng được phân loại xếp gọn gàng
và dễ kiểm tra .
C/ Điều kiện thực hiện giải pháp biện pháp:
Ta tìm điều kiện để thực hiện phù hợp với từng giải pháp, biện pháp
* Biện pháp 1: “Cháu khám phá khoa học thông qua thí nghiệm thực hành”
- Không gian :
Tốt nhất là thực hành tập trung ở trên lớp để cho tất cả các cháu đều được khám
phá
-Thời gian: Mỗi đề tài cần tiến hành thử nghiệm trong 40 phút.
- Phương tiện :
- Đồ dùng của trường và một số dụng cụ thí nghiệm khoa học khác
-Phối kết hợp với phụ huynh : Cô giáo trao đổi với phụ huynh về những bài học ở
lớp và giao nhiệm vụ cho cháu về thực hành ở nhà.
* Biện pháp 2: Khám phá khoa học qua vật thật bằng hình thức tham quan
- Không gian: Ngoài lớp học.
- Thời gian: Mỗi đề tài cần tiến hành tham quan trong 1 buổi.
- Phương tiện: Đối tượng và địa điểm tham quan tùy vào nội dung và yêu cầu của
buổi tham quan để tìm ra đối tượng
* Biện pháp 3: Xây dựng góc “Bé với thiên nhiên ” để trẻ hoạt động KPKH
- Không gian: không gian ngoài trời
- Thời gian: Mỗi đề tài cần tiến hành hoạt động trong khoảng 30p
- Phương tiện: Đối tượng xây dựng ở góc tùy vào chủ điểm cho phù hợp tránh
nhàm chán ở trẻ.
* Mọi điều kiện thực hiện các giải pháp biện pháp cần tốt nhất theo điều kiện có
thể ở lớp ở trường và địa phương.
d) Mối quan hệ giữa các biện pháp giải pháp
- Giữa các biện pháp, giải pháp có mối quan hệ qua lại với nhau chúng hộ trợ cho
ặc điểm v
à tr
ả lời
được tên gọi đặc điểm của các đối tượng
khám phá
22 cháu
73,33%
7 cháu
23,33%
1cháu
3,33
%
2
Kh
ả năng so sánh , phân loại các đối t
ư
ợng
khám phá
17 cháu
56,67%
11cháu
36,66%
10
cháu
33,33% 5
cháu
16,66% Chất lượng khảo sát cuối năm: Số trẻ : 30chaú
STTN
ỘI DUNG
K
ết
qu
ảT
ỐT
-
KHÁ
Kh
ả năng so sánh , phân loại các đối t
ư
ợng
khám phá
23 cháu
76,66%
6 cháu
20%
1
cháu
3,33%
3
Phát hi
ện cái mới lạ v
à có thái đ
ộ h
ành đ
ộng
phù hợp
Tự mày mò điều chỉnh hoàn thiện đồ vật
còn giang dở
22 cháu
73,33%
6 cháu
mới mà cháu đã hăng say vào khám phá khoa học vì thế mà các kỹ năng phát triển
cháu có sáng tạo hơn trong các giai đoạn vốn kiến thức đã được mở rộng, tư duy,
ngôn ngữ cũng phát triển một cách rõ rệt. Các kỹ năng nhận thức của trẻ như phân
tích, so sánh tổng hợp cũng tiến bộ rất nhanh. Phần đông trẻ đã biết bảo về, gìn
giữ môi trường trong và ngoài lớp. Trong các giờ chơi đã hình thành xúc cảm, tình
cảm rất tích cực và kinh nghiệm cũng như kỹ năng sống của trẻ từ đó cũng tốt hơn
trẻ đã mạnh dạn hơn trong các hội thi của lớp của trường cụ thể như hội thi “ Bé và
mẹ cùng làm thí nghiệm” của lớp hơn 80% số cháu tự thuyết trình bài thi của mình
có 28 trẻ tham gia thì có tới 24 cháu đạt điểm khá giỏi chiếm 85,71%. Hội thi bé
với văn học cấp trường có 3 cháu tham gia thì cả 3 đều đạt giải cao: 1 giải nhất, 1
giải nhì và 1 giải ba. Kết quả thu được qua khảo nghiệm chứng tỏ các biện pháp
mới cho trẻ khám phá môi trường xung quanh có giá trị khoa học cao.
III. Kết luận- kiến nghị
III.1 Kết luận
Qua phương pháp vận dụng các biện pháp mới vào khám phá khoa học trẻ 5-6
tuổi đã đạt được kết quả như mong đợi tôi rút ra kết luận như sau:
Giáo viên cần có trách nhiệm chăm sóc giáo dục trẻ với tấm lòng cô giáo như
mẹ hiền mong cho con ngày một tiến bộ thì bất cứ một cô giáo nào cũng không
ngừng không nghỉ tìm tòi sáng tạo ra nhiều cách thức để trẻ tập trung học và chơi
thỏa mãn nhu cầu khám phá của trẻ tác động trực tiếp đến việc lĩnh hội kiễn thức,
kỹ năng sống ở trẻ. Muốn nhìn trẻ phát triển toàn diện theo tôi chúng ta cần xây
dựng biện pháp giáo dục hay mới lạ cuốn hút trẻ để hình thành thói quen ham mê
khám phá khoa học ở trẻ đó là chúng ta đã góp phần nâng cao chất lượng môn học
khám phá khoa học đó cùng chính là thành công lớn lao nhất trong sự nghiệp trồng
người của chúng ta .
III.2 Kiến nghị :
Bản thân tôi có một số kiến nghị như sau:
- Sau mỗi năm học thì giáo viên đã có thêm những kinh nghiệm hơn trong giảng
dạy chính vì vậy mà hàng năm lại có thêm những sáng kiến kinh nghiệm do các
nhà giáo dục như chúng tôi nghiên cứu. Tôi cũng như các đồng nghiệp cũng muốn