ĐÁNH GIÁ độc TÍNH các CHỦNG VI KHUẨN RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN các GIỐNG cà CHUA ở các TỈNH MIỀN bắc - Pdf 14

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH CÁC CHỦNG VI KHUẨN
RALSTONIA SOLANACEARUM TRÊN CÁC GIỐNG CÀ
CHUA Ở CÁC TỈNH MIỀN BẮC
Sinh viên: Lê Thị Ngọc Hằng
Lớp: Khoa học cây trồng - 44
Thời gian: 25/01/2014 - 10/05/2014
Địa điểm thực hiện: Viện nghiên cứu rau quả, thị trấn Trâu Qùy,
huyện Gia Lâm - Hà Nội
Giáo viên hướng dẫn: T.S. Nguyễn Thị Thu Thủy
Bộ môn: Bảo vệ thực vật
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới T.S. Nguyễn Thị Thu Thủy về sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ đạo trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cám ơn T.S. Trần Ngọc Hùng, Trưởng Bộ môn Công
nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cám ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Nông học
, trường Đại học Nông Lâm Huế về sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Nhân dịch này tôi cũng xin bày tỏ lòng cám ơn đến T.S. Trương Thị Hồng
Hải đã hỗ trợ kinh phí đi lại, nơi ở trong suốt quá trình thực hiện khóa luận. Cám
ơn Bộ môn Công nghệ Sinh học, Viện Nghiên cứu Rau quả Hà Nội đã cung cấp
giống cũng như các trang thiết bị cho các hoạt động của đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè
cùng tập thể lớp Khoa học cây trồng-44 đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong qua trình học tập và hoàn thiện khóa luận.
Huế, tháng 5 năm

cần thiết cho cơ thể con người. Cà chua cung cấp năng lượng và chất khoáng
làm tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyệt,
chống độc. Cà chua còn dùng làm mỹ phẩm, chữa trứng cá
Cà chua là một trong số những cây rau màu quan trọng, được phân bốrộng
rãi ở nhiều nước trên thế giới.Tuy nhiên việc gieo trồng cà chua vẫn gặp nhiều
khó khăn, trở ngại.Một trong những nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển sản
xuất và làm giảm năng suất cà chua đó là sâu và bệnh hại. Trong đó đáng chú ý
hơn cả là bệnh héo xanh do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây ra.
Bệnh héo xanh vi khuẩn (bệnh HXVK) do vi khuẩn Ralstonia
solanacearum Smith (R. solanacearum Smith) là một trong những bệnh có
nguồn gốc từ đất gây hại rất phổ biến và nghiêm trọng ở vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới. Bệnh HXVK gây hại trên cây cà chua ở hầu khắp các nước thế giới
nói chung và tất cả các vùng trồng cà chua ở nước ta nói riêng. Với phổ ký chủ
rộng nên phòng trừ bệnh này gặp rất nhiều khó khăn. Sử dụng giống kháng bệnh
hay cây ghép là giải pháp có hiệu quả cao.
Nguồn gene kháng bệnh đã được xác định ở một số mẫu giống:
PI127805A, PI129080, CRA66, AS52. Tuy nhiên tính kháng rất phụ thuộc vào
chủng vi khuẩn. Bên cạnh đó, nhân tố môi trường biến động cũng gây nên tính
kháng của chúng không ổn định.Hiện tương tương tự xảy ra đối với các giống
gốc ghép đã làm ngọn ghép cũng bị nhiễm bệnh.
Di truyền tính kháng bệnh héo xanh ở cà chua rất phức tạp và không đồng
nhất ở các mẫu giống.Tính kháng được xác định là lặn, trội không hoàn toàn, và
trội do 1 gene, hai gene hay nhiều gene quy định.
Bệnh này rất khó phòng chống do vi khuẩn có khả năng tồn tại lâu dài
trong đất, trong cơ thể ký chủ thực vật còn trong hạt giống, củ giống, vi khuẩn
có thể tồn tại được tới 7 tháng. Hơn nữa vi khuẩn R. solanacearum có phổ ký
chủ rất rộng, nó có thể ký sinh trên 35 họ cây trồng khác nhau và các kết quả
nghiên cứu cho đến nay cho thấy hầu hết các hóa chất bảo vệ thực vật đều có
hiệu quả rất thấp đối với bệnh này (Lê Lương Tề, Vũ Triệu Mân, 1998) [9].
Phòng chống dịch hại bảo vệ cây cà chua là một trong những biện pháp quan

1.2.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Những kết quả nghiên cứu trên góp phần làm cơ sở khoa học cho việc
chọn giống cà chua có tính kháng cao để bố trí trồng ở những vùng thích hợp
với mục đích hạn chế bệnh cao nhất có thể.
1.3.Mục đích của đề tài
Đánh giá độc tính của các chủngvi khuẩn Rastonia solanacearum trên
mỗi giống cà chua được trồng phổ biến ở các tỉnh miền Bắc
Đánh giá khả năng kháng bệnh của các giống cà chua trên các dòng vi
khuẩn gây bệnh héo xanh được phân lập ở các tỉnh miền Bắc.
PHẦN 2: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
2.1. Cây cà chua
2.1.1. Nguồn gốc
Cà chua có nguồn gốc ở vùng Nam Mỹ, được trồng phổ biến khắp nơi
trên thế giới. Có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của cà chua trồng.
Một số tác giả cho rằng cà chua trồng có nguồn gốc từ L. esculentum var,
pimpinellifollum, tuy nhiên nhiều tác giả nhận định rằng L. esculentum var
ceresifarme (cà chua anh đào) là tổ tiên của cà chua trồng.
Theo tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng: bờ biển Tây Nam Mỹ
nằm giữa dãy núi Andes và biển, trải dài từ Ecuador đến Peru là trung tâm khởi
nguyên của cà chua. Theo De candelle và nhiều tài liệu nghiên cứu của nhiều tác
giả cho rằng: cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Peru, Ecuador, Chile,
Bolivia và các nước vực Nam Mỹ thuộc khu vực nhiệt đới khô hạn.
Theo Luckwill (1943) cà chua từ Nam Mỹ được đưa vào Châu Âu từ những
năm đầu cuối thế kỹ 16 do những nhà buôn Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha [11].
Cà chua được đưa tới châu Âu vào thế kỹ 18, đầu tiên là Philippin,
Indonexia và Malaysia.Từ đây cà chua được trồng phổ biến đến các vùng khác
của châu Âu [12].
Cà chua được du nhập vào châu Âu tương đối sớm (giữa thế kỹ 16),
nhưng đến giữa thế kỹ 17 mới được trồng phổ biến, song tại thời điểm đó cà
chua chỉ được xem như cây cảnh và có quan niệm sai lầm là quả có chất độc vì

Khi so sánh thành phần dinh dưỡng của cà chua với một số rau quả khác
như: táo, chanh, anh đào, dâu tây thì Beeker-Billing thấy rằng: nhóm vitamin
trong quả cà chua chiếm tỷ lệ cao hơn (vitamin A, C, B1, B2) đặc biệt là vitamin
A và C gấp 10 lần dâu tây, gấp 2 lần so với anh đào.
Hạt cà chua chứa 24% dầu và dịch chiết được sử dụng trong công nghiệp
đồ hộp, dầu khô được dùng trong dầu giấm được sử dụng cho công nghiệp chế
biến bơ [11].
Với giá trị dinh dưỡng cao nên cà chua là loại rau được trồng phổ biến ở
các châu lục, là món ăn thong dụng của nhiều nước và là loại rau có giá trị sử
dụng cao.
Bảng 2.1.Thành phần dinh dưỡng trong 100g cà chua nguyên liệu và các
sản phẩm của cà chua
Thành phần Cà chua
nguyên liệu
Nước ép
cà chua
Sốt cà
chua
Súp cà
chua
β-carotene (µg) 449 270 290 75
α-carotene (µg) 101 0 0 0
Lycopene (µg) 2573 9037 15152 5084
Lutein và Zeaxanthin
(µg)
123 60 0 1
Phytoene (µg) 1860 1900 2950 1720
Phytofluene (µg) 820 830 1270 720
Potasium (mg) 237 229 331 181
α-tocopherol (mg) 0,54 0,32 2,08 0,50

chua là loại quả có khả năng chống lão hóa mạnh nhất vì có chứa hàm lượng
Licopen – một hoạt chất không bị mất đikhi nấu chín, cà chua cung cấp năng
lượng, cung cấp khoáng, làm tăng sức sống, làm cân bằng tế bào, khai vị, giải
nhiệt, chống hoạt huyết, chống nhiễm khuẩn, chống nhiễm độc, làm kiềm hóa
các quá trình axit, lợi tiểu, thải Ure, giúp tiêu hóa dễ dàng tinh bột. Cà chua
được chỉ định dùng ăn hay lấy dịch quả để uống trị suy nhược, ăn không ngon
miệng, nhiễm độc mãn tính, thừa máu…
2.2. Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới và trong nước
2.2.1. Trên thế giới
Cà chua là loại cây trồng tuy được chấp nhận như là một loại thực phẩm
và có lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng do nó có khả năng thích ứng
rộng, hiệu quả kinh tế và giá trị sử dụng cao. Trên thế giới đã có nhiều giống
mới được ra đời nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người cả về
số lượng và chất lượng.
Theo FAO (2013), hiện nay có tới 158 nước trồng cà chua. Diện tích,
năng suất và sản lượng cà chua trên thế giới cho đến năm 2011 như sau:
4.734.356 nghìn ha, 10,58 tấn/ha, 159.023.383 tấn [14].
Trong số 10 loại rau được trồng và sử dụng phổ biến nhất thế giới thì cà
chua đứng thứ 2 chỉ sai khoai tây, diện tích lớn hơn nhiều lần so với các loại rau
khác, cho thấy được tầm quan trọng của cây cà chua trong vấn đề tiêu thụ và sử
dụng của thế giới (bảng 2.2).
So với các cây trồng khác, cà chua có lịch sử phát triển tương đối muộn
song với tính năng đa dụng về giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế nên cà chua
được phát triển rộng khắp các châu lục.
Bảng 2.2. Diện tích 10 loại rau được trồng và sử dụng phổ biến trên thế giới
Đơn vị: triệu ha
Thứ tự Loại rau Diện tích
1 Khoai tây 18,95
2 Cà chua 4,73
3 Hành 2,08

tấn/ha.
Bảng 2.4: Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm
2010
Tên châu lục Diện tích
(100 ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
Châu Phi 860,74 20,02 17.236,03
Châu Mỹ 479,07 50,86 24.365,66
Châu Á 2.439,49 33,58 81.812,01
Châu Âu 553,4 39,32 21.760,15
Châu Úc 9,23 63,28 577,66
Nguồn: FAO Database Static 2011
Bảng 2.5: Những nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới năm 2010
STT Tên nước Sản lượng (nghìn tấn)
1 Trung quốc 41.879,68
2 Mỹ 12.902,00
3 Ấn Độ 11.979,70
4 Thổ Nhĩ Kỳ 10.052,00
5 Ai Cập 8.544,99
6 Italia 6.024,80
7 Iran 5.256,11
8 Tây Ban Nha 4.312,70
9 Brazil 3.691,32
10 Nga 2.000,00
Nguồn: FAO Database Static 2011
Cà chua là loại rau có hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quan
trọng của nhiều nước ở cả dạng ăn tươi và chế biến.

cà chua trong khẩu phần ăn hàng ngày đã tăng mạnh trong 4 thập kỹ qua. Mặt
khác, sự phát triển nhanh chóng của ngành sản xuất đồ hộp với sự tham gia đáng
kể các sản phẩm chế biến đã làm cho mức tiêu thụ sản phẩm cà chua chế biến
tăng mạnh và ổn định.
Ở Châu Á, Đài Loan là một trong những nước có nền công nghiệp chế
biến cà chua sớm nhất.Ngay từ 1918, Đài Loan đã phát hiện cà chua đóng hộp.
Năm 1931 mặc dù sản xuất cà chua của Nhật Bản tăng lên nhưng sản phẩm cà
chua chế biến của Đài Loan vẫn được thị trường Nhật Bản chấp nhận và nổi
tiếng ở Nhật Bản.
Năm 1967 Đài Loan chỉ có 1 công ty chế biến cà chua là Kagome Food
Compaay là công ty liên doanh giữa Nhật Bản và Đài Loan, lúc đó công ty này
sản xuất cà chua đóng hộp và xuất khẩu sang Nhật Bản với 60% sản lượng, sau
đó ngành công nghiệp cà chua chế biến đã phát triển nhanh ở Đài Loan và đến
năm 1976 đã có tới 50 nhà máy sản xuất cà chua đống hộp .
Thái Lan là một nước ở khu vực Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới với đa
dạng của các chủng loại rau quả song gần đây Thái Lan cũng đã bắt đầu tập
trung vào các sản phẩm chế biến có gí trị cao. Một trong những sản phẩm đó là
cà chua cô đặc. Năm 1991 sản lượng cà chua của Thái Lan đạt 171,9 ngàn tấn
(Farrning Japan Vol 31/5/1997).
2.2.2. Tình hình sản xuất cà chua Việt Nam
Cà chua là cây mới du nhập vào Việt Nam mới được hơn 100 năm nhưng
đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng ngày càng rộng rãi. Cà chua
ở nước ta được trồng chủ yếu ở vụ đông với diện tích khoảng 6.800 – 7.300 ha
và thường tập trung ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ ( Hà Nội,
Hải Dương, Vĩnh Phúc….), còn ở miền nam tập trung ở các tỉnh An Giang,
Tiền Giang, Lâm Đồng…
Trong điều tra của TS. Phạm Đồng Quảng với CS, hiện nay cả nước có
khoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống được gieo
trồng với diện tích lớn 6.259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước. Giống M386
được trồng nhiều nhất ( khoảng 1432 ha), tiếp theo là các giống cà chua Pháp,

ha)
Năng suất (tấn/ha) Sản lượng
(200 tấn)
Cả nước
2007
2008
2009
23,13
24,85
20,54
19.68
21,55
24,97
455,58
535,44
494,33
Miền Bắc
2007
2008
2009
12,38
12,68
8,40
18,45
10,56
20,97
228,40
247,95
176,13
Đồng bằng sông Hồng

lượng, năng suất cao hơn trung bình của cả nước, đặc biệt là tỉnh Lâm Đồng cao
hơn 1,8% lần so với cả nước. các tỉnh còn lại tuy diện tích, năng suất và sản
lượng không nhiều nhưng cũng đã đóng góp đáng kể về thành phần chung của
cả nước
Bảng 2.9:Sản xuất cà chua của một số tỉnh năm 2008
Địa phương Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Cả nước
Lâm Đồng
Nam Định
Hải Phòng
Hải Dương
Hà Nội
Bắc Giang
Thái Bình
Hưng Yên
Thanh Hóa
Vĩnh Phúc
24859
4638
2076
1153
1219
1322
1193
552
697
1007
264
215,5
397,6

bảo vệ thực vật.chưa có quy trình canh tác và giống thích hợp cho mỗi vùng.
So với các nước trong khu vực, sản xuất cà chua ở Việt Nam có lợi thế rõ
rệt do khí hậu thời tiết, đất đai của nước ta, đặc biệt các tỉnh phía bắc phù hợp
cho sinh trưởng, phát triển của cà chua, nếu được đầu tư tốt, năng suất cà chua
sẽ rất cao. Diện tích cho phát triển cà chua còn rất lớn vì trồng trong vụ đông,
không ảnh hưởng đến hai vụ lúa nhưng sản phẩm lại là so với Trung Quốc, nước
có khối lượng cà chua lớn nhất thế giới (20 triệu tấn/năm).
Hiện nay chúng ta đã xây dựng được vùng nguyên liệu 1.000 ha tại Hải
Phòng, Hải Dương – phục vụ nhà máy chế biến cà chua cô đặc (công suất 3.500
– 3.800 tấn sản lượng/năm) phục vụ nội địa và sản xuất, kết quả thực hiện năm
2003 – 2004 đã thu mua được 4.000 tấn nguyên liệu phục vụ nhà máy (đạt 20%
công suất), tiêu thụ chủ yếu tại thị trường nội địa.
Nhìn chung, việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm cà chua
trong thời gian qua đã có nhiều cố gắng. Tuy nhiên, thực tiễn đã xuất hiện một
số vấn đề tồn tại như:
-Năng suất tại các vùng sản xuất còn thấp
-Tình hình nhiễm sâu bệnh hại tại các vùng cà chua còn khá cao
-Sản phẩm tạo ra chưa có sự hấp dẫn
-Cạnh tranh cao về giá thành (giá thành sản phẩm cà chua cô đặc sản xuất
trong nước cao hơn giá trên thị trương thế giới là 100USD/tấn sản phẩm).
-Chất lượng sản phẩm còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của một số
thị trường (hình dạng, màu sắc, ).
-Một số hạt giống nhập ngoại có chất lượng tương đối tốt (cà chua Pháp,
Mỹ, ) tuy nhiên, giá hạt giống còn qúa cao đối với người sản xuất (20 – 25 triệu
đồng/kg hạt)
Đây cũng là một số nguyên nhân dẫn đến cà chua của chúng ta khó có thể
cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các nước trên thế giới.
Tuy nhiên theo dự đoán của một số nhà chuyên môn thì trong một vài
năm tới diện tích và năng suất đều sẽ tăng nhanh do:
- Các nhà chọn giống trong những năm tới sẽ đưa ra sản xuất hàng loạt

Với điều kiện nóng ẩm của vùng nhiệt đới ở Malaysia, bệnh HXVK gây
hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng.Trên cây lạc tỷ lệ cây nhiễm bệnh
trung bình từ 5 đến 20% và là nguyên nhân chính làm diện tích trồng lạc giảm từ
5.197 ha năm 1980 còn 1.318 ha năm 1986 với sản lượng tương ứng từ 19.437
tấn giảm còn 5.000 tấn (Hamidah et al. 1993). Bệnh cũng được phát hiện trên
các cây trồng khác như: cà chua, khoai tây, thuốc lá, cây cà.
Bệnh HXVK do vi khuẩn R. solanacearum là một bệnh hại nghiêm trọng,
có phân bố rộng rãi ở Thái Lan. Bệnh được phát hiện trên cây cà chua từ năm
1957, cây ớt, cây khoai tây.Bệnh gây giảm năng suất đáng kể đối với cà chua,
khoai tây, gừng, cà, ớt, thuốc lá, lạc vừng.
Trên cà chua và cây cà ở Sri Lanka, bệnh HXVK được phát hiện từ năm
1930. Bệnh là đối tượng hạn chế sự mở rộng sản xuất cà, khoai tây. Trên cây cà
chua mức độ thiệt hại có thể lên đến 81,5% trên giống mẫn cảm Marglobe và
47% đối với giống Talatuoy. Các nghiên cứu về mức độ phổ biến, phân bố, tác
hại của bệnh đã được nhiều tác giả đề cập.
Ở Brazil, tỷ lệ bệnh HXVK trung bình trên cà chua của 30 vùng điều tra
là 13,1% trong đó có 7 vùng tỷ lệ bệnh từ 20,1 đến 50% và 1 vùng tỷ lệ bệnh lớn
hơn 90%.
2.3.2. Trong nước
Những thông tin đầu tiên về bệnh HXVK như một bệnh hại quan trọng
trên cây lạc được thể hiện trong báo cáo Đặng Thái Thuận năm 1968. Trong báo
cáo kết quả điều tra bệnh cây năm 1967 – 1968 của Viện Bảo vệ thực vật cũng
đã chỉ rõ bệnh HXVK khá phổ biến ở đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc
Việt Nam. Đối với cây cà chua, bệnh HXVK đã và đang là vấn đề nan giải và
nghiêm trọng đối với các vùng trồng rau ngoại thành Hà Nội và các vùng phụ
cận. Tạ Thu Cúc và CTV (1983) [2] cho biết: trong các loại bệnh chủ yếu hại
cây cà chua như mốc sương, virus, bệnh HXVK thì bệnh HXVK do loài R.
solanacearum gây hại nghiêm trọng. Bệnh phát sinh và gây hại nặng ở những
vùng đất trũng, không thoát nước, đất thịt nặng hoặc những chân ruộng bón
nhiều đạm, không cân đối với lân và kali.

15% diện tích khoai tây bị nhiễm bệnh HXVK.
Về tác hại của bệnh HXVK đối với khoai tây trong quá trình bảo quản,
Ngô Đức Thiệu và CTV (1978) cho rằng R. solanacearum có thể là nguyên
nhân của bệnh thối ướt và gây thiệt hại khoảng 20 – 25%.
Kết quả nghiên cứu bệnh HXVK hại khoai tây của Viện Bảo vệ thực vật
(1971 – 1976) đã chỉ ra rằng bệnh hại nguy hiểm đối với các vùng sản xuất
khoai tây. Những yếu tố sinh thái liên quan tới sự phát sinh, phát triển và tác hại
của bệnh trên khoai tây cũng đã được đề cập.
Hà Minh Trung và CTV (1989) khi nghiên cứu bệnh HXVK trên các
giống khoai tây nhập nội đã chỉ ra rằng triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh chết
xanh của khoai tây trên đồng ruộng là do R. solanacearum gây ra. Tác giả cũng
cho rằng loại bỏ củ bệnh, củ xây xát sẽ góp phần hạn chế sự lây lan phát triển
của bệnh.
Khi điều tra sâu bệnh hại trên cây thuốc lá ở vùng đồng bằng và trung du
miền Bắc Việt Nam, Vũ Triệu Mân cho rằng bệnh HXVK trên thuốc lá ở vùng
Ba Vì là dịch hại nguy hiểm nhất. Kết quả điều tra và khảo sát tình hình nhiễm
bệnh trên 7 giống thuốc lá: C176, K326, C347, K51M, DVD, VIR131, XNN ở 3
vụ trồng trong vụ xuân cho thấy bệnh phát sinh và gây hại nặng trên tất cả các
giống, đặc biệt là giống K51M và giống DVD có tỷ lệ bệnh ở cuối vụ đến 100%,
các giống C176 và K326 có mức nhiễm nhẹ hơn, nguyên nhân có thể là do trồng
độc canh cây thuốc lá trên cùng một vùng đất mà không có sự luân canh với láu
nước.
Theo Đường Hồng Dật (1977) [4] bệnh HXVK gây hại thuốc lá ở các giai
đoạn sinh trưởng, bệnh thường nặng ở giai đoạn cây đã lớn, sắp và đang thu
hoạch lá. Bệnh phát triển thuận lợi trong điều kiện độ ẩm cao.Vi khuẩn gây bệnh
có thể tồn tại lâu dài trong đất ẩm và trong tàn dư cây nhiễm bệnh.
Cũng như trên thuốc lá, kết quả điều tra, nghiên cứu thành phần sâu bệnh
hại thuốc lá vàng ở phía Bắc Việt Nam của Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá
(Nguyễn Văn Biếu và CTV 1996) [1] cho biết: bệnh HXVK là một trong những
bệnh phổ biến ở các vùng trồng thuốc lá như Hà Tây, Bắc Giang, Cao Bằng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status