Hoạt động bảo hiểm tiền gửi việt nam thực trạng và giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập - Pdf 14



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐÁP ỨNG
NHU CẦU HỘI NHẬP
Sinh viên thực hiện : Dƣơng Thị Hải Anh
Lớp : Nhật 2 - K41 - KTNT
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoàng Ánh


MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
VÀTÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI 3
I. Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi 3
1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 3
1.1. Định nghĩa 3
1.2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi 4
2. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với nền kinh tế quốc dân 5
2.1. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi góp phần củng cố niềm tin của
quần chúng đối với hệ thống ngân hàng 5
2.2. Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng quốc
gia phát triển 6
2.3. Bảo hiểm tiền gửi thúc đẩy huy động tiền tiết kiệm phục vụ
đầu tư phát triển bền vững 7
3. Hợp đồng bảo hiểm tiền gửi 8
3.1. Các bên trong hợp đồng bảo hiểm tiền gửi 9
3.2. Đối tượng được bảo hiểm (Subject – matter - insured) 11
3.3. Giá trị bảo hiểm (Insured Value) 11
3.4. Số tiền bảo hiểm (Amount Insured) 12
3.5. Phí bảo hiểm tiền gửi (Premium) 13
3.6. Quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo hiểm tiền gửi 14
II. Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi tại một số nƣớc và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam 15
1. Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi thế giới 15
2. Tình hình phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ - Đức - Đài Loan 17

2.1. Công tác cấp chứng nhận bảo hiểm 42
2.2. Công tác giám sát từ xa 45
2.3. Công tác kiểm tra tại chỗ 45
2.4. Công tác thu phí bảo hiểm tiền gửi 47 2.5. Công tác chi trả tiền bảo hiểm và thanh lý các tổ chức tín dụng
bị giải thể 50
2.5.1. Công tác chi trả tiền bảo hiểm 50
2.5.2. Công tác thanh lý các tổ chức tín dụng bị giải thể 52
2.6. Công tác hỗ trợ tài chính 54
3. Đánh giá hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
trong giai đoạn 2000-2005 55
3.1. Thành tựu của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 55
3.1.1. Hoàn thiện công tác quản trị điều hành 55
3.1.2. Hiệu quả trong hoạt động nghiệp vụ 56
3.1.3. Phát triển nguồn nhân lực 58
3.2. Hạn chế trong hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 59
3.2.1. Cơ sở hạ tầng pháp lý chưa đồng bộ, chưa tương xứng với
nhiệm vụ của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và thông lệ
quốc tế 59
3.2.2. Đối tượng, phạm vi, nội dung hoạt động của bảo hiểm tiền
gửi còn hạn hẹp 60
3.2.3. Năng lực tài chính còn yếu 61
CHƢƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM 63
I. Chiến lƣợc phát triển của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tới
năm 2015 63
1. Xây dựng, củng cố cơ sở hạ tầng pháp lý 64
2. Củng cố, tăng cường năng lực tài chính và đảm bảo tính minh

Bảng 1 : Huy động vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam
Bảng 2 : Tỷ lệ nợ khó đòi/ tổng dư nợ của các ngân hàng
thương mại Nhà nước giai đoạn 2000 - 2005
Bảng 3 : Kết quả thu phí bảo hiểm tiền gửi

Biểu đồ 1 : Số lượng tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Biểu đồ 2 : Cơ cấu tổng phí bảo hiểm tiền gửi giai đoạn 2000-
2005
Biểu đồ 3 : Kết quả chi trả tiền gửi được bảo hiểm
Biểu đồ 4 : Kết quả thanh lý các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam luỹ kế đến năm 2005 1
LỜI NÓI ĐẦU Công cuộc đổi mới đất nước sau gần 20 năm đã mang lại cho Việt Nam
nhiều thành công về kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, nhưng Việt Nam
vẫn chưa thực sự thoát khỏi ngưỡng một nước nghèo. Để đẩy mạnh hơn nữa
phát triển kinh tế, nước ta cần tiếp tục thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại
hóa, phát huy cao độ nguồn nội lực trong nước và tranh thủ nguồn lực bên
ngoài, trong đó phát huy nguồn nội lực trong nước là yếu tố quyết định.
Để phát huy nguồn nội lực, Việt Nam cần thu hút tối đa nguồn vốn
nhàn rỗi trong dân cư để phục vụ đầu tư phát triển và trọng trách này được
giao chủ yếu cho ngành ngân hàng. Do vậy, việc nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ hệ thống ngân hàng là yêu cầu quan trọng, đặc biệt xu thế mở

của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.
Hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam còn rất mới mẻ, các vấn đề
lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi là vấn đề phức
tạp, chưa có nhiều thực tiễn ở nước ta. Bên cạnh đó, do những hạn chế nhất
định trong quá trình thu thập thông tin và hạn chế về mặt thời gian nghiên cứu
nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong sự thông
cảm và đóng góp ý kiến từ các thầy cô giáo.
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo - Tiến sĩ
Nguyễn Hoàng Ánh đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình hoàn thành khóa
luận. Em xin cám ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã trang
bị cho em những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường và sự
động viên của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình tham gia viết khóa luận. 3
CHƢƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM
TIỀN GỬI VÀTÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM
TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI
I. Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
1. Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
1.1. Định nghĩa
Khi gửi tiền vào các tổ chức huy động tiền gửi, người gửi tiền luôn phải
lo lắng cho số tiền gửi của mình vì nếu tổ chức nhận tiền gửi hoạt động không
hiệu quả khiến bị giải thể hay phá sản thì họ sẽ bị mất toàn bộ số tiền gửi đó.
Vì vậy, để làm an lòng người gửi tiền, các tổ chức huy động tiền gửi đã tham
gia vào một tổ chức chuyên trách về tiền gửi có tên gọi là Tổ chức bảo hiểm
tiền gửi để bảo hiểm cho số tiền gửi của người gửi tiền tại tổ chức của mình.
Vậy bảo hiểm tiền gửi (BHTG) thực chất là gì? Theo tác giả John
Black định nghĩa trong cuốn Từ điển kinh tế Oxford (1997): “BHTG (Deposit

khi tổ chức này bị phá sản”.
1.2. Đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
- BHTG là loại hình bảo hiểm trách nhiệm dân sự của tổ chức huy
động tiền gửi đối với người gửi tiền.”Trách nhiệm dân sự” trong trường hợp
này là trách nhiệm hoàn trả tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) cho ngưòi gửi tiền khi
có rủi ro mất khả năng thanh toán xảy ra đối với tổ chức đó.
- BHTG là loại hình bảo hiểm bắt buộc và phi thương mại. Đây là loại
hình bảo hiểm bắt buộc bởi mọi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi đều
phải tham gia BHTG nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và sự an toàn của
hệ thống ngân hàng và hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều có quy
định này trong Luật điều chỉnh hoạt động BHTG. BHTG là hoạt động phi
thương mại vì BHTG hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà với mục tiêu
lớn nhất là bảo vệ quyền lợi của ngưòi gửi tiền và giữ vững ổn định hệ thống
tài chính quốc gia.
- BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ BHTG. Dịch vụ BHTG thuộc
loại hàng hóa công không thuần tuý bởi loại hàng hóa này không loại trừ thụ 5
hưởng một cách tuyệt đối. Tính chất này của hàng hóa do BHTG cung cấp có
được là do xuất phát từ mục đích của hoạt dộng BHTG là góp phần đảm bảo
sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Người hưởng lợi trực tiếp của
dịch vụ BHTG là người gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi có tham gia
BHTG, còn người hưởng lợi gián tiếp từ dịch vụ này là người đi vay do tính
ổn định của hệ thống tài chính đem lại. Bên cạnh đó, sự ổn định của hệ thống
tài chính còn giúp các ngành kinh tế khác phát triển thuận lợi hơn. Như vậy,
người thụ hưởng từ dịch vụ BHTG là toàn xã hội.
2. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với nền kinh tế quốc dân
Mặc dù ra đời rất muộn so với lịch sử phát triển của hệ thống Ngân
hàng thế giới và chỉ mới thực sự được Chính phủ các nước quan tâm phát

Vai trò này của BHTG được thể hiện ở ba góc độ:
- BHTG tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng. Trước
hết, hoạt động BHTG tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng mới ra đời và
các ngân hàng có qui mô hoạt động hạn chế có điều kiện phát triển tốt hơn.
Có thể nhận thấy tâm lý chung của người gửi tiền là luôn muốn gửi tiền vào
ngân hàng lớn, có uy tín lâu năm với hi vọng cho sự ổn định và an toàn cho
khoản tiền gửi của mình, vì thế sẽ là rất khó khăn cho các ngân hàng có qui
mô hoạt động hạn chế và các ngân hàng mới bước chân vào thị trường tài
chính. Nhưng khi có hoạt động BHTG với chính sách BHTG bắt buộc, tất cả
các ngân hàng đều được yêu cầu tham gia BHTG thì tiền gửi ở tất cả các ngân
hàng đều được bảo hiểm như nhau, và do đó người dân sẽ không còn phải băn
khoăn hay bắt buộc phải lựa chọn các ngân hàng lớn để gửi tiền như trước
nữa. Bên cạnh đó là những hỗ trợ tài chính cần thiết cho các ngân hàng khi
ngân hàng gặp khó khăn, đặc bịêt là trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt
động. Điều này đã tạo cơ hội cho các ngân hàng có qui mô nhỏ và ngân hàng
mới đi vào hoạt động phát triển và có thể cạnh tranh được với các ngân hàng
lớn. 7
- BHTG góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Thông qua
nghiệp vụ giám sát thường xuyên của mình, BHTG sẽ sớm nắm bắt được tình
hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, biết được những yếu kém của
nó để có các biện pháp hỗ trợ tài chính kịp thời như cho vay vốn hoặc cho tiến
hành sáp nhập với các ngân hàng khác. Khi ngân hàng bị phá sản và mất khả
năng thanh toán, BHTG sẽ đứng ra chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền.
Như vậy, Hoạt động BHTG giúp các ngân hàng yếu kém, không thể tiếp tục
duy trì hoạt động có thể rút ra khỏi lĩnh vực kinh doanh một cách trật tự,
không ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và tới hệ thống ngân hàng, do đó
đã giúp ổn định tâm lý cho người gửi tiền khi ngân hàng có dấu hiệu hoạt

tiền gửi của dân cư lại phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống ngân hàng,
nếu ngân hàng hoạt động tốt, hiệu quả, đảm bảo an toàn cho các khoản tiền
gửi của người dân, đồng thời lại có thể trả lãi thỏa đáng, tạo các điều kiện
thuận lợi cho việc gửi tiền và rút tiền thì chắc chắn ngân hàng đó sẽ huy động
được tối đa tiền gửi từ dân cư.
Như đã phân tích ở trên, thông qua các nghiệp vụ của mình BHTG đã
góp phần tạo dựng và củng cố niêm tin của dân chúng vào ngân hàng đồng
thời thúc đẩy sự phát triển chung của hệ thống ngân hàng. Thực chất là BHTG
đã tạo môi trường thuận lợi, giúp các ngân hàng có được điều kiện thuận lợi
và thỏa đáng cho người gửi tiền, góp phần trực tiếp và gián tiếp giúp các ngân
hàng huy động được tối đa nguồn tiết kiệm trong dân cư và đó cũng chính là
góp phần thúc đẩy huy động tiền gửi cho đàu tư phát triển.
Thực tế tại nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy nếu áp dụng cơ chế
BHTG theo loại tiền gửi thì tốc độ huy động tiền gửi thuộc đối tượng bảo
hiểm cao hơn rất nhiều so với tốc độ huy động các loại tiền gửi khác. Còn nếu
áp dụng cơ chế không phân biệt loại tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm thì
tổng số tiền gửi tại các tổ chức được bảo hiểm sẽ có xu hướng tăng. Tại Việt
Nam, sau 5 năm Tổ chức BHTG chính thức đi vào hoạt động, tốc độ huy 9
động tiền gửi tại các tổ chức tín dụng tăng 20%/năm
1
, và dự tính mức tăng
này sẽ tiếp tục cao hơn nữa do BHTG VN đang có những cải cách lớn để giúp
các ngân hàng cũng như các tổ chức huy động tiền gửi hoạt động có hiệu quả
cao hơn.
3. Hợp đồng bảo hiểm tiền gửi
Khi tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi đề nghị tham gia BHTG và
được tổ chức BHTG chấp nhận, hợp đồng BHTG được kí kết. Thực chất, hợp

khi cần thiết sẽ được Nhà nước đảm bảo, do đó có khả năng tạo được lòng tin
với công chúng, đồng thời cũng có khả năng đáp ứng được nguồn tài chính
khi có hiện tượng phá sản hàng loạt của các tổ chức tín dụng. Nhìn chung, tổ
chức BHTG theo hình thức sở hữu Nhà nước thường được áp dụng đặc biệt
đối với các nước mới xây dựng hệ thống BHTG.
- Tổ chức BHTG thuộc sở hữu tư nhân: Hình thức tổ chức này thông
thưòng được thành lập dưới hình thức là một công ty cổ phần do Hiệp hội
ngân hàng của quốc gia đó lập nên, thành viên tham gia và góp vốn là các
ngân hàng và tổ chức tài chính trong quốc gia đó. Hình thức này thường được
áp dụng tại những nước có Hiêp hội ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong
việc điều hành hệ thống ngân hàng và mỗi ngân hàng có tiềm lực tài chính
mạnh.
- Tổ chức BHTG theo hình thức liên doanh giữa Nhà nước và tư nhân.
Hình thức tổ chức này đã phát huy được những uu điểm, hạn chế được những
nhược điểm của các hình thức trước, và có ưu điểm đặc biệt là có khả năng
huy động vốn tối đa từ cả Chính phủ, các ngân hàng lớn và các tổ chức tín
dụng. Tổ chức BHTG được thành lập theo hình thức liên doanh sẽ được Nhà
nước đầu tư tài chính ban đầu theo một tỷ lệ nhất định và cũng được Nhà
nước hỗ trợ khi cần thiết.
Người mua bảo hiểm trong bảo hiểm tiền gửi (Assured)
Người mua BHTG là các tổ chức tham gia BHTG, bao gồm các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi.
Các tổ chức này khi tham gia BHTG phải có trách nhiệm đóng góp tài chính
cho tổ chức BHTG và có quyền yêu cầu tổ chức BHTG chi trả tiền BHTG 11
cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng đó trong trường hợp tổ chức này mất
khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động.
Về cơ chế tham gia BHTG, tại mỗi nước quy định là khác nhau. Có

thanh toán tiền gửi cho người gửi tiền. Như vậy, rủi ro của tổ chức tham gia
BHTG chỉ được coi là rủi ro được bảo hiểm khi thỏa mãn đồng thời cả hai
điều kiện sau:
- Rủi ro là rủi ro phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động.
- Tổ chức tham gia BHTG được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác
nhận là mất khả năng thanh toán.
3.3. Giá trị bảo hiểm (Insured Value)
Là số dư tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG, dùng làm cơ sở tính phí
bảo hiểm tại tổ chức đó. Giá trị bảo hiểm có thể là toàn bộ tiền gửi tại tổ chức
tham gia BHTG, hoặc làốtàn bộ tiền gửi thuộc đối tưọng bảo hiểm tại tổ chức
tham gia BHTG, hoặc là toàn bộ tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm tại tổ chức
tham gia BHTG nhưng chỉ tính trong giới hạn chi trả bảo hiểm. Việc xác định
số dư tiền gửi nào làm cơ sở tính phí bảo hiểm tùy thuộc vào chính sách
BHTG tại mỗi quốc gia.
3.4. Số tiền bảo hiểm (Amount Insured)
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà tổ chức BHTG phải trả cho người gửi
tiền tại tổ chức huy động tiền gửi tham gia BHTG khi có rủi ro được bảo hiểm
xảy ra đối với tiền gửi được bảo hiểm. Có hai hình thức chi trả BHTG được
áp dụng hiện nay trên thế giới:
- Chi trả không giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả toàn bộ số tiền
gửi (gồm cả lãi) thuộc đối tượng được bảo hiểm.
- Chi trả có giới hạn: là hình thức thực hiện chi trả chỉ tới một giới hạn
nhất định (gọi là Hạn mức chi trả). Nếu số dư tiền gửi thuộc đối tượng bảo
hiểm thấp hơn hoặc bằng giới hạn đó thì người gửi tiền sẽ được hoàn trả toàn
bộ số tiền gửi (bao gồm cả lãi cộng dồn). Còn nếu số dư tiền gửi (gồm cả lãi) 13
lớn hơn mức chi trả BHTG đã được qui định thì người gửi tiền chỉ nhận được
khoản tiền bồi thường bằng hạn mức chi trả BHTG.

cách qui định của từng tổ chức BHTG. Thông thường có hai cách tính phí BHTG:
- Hình thức tính phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí BHTG cố định: theo hình
thức này, các tổ chức tham gia BHTG phải đóng góp tài chính cho tổ chức
BHTG theo một tỷ lệ thu phí BHTG áp dụng cho tất các tổ chức tín dụng
tham gia BHTG trong cùng một hệ thống BHTG của quốc gia. Mức phí
BHTG đóng góp được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định tính trên số dư
tiền gửi của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Cách
tính phí BHTG này tương đối dễ dàng nhưng lại khiến cho các tổ chức huy
động tiền gửi có mức độ rủi ro thấp phải gánh chịu chi phí trong khi những tổ
chức có mức độ rủi ro cao hơn được hưởng lợi nên không phản ánh được mức
độ rủi ro của các tổ chức thành viên.
- Hình thức tính phí BHTG theo mức độ rủi ro: theo đó tổ chức BHTG
sẽ tiến hành xếp hạng các tổ chức tín dụng tham gia BHTG, tổ chức nào có
mức độ rủi ro cao sẽ phải đóng phí BHTG cao hơn các tổ chức tín dụng khác.
Cách tính phí này khắc phục được hạn chế của hình thức trước, có tác dụng
khuyến khích các thành viên tiến hành quản trị rủi ro chặt chẽ. Tuy nhiên,
việc xác định mức độ rủi ro của từng tổ chức tín dụng lại rất phức tạp, đòi hỏi
trình độ quản lý rất cao và liên quan đến vấn đề bảo mật tin tức ngân hàng.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng hình thức tính phí bảo hiểm
này.
3.6. Quyền và nghĩa vụ các bên trong bảo hiểm tiền gửi
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi:
Tổ chức BHTG có quyền thu phí BHTG của các tổ chức tham gia
BHTG theo quy định, có quyền yêu cầu các tổ chức tham gia BHTG gửi các
loại báo cáo tài chính khi cần thiết, yêu cầu tổ chức thực hiện đúng các quy
định an toàn trong kinh doanh và có quyền được hoàn trả lại các khoản hỗ trợ 15
tài chính đã cấp cho tổ chức tín dụng tham gia BHTG khi tổ chức này gặp khó

1. Lịch sử phát triển bảo hiểm tiền gửi thế giới
Khái niệm BHTG đã được nhiều quốc gia biết đến từ lâu. Khi hoạt
động BHTG công khai chưa được xuất hiện, bảo vệ tiền gửi đã được nhiều
quốc gia thực hiện dưới các hình thức “bảo vệ ngầm”. Hình thức bảo vệ ngầm
là việc Ngân hàng Trung ương hay Chính phủ có cam kết không công khai sẽ
đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người nếu có hoạt động đóng cửa ngân hàng
xảy ra và ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Vì
đây là cam kết không công khai nên không hình thành hợp đồng bảo hiểm
giữa người gửi tiền và ngân hàng, ngân hàng và ngân hàng Trung ương hay
Chính phủ. Nguồn gốc ra đời BHTG là xuất phát từ hoạt động “Bảo vệ tiền
gửi công khai”. Bảo vệ tiền gửi công khai là chính sách đảm bảo tất cả hay
một phần tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được
thanh toán cho người gửi tiền.
Bảo vệ tiền gửi công khai đầu tiên được thành lập ở Mỹ (1829) với tên
gọi “Chương trình bảo vệ trách nhiệm ngân hàng” được thực hiện ở New
York. “Trách nhiệm” được hàm ý trong chương trình này muốn đề cập đến
tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi. Tiếp theo chương trình
này, từ năm 1831-1858, 5 vùng ở Mỹ (Vermont, Indiana, Michigan, Ohio,
Iowa) đã thành lập tổ chức BHTG
2
với mục đích bảo vệ cộng đồng khi có
ngân hàng đổ bể và bảo vệ người gửi tiền cá thể và người gửi các công cụ tiền
gửi. Mặc dầu hệ thống BHTG Mỹ hoạt động trong giai đoạn này rất thành
công nhưng do vào cuối năm 1830, sự ra đời của chính sách “Ngân hàng tự
do” ở Mỹ và sự thành lập hệ thống Ngân hàng quốc gia 1886 đã tạo điều kiện
một số ngân hàng rút khỏi tổ chức BHTG.
Thời kỳ tiếp theo của BHTG cũng diễn ra ở Mỹ vào những năm 1908-
1930. Từ 1908 - 1917 ở Mỹ có 8 vùng thành lập hệ thống BHTG (Oklahoma,
Kansas, Nebraska, Texas, Mississippi, South Dakota, North Dakota, và
Washington). Tính đến năm 1930, cả 8 hệ thống này đã bị đóng cửa do ảnh

giới, ngày 6/5/2002 Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (International
Associaton of Deposit Insurers - IADI) được thành lập, có trụ sở tại Thụy Sỹ.
Với sự tham gia của nhiều hệ thống BHTG, IADI đã đánh dấu sự quan tâm 3
Ray.Labrosse(2004), Báo cáo thường niên lần thứ hai của Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi
quốc tế. 18
chung của nhiều nước về hoạt động BHTG và hứa hẹn một động lực phát
triển hoạt động này trên phạm vi toàn cầu.
IADI là một tổ chức phi lợi nhuận được thành lập theo luật Thụy Sỹ,
quyền hành xử lý các vấn đề của Hiệp hội thuộc về Đại hội các thành viên.
Hiệp hội được điều hành bởi Hội đồng điều hành gồm 21 cá nhân xuất sắc đại
diện cho các hệ thống BHTG trên thế giới. Chỉ qua 4 năm hoạt động, IADI đã
chứng tỏ vai trò của mình với nhiệm vụ gắn kết các hệ thống BHTG trên thế
giới nhằm xây dựng một nền tài chính ổn định mang tính chất toàn cầu. Cho
đến nay số lượng thành viên của IADI đã tăng từ 34 lên 51 thành viên
4
. Hàng
năm hiệp hội đều tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế về BHTG nhằm tạo một
diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các thành viên và chuẩn bị cho những
thách thức mới đối với BHTG thế giới trong bối cảnh tình hình tài chính luôn
thay đổi.
2. Tình hình phát triển bảo hiểm tiền gửi tại Mỹ - Đức - Đài
Loan
2.1. Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ
Hệ thống bảo hiểm tiền gửi Mỹ từ 1929 - 1990


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status