1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ERP (HỆ
THỐNG HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP)
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HẠNH
Lớp : Anh 6
Khoá : 41B
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. NGUYỄN LỆ HẰNG
triển: 16
3.4. Phần mềm ERP nước ngoài cấp thấp: 16
3.5. Phần mềm ERP nước ngoài cấp trung bình: 16
3.6. Phần mềm ERP nước ngoài cấp cao: 16
4. Các phân hệ của phần mềm ERP: 17
4.1. Kế toán: 18
4.2. Quản lý hàng tồn kho: 22
4.3. Phân hệ quản lý sản xuất: 23
4.4. Phân hệ quản lý bán hàng và phân phối: 25
4.5. Quản lý tính lương và nhân sự: 28 3
5. Những ƣu điểm của hệ thống ERP: 30
5.1. Tiếp cận thông tin quản trị đáng tin cậy: 30
5.2. Công tác kế toán chính xác hơn: 30
5.3. Cải tiến quản lý hàng tồn kho: 30
5.4. Tăng hiệu quả sản xuất: 30
5.5. Quản lý nhân sự hiệu quả hơn: 31
5.6. Các quy trình kinh doanh được xác định rõ ràng hơn: 31
6. Thị trƣờng phần mềm hệ thống ERP hiện nay: 31
6.1. Thị trường phần mềm ERP thế giới: 31
6.2. Thị trường ERP tại Việt Nam: 34
II. Sự cần thiết của việc ứng dụng phần mềm ERP vào hoạt động của các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam: 35
1. Dệt may là một ngành sản xuất bao gồm nhiều khâu nối tiếp nhau
theo kiểu dây truyền và có quy trình sản xuất phức tạp. 35
2. Ngành dệt may sử dụng một số lƣợng lớn chủng loại nguyên vật
liệu trong khi chất lƣợng của nguyên phụ liệu lại không ổn định. 37
3. Ngành dệt may sử dụng một số lƣợng lớn công nhân có trình độ
1. Những lợi thế của việc áp dụng hệ thống ERP: 52
1.1. Hệ Thống ERP - Một cách quản lý hiện đại cho doanh nghiệp
dệt may: 52
1.2. ERP - Một giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp dệt may: 54
1.3. ERP là một giải pháp giúp doanh nghiệp có thể thích ứng được
với những thay đổi của môi trường hiện nay. 58
1.4. ERP mang lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp nhờ tiết kiệm các
chi phí: 60
2. Những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc triển khai
hệ thống phần mềm ERP: 55
2.1. Thiếu vốn là một trong những trở ngại mà doanh nghiệp gặp
phải khi triển khai dự án ERP: 55
2.2. Chất lượng phần mềm ERP là một nỗi trăn trở của doanh
nghiệp: 59
2.3. Nhận thức của doanh nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào sản xuất còn hạn chế: 59
2.4. Thiếu đội ngũ nhân viên am hiểu về công nghệ thông tin: 60
2.5. Thiếu nhà cung cấp và nhà tư vấn triển khai: 62
Chƣơng 3 64 5
Một số Giải pháp phát triển hệ thống ERP tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam 64
I. Định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam: 64
1. Mục tiêu: 64
2. Chiến lƣợc phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010: 64
2.1. Đối với ngành dệt, bao gồm: sản xuất nguyên liệu dệt, sợi, dệt, in
nhuộm hoàn tất: 64
2.2. Đối với ngành may: 64
2.3. Quản lý sản xuất: 89
2.4. Quản lý hệ thống: 90
2.5. Quản lý nhân lực: 92
Kết luận 96
Danh mục tài liệu tham khảo 97 7
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
viết tắt
Chữ đầy đủ
1
BOM
Bill of Materials (Công thức sản phẩm)
2
CAD
Computer - aided design (Chương trình thiết kế sản phẩm bằng
máy tính)
3
CAM
Computer - aided manufacturing (Chương trình sản xuất sản phẩm
bằng máy tính)
4
CRM
Customer relation management (Quản lý quan hệ khách hàng)
5
CSDL
Personal computer (Máy tính cá nhân)
15
SCM
Supply chain management (Quản lý chuỗi cung cấp)
16
VAR
Value added retailer (Các nhà bán lẻ dịch vụ gia tăng)
17
VAS
Hệ thống Kế toán Việt Nam
18
WAN
Wide area network (Mạng diện rộng)
19
WTO
World trade organization (Tổ chức Thương mại thế giới)
8
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói trong khoảng chục năm trở lại đây nền kinh tế của Việt Nam tăng
trưởng với tốc độ khá kinh ngạc trung bình 7-8%/năm đặc biệt là kim ngạch xuất
khẩu. Hiện nay các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là dầu thô, nông lâm
sản, dệt may, da giầy, v.v Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực này, dệt may
ngày càng thể hiện vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước nhà với kim ngạch
xuất khẩu tăng trưởng không ngừng. Trong những năm tới, nước ta tiếp tục định
Chương 2: Thực trạng triển khai hệ thống hệ thống ERP (Enterprise resource
planning) - hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển hệ thống ERP (hệ thống hoạch định nguồn
lực doanh nghiệp tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
Trong khuôn khổ có hạn của một khoá luận tốt nghiệp, bài viết chắc chắn
không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý
báu của các thầy cô giáo và các độc giả.
Luận văn này không thể hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ quý báu của cô
giáo Nguyễn Lệ Hằng về phương hướng triển khai đề tài cũng như cách tổng hợp
tài liệu nghiên cứu. Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô của trường Đại học
Ngoại Thương trong suốt bốn năm qua đã tận tình cung cấp cho em những kiến
thức quý giá để em có thể hoàn thành luận văn này.
10
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG ERP
(ENTERPRISE RESOURCE PLANNING) - HỆ THỐNG QUẢN LÝ
NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ THỐNG ERP
1. Khái niệm
Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) hoặc hệ thống ERP là
một thuật ngữ được dùng liên quan đến một loạt hoạt động của công ty, do phần
mềm máy tính hỗ trợ để giúp công ty quản lý các hoạt động chủ yếu của nó, bao
P (Planning - Hoạch định): là khái niệm quen thuộc trong quản trị kinh
doanh. Điều cần quan tâm ở đây đó là hệ ERP hỗ trợ doanh nghiệp lên kế hoạch ra
sao. Trước hết, ERP tính toán và dự báo các khả năng sẽ phát sinh trong quá trình
điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, ERP giúp các nhà
máy tính toán chính xác kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu cho mỗi đơn hàng dựa
trên tổng nhu cầu nguyên vật liệu, tiến độ, năng suất, khả năng cung ứng, v.v…
Cách này cho phép doanh nghiệp có đủ vật tư sản xuất nhưng vẫn không để lượng
tồn kho quá lớn gây đọng vốn. ERP còn hỗ trợ lên kế hoạch trước các nội dung
công việc, nghiệp vụ cần trong sản xuất kinh doanh. Hơn nữa ERP còn tạo liên kết
các văn phòng công ty - đơn vị thành viên, phòng ban - phòng ban và trong nội bộ
các phòng ban, hình thành quy trình, trình tự xử lý nghiệp vụ để thành viên trong
công ty tuân theo.
2. Quá trình phát triển của hệ thống ERP:
Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ra đời từ những năm 60 của
thế kỷ XX và từ đó đến nay đã trải qua các giai đoạn được nâng cấp và cải tiến sau:
12
Sơ đồ 1: Các giai đoạn phát triển của hệ thống ERP
2.1. Inventory control packages (IC - Phần mềm quản lý hàng tồn kho):
Phần mềm quản lý hàng tồn kho ra đời từ những năm 60 của thế kỷ XX
được thiết kế nhằm mục đích duy trì mức hàng tồn kho và chi phí ở mức hợp lý.
Tuy nhiên phần mềm này cũng định ra những mức hàng tồn kho được đặt hàng và
khi nào thì tiến hành đặt hàng. Ngoài ra, phần mềm này còn có các quy trình giám
sát mức hàng tồn kho nhằm phục vụ cho các quyết định về tài chính và quản lý. IC
là những bước đầu tiên và đặt nền móng cho quá trình cải tiến hệ thống ERP ngày
nay.
2.2. Materials requirement planning (MRP - Phần mềm hoạch định các yêu cầu
xuất. Hơn nữa, MRP II còn là hệ thống hỗ trợ đắc lực trong quá trình đưa ra các
quyết định thông qua việc gắn kết thông tin giữa các bộ phận kỹ thuật, nhân sự, sản
xuất và marketing nhờ việc sử dụng một hệ mẫu phần mềm máy tính năng động có
thể hoạt động trong giới hạn về sản xuất của doanh nghiệp và với các đơn đặt hàng
có sẵn và dự đoán về cầu. MRP II bao gồm các phân hệ về quản lý phân xưởng,
quản lý phân phối, quản lý dự án, tài chính, nhân lực và kỹ thuật. Mục tiêu cơ bản
của MRP II là tập trung vào việc đảm bảo cân đối giữa mức nguyên vật liệu với nhu
cầu sản xuất.
Hệ thống MRP II có khả năng liên kết các bộ phận hoàn toàn khác nhau về
chức năng hay các bộ phận có cùng chức năng nhưng chưa thực sự gắn kết với nhau
tạo nên một hệ thống hoàn thiện, một vòng tuần hoàn thông tin trong doanh nghiệp. 2.4. Enterprise resource planning (ERP - Phần mềm hoạch định nguồn lực 14
doanh nghiệp)
ERP là sự phát triển hoàn thiện hơn của hệ thống MRP II với các chức năng
ưu việt hơn như hoạch định nguồn nhân lực, hỗ trợ đưa ra quyết định, quản lý chuỗi
cung cấp, hỗ trợ về bảo trì, bảo hành, chất lượng sản phẩm, các tiêu chuẩn về an
toàn và sức khoẻ cho người lao động. Thuật ngữ ERP được đưa ra đầu tiên bởi
Gartner Group trong những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Trong giới báo
chí, thuật ngữ này xuất hiện đầu tiên vào năm 1992 trên tờ Ricciuti còn đối với giới
công nghệ thông tin thì ERP được đưa ra đầu tiên vào năm 1996 bởi
DAVENPORT. Có rất nhiều thuật ngữ khác cùng nói đến ERP như: Hệ thống
doanh nghiệp - Enterprise systems - ES (Davenport 1998), công nghệ thông tin
doanh nghiệp - Enterprise information technologies - EIT (Sundarraj và Srinivas,
năm 2003), hệ thống hoạch định nguồn lực và phát triển doanh nghiệp – Enterprise
management and resource planning systems – EAS, v.v Tuy nhiên, thuật ngữ ERP
G
N
H
A
C
U
N
G
C
A
P 15
hợp hoàn chỉnh giữa ERP thông thường với CRM (Customer relation management -
Phần mềm quản lý quan hệ khách hàng) và SCM (Supply chain management – Phần
mềm quản lý chuỗi cung cấp) tạo nên một hệ thống liên kết chặt chẽ, giúp cho
doanh nghiệp có thể có một cách tiếp cận thông tin mới mẻ và các thông tin đầy đủ
từ phía khách hàng lẫn nhà cung cấp của mình.
3.4. Phần mềm ERP nước ngoài cấp thấp:
Các phần mềm này được thiết kế dành cho các doanh nghiệp nhỏ do gia đình
làm chủ và chỉ hoạt động ở một địa điểm. Những phần mềm này thường không hỗ
trợ các phân hệ được thêm vào nhưng chúng có thể có hiệu quả cao cho các hoạt
động kế toán đơn giản. Ví dụ về phần mềm này như: QUICKBOOKS,
PEACHTREE, MYOB với mức giá phổ biến là một vài trăm đô la Mỹ. Các phần
mềm này không có nhiều dịch vụ hỗ trợ ở Việt Nam.
3.5. Phần mềm ERP nước ngoài cấp trung bình:
Các phần mềm này bao gồm các phần mềm được bán trên thế giới và được thiết
kế dành cho các công ty vừa và nhỏ. Các phần mềm này hỗ trợ hầu hết các quy trình
hoạt động kinh doanh và được thiết kế cho việc sử dụng trên hệ thống mạng với cấu trúc
khách/chủ, trong đó phần mềm chạy chính trên một máy chủ (SERVER) và cho phép
nhiều máy khách truy cập từ mạng cục bộ LAN. Các phần mềm điển hình như:
SUNSYSTEMS, EXACT GLOBE 2000, MS SOLOMON, NAVISION, SCALA,
ACCPAC, INTUITIVE ERP và MARCAM. Các phần mềm này thường có giá trị từ
20000 đô la Mỹ đến 150000 đô la Mỹ kể cả chi phí triển khai và tuỳ vào số phân hệ
được sử dụng.
3.6. Phần mềm ERP nước ngoài cấp cao:
Các phần mềm này gồm các phần mềm ERP được bán trên thế giới và được 17
thiết kế dành cho các công ty đa quốc gia có nhiều địa điểm hoạt động, nhiều chi
nhánh và nhiều người sử dụng cùng một lúc. Các phần mềm này rất đắt và nhằm
phục vụ các quy trình kinh doanh phức tạp với những yêu cầu hoạt động rất khắt
khe. Các phần mềm nổi tiếng như: ORACLE FINANCIALS, SAP, PEOPLESOFT.
Chi phí cho các phần mềm này thường có giá từ ít nhất là vài trăm ngàn đô la Mỹ
bao gồm cả chi phí triển khai.
Sơ đồ 5: Các phân hệ của sản phẩm SAP R/3
thêm hoặc chỉnh sửa danh mục tài khoản một cách thuận tiện. Ngoài đặc điểm này ra
thì thường không có nhiều sự khác biệt giữa các phần mềm liên quan đến phân hệ sổ 19
cái.
4.1.2. Quản lý tiền:
Các đặc điểm của quản lý thường bao gồm dự trù thu chi, đối chiếu với tài
khoản ngân hàng, theo dõi tình trạng của các khoản vay hiện tại, bao gồm cả theo
dõi và cảnh báo khi đến hạn trả nợ gốc và lãi.
4.1.3. Công nợ phải trả và công nợ phải thu:
Sơ đồ 7: Quy trình công nợ phải thu khách hàng trong doanh nghiệp 20
Sơ đồ 8: Quy trình công nợ phải trả trong doanh nghiệp.
Chức năng thông thường cần thiết cho công nợ phải trả và công nợ phải thu
là kiểm tra các khoản phải thu/phải trả chưa có hoá đơn, đối chiếu hoá đơn (nghĩa là
đối chiếu hoá đơn với biên bản nhận hàng/giao hàng), kiểm tra các hoá đơn đã
thanh toán và chưa thanh toán, hạch toán tự động trên sổ cái và tích hợp giữa công
nợ phải trả và công nợ phải thu cho khách hàng đồng thời là nhà cung cấp. Nhiều
phần mềm nổi bật về các chức năng nhắc nhở người sử dụng về các khoản phải trả
hoặc phải thu cần chú ý như các khoản đã vượt số ngày bán chịu cho phép hoặc đã
gần hạn mức bán chịu cho phép. Một số phần mềm cho phép các khoản bán chịu
cho các hàng hoá khác nhau trên cùng một hoá đơn trong khi các phần mềm khác
không cho phép. Tương tự, các phần mềm khác nhau lập số lượng và chất lượng các
báo cáo khác nhau như báo cáo tuổi nợ của nhà cung cấp hay khách hàng, liệt kê
mua hàng và bán hàng.
ra các báo cáo theo yêu cầu của người sử dụng.
4.1.9. Khả năng phân tích tài chính:
Chức năng phân tích tài chính của một phần mềm ERP thường không phụ
thuộc hoàn toàn vào khả năng tạo ra các báo cáo tài chính hữu ích mà là khả năng
phân loại và nhóm dữ liệu theo cách có ý nghĩa. Kết quả là có thể tạo ra nhiều báo
cáo khác nhau theo yêu cầu của người sử dụng. Các phần mềm ERP của nước ngoài 22
có xu hướng khá tinh vi về điểm này với 3 đến 10 chiều phân tích do người sử dụng
xác định.
4.1.10. Khả năng truy xuất nguồn gốc (Business intelligence):
Khả năng truy xuất nguồn gốc cũng là một chức năng quan trọng mà theo đó
người sử dụng có thể nhấp chuột vào một hạng mục hoặc mở một màn hình mới
hoặc mở một hạng mục cấp thấp hơn để chỉ ra một con số cụ thể bắt nguồn từ đâu
hoặc đã được tính toán thế nào. Chức năng này giúp người sử dụng dễ dàng có được
các chi tiết mong muốn của một báo cáo, đôi khi chỉ ở cấp độ dữ liệu đầu vào.
Nhiều phần mềm ERP nước ngoài có khả năng truy xuất nguồn gốc mạnh hơn các
phần mềm trong nước.
4.2. Quản lý hàng tồn kho:
Sơ đồ 10: Quy trình quản trị kho trong doanh nghiệp
4.2.1. Những chức năng cơ bản:
Những chức năng cơ bản của phân hệ hàng tồn kho bao gồm theo dõi tất cả
các loại hàng tồn kho trong công đoạn của quá trình sản xuất, hạch toán các hạng
mục khác nhau trong một biên bản nhận hàng hoặc biên bản giao hàng đơn lẻ, theo 23
dõi phế phẩm, theo dõi hàng bán bị trả lại, theo dõi địa điểm của hàng tồn kho và ở
lắp ráp là những ngành trong đó những phần nhỏ được lắp ráp vào nhau
để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh.
Tính giá thành sản xuất: Các lĩnh vực kinh doanh khác nhau đòi hỏi có
những phương pháp tính giá thành sản xuất khác nhau như giá thành thực
tế, giá thành tiêu chuẩn hoặc một hình thức kết hợp nào đó của hai ph-
ương pháp này. Nói chung phần mềm nào theo dõi càng chi tiết giá thành 25
sản xuất thì càng hữu dụng.
4.3.2. Hoạch định sản xuất:
Hoạch định sản xuất là một trong những mục tiêu chủ chốt của một phần
mềm ERP. Phần mềm này giúp cho việc lập kế hoạch sử dụng vật tư, nhân công,
máy móc cả về khối lượng và chất lượng để có thể dễ dàng so sánh với thực tế.
Phần mềm cho phép hoạch định:
Nhu cầu công suất và công suất hiện có để đáp ứng nhu cầu của khách
hàng
Tận dụng máy móc và nhân công;
Lên lịch sản xuất.
Ngoài ra phần mềm ERP còn có thể lập các báo cáo tiến độ sản xuất khác
nhau và một chức năng của các báo cáo là cảnh báo giám đốc sản xuất một cách kịp
thời.
4.3.3. Tích hợp với phân hệ hàng tồn kho và bán hàng:
Phân hệ sản xuất tích hợp với phân hệ hàng tồn kho và một trong số phần
mềm ERP thì chúng kết hợp làm một. Sẽ rất hữu ích nếu phân hệ quản lý bán hàng
nối với phân hệ hàng tồn kho và quản lý sản xuất, chẳng hạn như phòng kinh doanh
có thể cần kiểm tra thường xuyên tiến độ sản xuất và công suất hiện có để có thể
truyền đạt những điều này với khách hàng.
4.3.4. Báo cáo tiến độ sản xuất
4.4. Phân hệ quản lý bán hàng và phân phối: