TRNG I HC NGOI THNG H NI
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI
********* O0O ********
KHO LUN TT NGHIP
ti:
Tình hình biến động giá xăng dầu trên thị tr-ờng
Việt Nam trong những năm gần đây:
Nguyên nhân và giải pháp
SV thc hin : Nguyn Th Thu Trang
Lp : Trung 1
Khúa : K42 E
GV hng dn : THS. o Th Thu Giang
H NI, THNG 11 / 2007 35
BẢNG 2.1. DIỄN BIẾN GIÁ BÁN LẺ XĂNG DẦU TỐI ĐA
1
Từ 18/02
5.200
5.400
5.600
5.900
4.300
4.400
3.200
3.300
4300
Năm 2004
1
Từ 22/02
5.600
5.800
6.000
6.300
4.550
4.650
1
Từ 12h ngày 29/03
7.600
7.800
8.000
8.300
5.500
4.000
4.150
4900
2
Từ 12h ngày 03/07
8.400
8.600
8.800
9.100
6.500
4.700
4.850
6500
3
Từ 18h ngày 17/08
1
Từ 20h ngày 27/04
10.600
10.800
11.000
11.300
7.900
5.500
5.650
7.900
2
Từ 16h ngày 09/8
11.600
11.800
12.000 8.600 8.600
3
Từ 17h ngày 12/9
10.600
10.800
11.000
10.100
2
Từ 6/3
10.600
10.800
10.600
3
Từ 7/5
10.400
11.600
11.800
12.100 4
Biểu đồ 2.1. So sánh tốc độ tăng trưởng GDP và CPI của Việt Nam trong giai
đoạn 2003-2007 26
Biểu đồ 2.2. Tốc độ tăng trưởng chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam trong
giai đoạn 2003-2007 30
Biểu đồ 2.3. Biến động giá cả trên thị trường xăng dầu Việt Nam trong giai
đoạn 2003-2007. 31
Biểu đồ 2.4. Giá dầu thô giao ngay trên thị trường thế giới 38
Danh mục bảng biểu.
Bảng 1.1. Diễn biến giá dầu thô trong thời kỳ khủng hoảng. 9
Bảng 1.2. Mức độ hao hụt xăng dầu trong quá trình vận chuyển. 14
Bảng 1.3. Tổng hợp kết quả chỉ tiêu của Petrolimex 2000-2004 18
Bảng 2.1. Diễn biến giá bán lẻ xăng dầu tối đa( 2003-2007) 35
- 1 -
LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài.
Kể từ khi dầu mỏ được tìm thấy trên Trái đất, một kỷ nguyên mới cho
ngành năng lượng đã thực sự bắt đầu. Dầu mỏ, cùng với các sản phẩm dầu
mỏ- trong đó có xăng dầu trở thành nguồn năng lượng không thể thiếu đối với
loài người. Xăng dầu là nhiên liệu thiết yếu cho tất cả các loại phương tiện
vận tải hiện đại, giúp con người thuận tiện trong lưu thông, đi lại. Chúng cũng
là nhiên liệu dùng cho máy móc trong sản xuất, gián tiếp tạo ra của cải vật
3. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu của khóa luận chủ yếu là phương pháp phân
tích-tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa tài liệu, phương
pháp so sánh…Các số liệu được sử dụng trong khóa luận được thống kê từ nhiều
nguồn tài liệu : các loại văn bản của Bộ Tài chính, các bài nghiên cứu, trao đổi,
các bài phân tích đánh giá trên các tạp chí, trang web, các phương tiện thông tin
đại chúng…Ngoài ra từ những số liệu có sẵn tác giả tự tổng hợp thành các bảng
thống kê, biểu đồ so sánh, hệ thống nhằm cụ thể hóa nội dung cần phân tích.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: mặt hàng xăng dầu và thị trường xăng dầu nội địa;
diễn biến giá cả trên thị trường xăng dầu; các chính sách của Nhà nước có liên
quan tới quản lý giá cả và mặt hàng xăng dầu như: Nghị định, quy định, các văn
bản luật và dưới luật có liên quan. Ngoài ra đề tài cũng đi vào phân tích khái quát
diễn biến giá cả dầu thô thế giới, tình hình giá cả các loại hàng hóa nói chung
nhằm làm nổi bật nội dung vấn đề nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận đi sâu nghiên cứu về những diễn biến
giá cả của mặt hàng xăng dầu trên thị trường Việt Nam. Để phân tích nội dung - 3 -
được tập trung, chi tiết với những diễn biến mới nhất trên thị trường xăng dầu, đề
tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2003 đến tháng 09/2007.
5. Kết cấu khóa luận.
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như trên, khóa luận được xây
dựng gồm 3 chương. Cụ thể, ngoài lời mở đầu, mục lục, tài liệu tham
khảo…luận văn có kết cấu như sau:
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về mặt hàng xăng dầu và thị trường
xăng dầu Việt Nam.
Chƣơng II: Tình hình biến động giá cả trên thị trường xăng dầu Việt
chiến tranh, sau đó là sản xuất muối ăn. Cho tới thế kỷ 19, người ta mới bắt
đầu khai thác dầu theo mô hình công nghiệp để khai thác lấy chất đốt cho đèn
thay thế các loại chất đốt trước kia là dầu cá voi và nến bằng mỡ. Từ giữa thế
kỷ 19 một số nhà khoa học đã áp dụng nhiều phương pháp để khai thác dầu
một cách thương mại. Người ta bắt đầu đi tìm kiếm những mỏ dầu lớn và cho
tới khi nhà địa chất Hoa Kỳ Edwin L.Drake phát hiện ra mỏ dầu lớn đầu tiên
tại Pennsylvania vào ngày 27 tháng 8 năm 1859 đã đánh dấu một bước ngoặt
cho ngành năng lượng toàn cầu. Kể từ đó, dầu mỏ trở thành nguồn năng
lượng không thể thiếu đối với con người.
1
Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất dùng để sản
xuất điện và cũng là nhiên liệu chủ yếu cho các phương tiện vận tải. Thông
qua quá trình lọc hóa dầu người ta thu được các sản phẩm của dầu mỏ và sử
dụng chúng vào các mục đích khác nhau, trong đó nhiều nhất là các sản phẩm
xăng dầu. Trước đây, các sản phẩm của xăng dầu chủ yếu để làm chất đốt, 1
Bách khoa toàn thư mở: cứu 10/09/2007. - 5 -
xăng dùng làm chất tẩy các vết bẩn trên quần áo…Cùng với sự phát triển
mạnh mẽ về kinh tế -xã hội và khoa học kỹ thuật, xăng dầu đã xuất hiện trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như vận tải, công nghiệp, thương mại, dịch
vụ, nông nghiệp v.v Ngày nay trong bất kỳ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ
nào cũng chứa một lượng chi phí xăng dầu nhất định, tùy theo nhu cầu sử
dụng chi phí lớn nhỏ cũng khác nhau.
bảo phát huy sức mạnh chiến đấu và khả năng phòng thủ bảo vệ đất nước. Cụ thể:
các loại máy bay, tên lửa cần một số loại xăng dầu chuyên biệt như xăng máy bay,
dầu diesel, dầu hỏa…; các loại vũ khí cũng cần dầu nhớt để bảo dưỡng.
Do vậy, ngày nay, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, xăng
dầu đều chiếm 1 vị trí quan trọng và có giá trị lớn. Xăng dầu không chỉ là yếu
tố đảm bảo cho hoạt động sản xuất diễn ra bình thường mà còn có vai trò
tham gia vào việc tạo ra giá trị xã hội, làm cho kinh tế ngày càng phồn vinh,
đời sống ngày càng phát triển.
2.Vai trò của xăng dầu trong phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
2.1. Vai trò của xăng dầu đối với các quốc gia phát triển và đang phát triển.
Xét theo khía cạnh từng khu vực và quốc gia trên thế giới, sự thiết yếu
của xăng dầu thể hiện ở lượng tiêu thụ sản phẩm này. Theo tổng hợp số liệu
từ EIA từ năm 2002 tới 2006 cho thấy lượng tiêu thụ xăng dầu của thế giới
không ngừng gia tăng. Mức tiêu thụ dầu của từng khu vực được thể hiện rõ rệt
trong biểu đồ dưới đây
3
: 3
Biểu đồ do người viết xây dựng dựa trên số liệu từ trang Thông tin năng lượng EIA
( tra cứu 10/09/2007. - 7 - Khu vực tiêu thụ lượng dầu lớn nhất là Bắc Mỹ, trong giai đoạn
2002-2006, mỗi ngày khu vực này tiêu thụ trung bình từ 24-25 triệu thùng
dầu. Trong đó chỉ tính riêng nước Mỹ đã tiêu thụ trung bình khoảng 20
0.00
5,000.00
10,000.00
15,000.00
20,000.00
triển và kém phát triển thì nhu cầu năng lượng thấp hơn tuy nhiên các nước
này nên cần đẩy nhanh nhu cầu sử dụng năng lượng để hỗ trợ các ngành
công nghiệp, giao thông vận tải, thương mại…phát triển. Cho tới nay, xăng
dầu vẫn là nguồn năng lượng chính cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa kinh tế- xã hội của các quốc gia trên thế giới.
2.2. Vai trò của xăng dầu đối với các quốc gia xuất nhập khẩu xăng dầu.
Đối với các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ, dầu trở thành mặt hàng quan
trọng trong xuất khẩu và mang lại nguồn thu vô cùng lớn cho ngân sách nhà
nước, làm tăng GDP, tăng thu ngoại tệ Dầu mỏ là tài nguyên thiên nhiên
quý và có giá trị cao do đó bất kỳ một quốc gia nào có ưu thế về tài nguyên
dầu mỏ, biết đầu tư và khai thác sẽ đem lại lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế
nước mình. Một số quốc gia trước đây có nền kinh tế phát triển chậm, nghèo
nàn nhưng nhờ có các mỏ dầu lớn đã nhanh chóng trở nên giàu có như Ả rập
Saudi, Cô Oét, Li bi, Mexico, Venezuela…
5
Trong những năm trở lại đây,
Việt Nam bắt đầu tập trung vào lĩnh vực thăm dò khai thác dầu và đạt được
kim ngạch xuất khẩu ngày càng cao, tổng lượng dầu thô xuất khẩu giai đoạn
2001-2005 ước đạt 90 triệu tấn, trị giá đạt 23,2 tỷ USD
6
. Kim ngạch xuất
khẩu dầu thô đã có đóng góp không nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu hàng 5
Căn cứ theo bảng xếp loai trinh độ phát triển kinh tế của các quốc gia của Ngân hàng thế giới:
tra cứu 10/09/2007
6
tra cứu 11/09/2007.
tăng giá(lần)
-Thập niên 60 thế kỷ XX.
-Đầu năm 1970
-Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 1.
1,80
3,20
11,56
1
1,77
6,42 7
Cơ quan thông tin năng lượng thế giới: www.eia.dov.gov, tra cứu 12/09/2007.
- 10 -
-Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 2.
-Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 3.
-Cuộc khủng hoảng năm 2004.
-Cuộc khủng hoảng năm 2005.
-Cuộc khủng hoảng tháng 4-2006
34-35
38-40
41,11
60,0
75,35
18,88-19,44
nguồn thu ngoại tệ lớn cho các quốc gia xuất khẩu dầu, đóng góp to lớn vào
công cuộc phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, nó không chỉ là nguồn năng lượng
quý giá và cần thiết đảm bảo an ninh năng lượng cho tất cả các nền kinh tế
trên thế giới, mà còn góp phần không nhỏ phục vụ cho quá trình công nghiệp
hóa- hiện đại hóa của mỗi quốc gia.
II. ĐẶC ĐIỂM CỦA MẶT HÀNG XĂNG DẦU VÀ THỊ TRƢỜNG XĂNG DẦU
NƢỚC TA.
1. Đặc điểm chung của mặt hàng xăng dầu.
1.1. Phân loại xăng dầu .
Xăng dầu là chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ, dùng làm
nhiên liệu, bao gồm: xăng động cơ, dầu diesel, dầu hỏa, dầu mazut, nhiên liệu
máy bay; các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không bao gồm
các loại khí hóa lỏng
8
. Các sản phẩm lọc dầu thô dưới các điều kiện nhiệt độ
khác nhau sẽ tạo ra các sản phẩm xăng dầu khác nhau. Mỗi loại sản phẩm đó
lại có các chức năng khác nhau và được dùng trong rất nhiều lĩnh vực của đời
sống sinh hoạt và sản xuất. Việc định giá loại xăng dầu nào sẽ phụ thuộc vào
sự thiết yếu của sản phẩm, tính phức tạp trong quy trình lọc hóa dầu để tạo ra
được sản phẩm đó. Do đó, để hiểu rõ tầm quan trọng của các sản phẩm xăng
dầu trước hết cần tìm hiểu các chủng loại, đặc tính của từng loại và ứng dụng
thực tiễn của chúng.
Như đã biết, sản phẩm bắt nguồn là dầu thô, hay tên khác là dầu mỏ,
còn được ví như “vàng đen”, là một chất lỏng đặc màu nâu hoặc ngả lục. Hiện 8
Nghị định 55/NĐ-CP ban hành 06/04/2007, chương 1, điều 3, mục 1.
9
Bách khoa toàn thư mở Việt Nam:
Quốc và Nhật Bản.
Xăng nặng: 100- 150
0
C: dùng làm nhiên liệu cho ô tô.
- Xăng máy bay: loại nhiên liệu có chỉ số Octan cao (Octan: chỉ số
biểu thị khả năng chống kích nổ của xăng), chỉ được sử dụng trong các loại
máy bay có sử dụng động cơ đốt trong, các máy bay phản lực và các động cơ
tuốc bin sử dụng kê rô si làm nhiên liệu. - 13 -
- Các loại xăng dùng cho ô tô và xe máy gồm có: xăng Mogas 83,
xăng Mogas 90, xăng Mogas 92, xăng Mogas 95. Xăng Mogas 95 có chỉ số
Octan cao, có ưu điểm hơn các loại xăng Mogas 90, 92 nên chúng phù hợp
nhất với các loại xe ga cao cấp. Các loại xăng Mogas 83, Mogas 90, Mogas
92 thường dùng với những loại ô tô, xe máy thông thường. Tuy vậy, loại xăng
nào có chỉ số Octan càng cao, biểu thị chất lượng và độ an toàn cao, thì giá
càng cao.
-Trên thị trường xăng dầu hiện nay song song tồn tại 2 loại: xăng pha
chì và không pha chì. Các loại xăng pha chì có hại cho môi trường và sức
khỏe con người. Trên thế giới khoảng trên 90% tổng lượng xăng không pha
chì, chủ yếu được tiêu thụ ở các nước phát triển, 10% còn lại tiêu thụ ở các
nước đang phát triển. Nước ta vẫn đang tiếp tục nghiên cứu các phương án
loại bỏ hoàn toàn loại xăng pha chì trên thị trường. Tuy nhiên, theo tính toán
của Ngân hàng thế giới và thực tiễn áp dụng ở Thái Lan, giá thành của xăng
không pha chì cao hơn xăng pha chì từ 0,015-0,02 USD/lít
C, là một loại nhiên liệu lỏng, sản phẩm tinh
chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hỏa và dầu bôi trơn.
Chúng được dùng làm nhiên liệu cho động cơ diezen hoặc làm dầu sưởi. Các
nhiên liệu diezen nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi từ 315 tới 425
0
C còn gọi là
dầu Mazut. Dầu diezen thường được sử dụng cho tàu thủy.
Dầu bôi trơn: >300
0
C, dầu bôi trơn động cơ, còn gọi là dầu nhớt, dầu nhờn.
Dầu bôi trơn động cơ chiếm khoảng 40% dầu bôi trơn ở các nước công nghiệp.
Ngoài các sản phẩm chính trên còn có một số sản phẩm khác thu được
từ quá trình lọc dầu như: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác
11
Có thể thấy dầu mỏ là một loại hàng hóa đa tính năng. Các sản phẩm
thu được từ dầu hỏa rất phong phú và đa công dụng, mỗi loại chuyên dùng
cho một loại máy móc khác nhau. Thông qua chức năng và phạm vi sử dụng
của các sản phẩm này càng thấy rõ sự cần thiết của chúng trong rất nhiều lĩnh
vực khác nhau của đời sống.
1.2. Xăng dầu là đối tƣợng hàng hóa có đặc tính riêng.
Xét về đặc tính lý hóa, xăng dầu là dạng hóa chất ở thể lỏng, dễ bốc
cháy, nhạy cảm với nhiệt độ môi trường. Do đó, việc bảo quản, chuyên chở và
sử dụng xăng dầu cũng cần có những yêu cầu khác hẳn với các mặt hàng khác
như: phương tiện, thiết bị chuyên dùng, công tác bảo đảm an toàn phòng cháy
chữa cháy. Hơn nữa, xăng dầu là sản phẩm dễ bị hao mòn hữu hình thông qua
quá trình vận chuyển như: bay hơi, dễ kém hoặc mất phẩm chất. Vì vậy, yêu
cầu về bảo quản để đảm bảo chất lượng xăng dầu là tương đối cao và phải
được chú trọng, nếu không giá trị của xăng dầu sẽ giảm. Từ đó sẽ ảnh hưởng
năng mới. Nói cách khác, quá trình tiêu dùng xăng dầu là quá trình gián tiếp
tham gia vào giá trị của các sản phẩm, hàng hóa khác. Đặc tính của xăng dầu
có tính đặc biệt như trên nên việc sử dụng xăng dầu trong đời sống và sản
xuất không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Việc tiết kiệm xăng
dầu trong quá trình sử dụng còn phải xem xét dựa trên nhiều yếu tố, xét trên
toàn bộ quá trình hoạt động, sản xuất xem có phù hợp hay không, để không
ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế của xã hội.
Với những đặc tính như trên, có thể thấy những yếu tố khách quan
như điều kiện môi trường, khí hậu, quá trình vận chuyển và bảo quản…cũng
là các nhân tố có ảnh hưởng tới mặt hàng này.
2. Một số đặc điểm của thị trƣờng xăng dầu nƣớc ta.
Dầu mỏ du nhập vào thị trường Việt Nam khoảng cuối thế kỷ XIX-
đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở 12
Nguyễn Cao Vãng, Kinh doanh xăng dầu theo cơ chế thị trường, NXB Chính trị Quốc gia. - 16 -
nước ta. Trong gần một thế kỷ thực dân Pháp đô hộ, nguồn cung xăng dầu chủ
yếu do các công ty tư bản Pháp đảm nhận, trong đó Shell chiếm 75% tổng
mức tiêu thụ xăng dầu trong nước
13
. Sau giải phóng và bước vào công cuộc
xây dựng đổi mới đất nước, thị trường xăng dầu trong nước đã có những thay
đổi đáng kể. Tuy nhiên, cho tới nay xăng dầu nước ta vẫn phải nhập khẩu toàn
bộ. Các chủ thể tham gia nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu phong phú và
quy mô lớn hơn trước. Về cơ bản, thị trường xăng dầu nước ta có những đặc
sử dụng dầu mỏ tại chỗ sẽ tiết kiệm 15-30% so với việc nhập khẩu xăng dầu. Với
tiềm năng dầu thô lớn như nước ta, việc xây dựng các nhà máy lọc hóa dầu là hợp
lý, vừa tiết kiệm dầu thô khai thác, vừa đáp ứng một phần nhu cầu của thị trường 14
Biểu đồ do người viết xây dựng dựa trên số liệu từ website Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn)
0
5.000
10.000
15.000
20.000
25.000
2002
2003
sự phát triển của kinh tế- xã hội đất nước, thị trường xăng dầu nước ta đang
ngày càng hoàn thiện hơn.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có 11 doanh nghiệp đầu mối nhập
khẩu xăng dầu và hàng nghìn doanh nghiệp quốc doanh, tư nhân lớn nhỏ tham
gia kinh doanh xăng dầu trên cả nước. Cụ thể:
- Đứng đầu trên thị trường xăng dầu trong nước là Tổng công ty xăng
dầu Việt Nam Petrolimex, thành lập năm 1956, cũng là doanh nghiệp đầu tiên
trong lĩnh vực nhập khẩu và kinh doanh xăng dầu ở nước ta. Chiếm 60% thị
trường xăng dầu trong cả nước, Petrolimex là tổ chức kinh doanh thương mại
xăng dầu và các sản phẩm hóa dầu lớn nhất tại Việt Nam hiện nay. Petrolimex
hiện có 43 công ty thành viên, 25 chi nhánh và 09 xí nghiệp trực thuộc các
công ty thành viên 100% vốn nhà nước. Có 20 công ty cổ phần có vốn góp
chi phối của Tổng công ty, 03 công ty liên doanh với nước ngoài. Ngoài ra - 19 -
Petrolimex có 01 chi nhánh tại Singapore
15
. Những kết quả mà Petrolimex đạt
được trong giai đoạn 2001-2004 như sau:
Bảng 1.3 : Tổng hợp kết quả các chỉ tiêu cơ bản của Petrolimex (2001-2004).
KQ thực hiện
Đơn vị tính
2001
2002
2003
2004
Tổng sản lượng
- Công ty thương mại kỹ thuật và đầu tư PETEC, nguyên là công ty
PETECHIM, là 1 công ty Nhà nước, thành lập năm 1981, với chức năng kinh
doanh cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.
- Công ty xăng dầu hàng không: thành lập năm 1993, là nhà cung cấp
nhiên liệu hàng không duy nhất cho các hãng hàng không nội địa và quốc tế
tại các sân bay dân dụng Việt Nam và cung ứng các sản phẩm hóa dầu trên thị
trường xăng dầu Việt Nam.
- Công ty xăng dầu quân đội: là doanh nghiệp trực tiếp nhập khẩu và
kinh doanh xăng dầu. Doanh thu hằng năm trung bình 1500 tỷ đồng.
- Thương mại xăng dầu đường biển, chế biến và kinh doanh các sản
phẩm dầu mỏ. 15
cứu 12/09/07. - 20 -
- Thương mại dầu khí Đồng Tháp.
- Petechim.
- Liên doanh dầu khí Mekong.
- Công ty vật tư tổng hợp Phú Yên.
Ngoài ra còn có một số doanh nghiệp, đại lý bán lẻ do tư nhân đảm
nhiệm v.v
Do trên thị trường xăng dầu số doanh nghiệp tham gia kinh doanh
ngày càng nhiều nên so với trước kia, thị trường có tính cạnh tranh hơn trước.
Càng nhiều doanh nghiệp tham gia thì lượng cung dầu được phân bố đồng
đều hơn. Tuy vậy, vẫn không thể tránh khỏi lượng cung dầu tập trung phần
lớn tại một vài đầu mối kinh doanh chủ lực, chiếm đa số thị phần (như
thuế quan, chính sách bảo hộ mậu dịch, các quy chế tối huệ quốc…đều có ảnh
hưởng nhất định tới yếu tố giá của hàng hóa. Để đóng tăng nguồn thu ngân
sách, Nhà nước thường áp dụng các mức thuế đối với mặt hàng nhập khẩu.
Đồng thời, Nhà nước cũng sử dụng các loại thuế như: thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế nhập khẩu như là một công cụ hữu ích để điều chỉnh giá cả cho phù hợp
với thị trường. Khi giá nhập khẩu tăng, Nhà nước thực hiện giảm thuế và
ngược lại. Bên cạnh đó Nhà nước còn áp dụng biện pháp trợ giá, nhằm hỗ trợ
một phần cho các doanh nghiệp nhập khẩu, giảm gánh nặng cho người tiêu
dùng đồng thời ổn định giá cả thị trường.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa gắn liền với chính sách mậu dịch
quốc tế, luật buôn bán quốc tế, thanh toán quốc tế…Tuy nhiên, tùy thuộc vào
mối quan hệ về chính trị mà các nước xuất khẩu dầu sẽ đưa ra chính sách
thương mại thuận lợi hoặc gây khó khăn cho các nước nhập khẩu. Những
chính sách gây cản trở, cấm vận do mâu thuẫn, căng thẳng về chính trị giữa
các quốc gia sẽ gây ảnh hưởng xấu đối với hoạt động nhập khẩu, lượng cung
giảm tất yếu đẩy giá cả lên cao. Phần lớn các cuộc khủng hoảng xăng dầu trên
thế giới đều có liên quan đến yếu tố chính trị. Năm 1973, khi các nước - 22 -
phương Tây ủng hộ Isarel trong cuộc chiến tranh Isarel- Ả rập, tổ chức OPEC
16
đã lập tức trả đũa bằng cách cắt giảm sản lượng, khiến giá dầu thế giới tăng
gấp 4 lần, gây là cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần 1. Cho tới cuộc khủng hoảng
1982, nguyên nhân chính là do cuộc xung đột giữa Iran và Irac nổ ra, Iran đã
đột ngột ngừng xuất khẩu 2 triệu thùng/ngày khiến giá xuất khẩu dầu tăng
khoảng 3 lần
17
. Ở Việt Nam, trước đây Mỹ thực hiện chính sách cấm vận kinh