TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG
MẠI TRONG LĨNH VỰC THỰC PHẨM TẠI VIỆT NAM Họ và tên sinh viên: Nguyễn Bích Ngọc
Lớp: Anh 14
Khoá: K42D
Giáo viên hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thanh Bình Hà Nội, tháng 11 năm 2007
2
MỤC LỤC
3 Thực tiễn hoạt động của các bên nhận quyền tại Việt Nam 644 Đánh giá chung về thực tiễn hoạt động nhượng quyền thương mại trong
lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam 69
5 Một số mô hình nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tiêu
biểu của Việt Nam 70
Chƣơng III: Tiềm năng và giải pháp phát triển nhƣợng quyền thƣơng mại
trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam thời gian tới 76
I. Tiềm năng phát triển nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm
tại Việt Nam 76
1 Những điều kiện thuận lợi để phát triển nhượng quyền thương mại trong
lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam 76
2 Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh rất phù hợp với tình
hình Việt Nam hiện nay 83
3 Tiềm năng về thị trường nhượng quyền và nhận quyền trong lĩnh vực thực
phẩm tại Việt Nam 84
II. Giải pháp phát triển nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm
tại Việt Nam thời gian tới 86
1 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp nhượng quyền 87
2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp nhận quyền 93
3 Giải pháp từ phía Nhà nước và các Bộ, Ban, Ngành 96
Kết luận 101
Tài liệu tham khảo 103
Phụ lục 108
Phụ lục 1: Mẫu đơn đăng ký nhượng quyền thương mại 108
Phụ lục 2: Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại 1101
triển như Việt Nam với đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ.
Bên cạnh đó, với mức tăng trưởng GDP trung bình 7,6%/năm
1
từ 2001 đến
2006, tình hình an ninh chính trị ổn định, lực lượng lao động dồi dào, nguồn
cung cấp nguyên liệu nông sản và các sản phẩm thực phẩm phong phú cùng
với việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1/2007, Việt
Nam trở thành một điểm đến lý tưởng đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài
nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm.
Dù có tiềm năng lớn nhưng do thiếu kinh nghiệm, trình độ, nhân lực cũng
như chính sách hỗ trợ, sự quan tâm thích đáng từ phía Nhà nước và các Bộ,
Ban, Ngành đối với lĩnh vực mới mẻ này nên nhượng quyền thương mại trong
lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam vẫn đang ở dạng tiềm ẩn, chưa thực sự phát
huy hết thế mạnh. Làm thế nào để có thể phát triển kinh doanh nhượng quyền
trong lĩnh vực thực phẩm tại Việt Nam đang là một vấn đề cấp thiết, đòi hỏi
phải có những giải pháp cụ thể và thiết thực. Chính vì vậy, tác giả chọn “Giải
pháp phát triển nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm tại
Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
B. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận chung về nhượng quyền thương mại
và phát triển nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực phẩm.
Đánh giá thực trạng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực thực
phẩm tại Việt Nam.
Đánh giá tiềm năng phát triển nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực
thực phẩm tại Việt Nam . 1
Tổng cục thống kê (2006), Niên giám thống kê 2006, NXB Thống Kê, -69
5
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG
MẠI VÀ PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
TRONG LĨNH VỰC THỰC PHẨM
I. NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI
1 Định nghĩa nhƣợng quyền thƣơng mại
Thuật ngữ “franchise” bắt nguồn từ tiếng Pháp cổ, có nghĩa là “đặc quyền”
hay “tự do”. Tại Việt Nam “franchise” được dịch là “nhượng quyền thương
mại” hay “nhượng quyền kinh doanh”. Về lý thuyết, cụm từ “thương mại” chỉ
mang hàm nghĩa buôn bán, giao dịch trong khi đó hoạt động “franchise” trên
thế giới không chỉ đơn thuần là việc buôn bán, giao dịch thông thường mà còn
liên quan đến các yếu tố khác như thương hiệu, bí quyết kinh doanh, giải pháp
kinh doanh…, chính vì vậy cách dùng thuật ngữ “nhượng quyền kinh doanh”
là chính xác hơn. Bên cạnh đó, cũng có quan niệm cho rằng dùng từ
“nhượng” là chưa chính xác vì quyền kinh doanh thương hiệu và sản phẩm
hay dịch vụ chỉ được bên chủ thương hiệu cho phép sử dụng trong một thời
gian nhất định mà thôi, chính vì vậy cụm từ “cấp quyền kinh doanh” có vẻ
phù hợp hơn cụm từ “nhượng quyền kinh doanh”. Tương tự, thuật ngữ “mua
nhượng quyền” dùng đối với bên nhận quyền lẽ ra phải là “thuê nhượng
quyền”. Song trên thực tế, “nhượng quyền thương mại” hay “nhượng quyền
kinh doanh” chẳng qua chỉ là cách gọi, cả hai thuật ngữ này đều được hiểu là
hoạt động thương mại theo đó bên nhận quyền tiến hành hoạt động kinh
doanh theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định.
Hoạt động nhượng quyền kinh doanh khởi nguồn tại Mỹ vào giữa thế kỷ
19 với sự kiện lần đầu tiên trên thế giới nhà sản xuất máy khâu Singer ký cho
thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Đến nay, hoạt động nhượng 6
2
,, 3, 4
Trần Ngọc Sơn (26/1/2007), Nhượng quyền kinh doanh ở Việt Nam, http://www.franchise-
vietnam.com/?vnTRUST=act:news%7Cnewsid:31 (truy cập ngày 1/10/2007).
7
Định nghĩa của Hiệp hội Nhượng quyền thương mại Anh Quốc (British
Franchise Association) cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm của bên giao quyền:
“Phương thức kinh doanh nhượng quyền là việc một bên (bên nhượng quyền)
cấp phép cho bên kia (bên nhận quyền), cho phép bên nhận quyền kinh doanh
dưới thương hiệu, nhãn hiệu của bên giao; sử dụng trọn gói phương thức kinh
doanh, bí quyết kĩ thuật của bên giao trên cơ sở sự hỗ trợ thường xuyên của
bên giao”
5
.
Định nghĩa của liên minh Châu Âu (EU) lại nghiêng về quyền của bên
nhận khi sử dụng một tập hợp quyền sở hữu trí tuệ, theo đó: “Quyền kinh
doanh là một tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên
quan tới nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết hoặc sáng chế sẽ được khai
thác để bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ tới người tiêu dùng cuối cùng”
6
. Nhượng quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng tất cả các quyền
kinh doanh được định nghĩa ở trên.
Theo Điều 284, Mục 8, Luật Thương Mại sửa đổi ban hành ngày 14 tháng
6 năm 2005 của Việt Nam, nhượng quyền thương mại được định nghĩa như
và nghĩa vụ cụ thể. Bên nhận quyền được phép kinh doanh, phân phối sản
phẩm/dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hoá và phương thức kinh doanh do bên
giao quyền phát triển và sở hữu. Đổi lại bên nhận phải trả phí cho bên giao và
chấp nhận một số hạn chế do bên giao quy định.
(3) Chức năng của mỗi bên trong hệ thống nhượng quyền được phân biệt rõ
rệt. Bên giao đảm nhiệm vai trò chính trong việc phát triển hệ thống và
thương hiệu, chuẩn hoá các quy trình, hỗ trợ về huấn luyện, quảng cáo và các
điều kiện cần thiết khác để bên nhận triển khai hoạt động kinh doanh tốt nhất.
Bên nhận chịu trách nhiệm trực tiếp triển khai, điều hành hoạt động kinh
doanh bằng vốn và nguồn lực của mình dưới sự hỗ trợ thường xuyên của bên
giao.
2 Phân loại nhƣợng quyền thƣơng mại
2.1. Phân loại theo bản chất hoạt động nhượng quyền
Dựa theo bản chất hoạt động nhượng quyền, có hai hình thức nhượng
quyền thương mại chính: 9
- Nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product distribution franchise): là
hình thức nhượng quyền mà Bên nhận quyền được phép sử dụng thương hiệu,
nhãn hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm của chủ thương hiệu
trong một phạm vi và thời gian nhất định. Hình thức nhượng quyền này
thường được ứng dụng trong các lĩnh vực như: nước giải khát (Pepsi), ô tô xe
máy (Ford Motor Company) và xăng dầu (Exxon). Tại Việt Nam, cà phê
Trung Nguyên là mô hình tiêu biểu cho hình thức nhượng quyền phân phối.
- Nhượng quyền mô hình kinh doanh (Business format franchise): là hình
thức nhượng quyền theo đó bên nhận quyền không chỉ được phép sử dụng
thương hiệu, nhãn hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu và phân phối sản phẩm của chủ
thương hiệu mà còn được chuyển giao toàn bộ cách thức điều hành quản lý,
kỹ thuật kinh doanh. Đây là hình thức nhượng quyền phổ biến nhất trên thế
hình kinh doanh gấp hình thức nhượng quyền phân phối 4,3 lần về số lượng
doanh nghiệp tham gia, 3,9 lần về số lượng công ăn việc làm , 2,5 lần về tổng
tiền lương và 2,8 lần về giá trị sản lượng (Bảng 1).
Bảng 1: Kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhƣợng quyền thƣơng
mại tại Mỹ năm 2004
Nhƣợng quyền mô
hình kinh doanh
Nhƣợng quyền phân
phối sản phẩm
Số lƣợng doanh nghiệp
622.272
145.211
Số lƣợng việc làm
7.787.454
2.009.663
Trả lƣơng (tỷ USD)
162,9
66,2
Giá trị sản lƣợng (tỷ USD)
460
164,6
Nguån: National Economic Consulting-Practice of PricewaterhouseCoopers
(2004), Economic Impact of Franchised Business, International Franchise
Association Educational Foundation, -3
2.2. Ph©n lo¹i theo quy m« ho¹t ®éng nh-îng quyÒn 11
Dựa theo quy mô hoạt động nh-ợng quyền, có hai hình thức nh-ợng quyền
bên nhượng quyền thứ cấp khác, đồng thời làm tăng sự gắn kết chặt chẽ của
bên nhận quyền đối với hệ thống (bởi lẽ bên nhận quuyền cũng chính là nhà
nhượng quyền thứ cấp). Tuy nhiên hai loại hình này có nhược điểm là hạn chế
phần nào quyền chủ động của chủ thương hiệu, khó đảm bảo tính đồng bộ và
chuẩn mực của hệ thống. Để chủ động và đạt hiệu quả tốt hơn trong việc
chuyển nhượng mô hình kinh doanh mẫu, chủ thương hiệu thường lựa chọn
hình thức nhượng quyền trực tiếp.
3 Lợi ích của nhƣợng quyền thƣơng mại
3.1. Lợi ích đối với bên nhượng quyền
Nhân rộng mô hình kinh doanh và quảng bá thương hiệu: Nhượng quyền
thương mại là một trong những cách hiệu quả nhất để một thương hiệu có thể
thâm nhập thị trường một cách sâu rộng, nhanh chóng vượt qua các rào cản về
vốn, công nghệ, nhân lực, hệ thống quản lý, sự am hiểu địa phương. Trong hệ
thống nhượng quyền có sự phân chia rất rạch ròi về vai trò quản lý hệ thống
và quản lý kinh doanh trực tiếp. Do tính chuyên nghiệp hoá này, quản trị hệ
thống được tối ưu hoá. Bên nhượng quyền dành phần lớn nguồn lực để phát
triển hệ thống thông qua các hoạt động như: quảng bá tiếp thị hình ảnh, hoàn
thiện quy trình, chiến lược phát triển, chính sách hỗ trợ hệ thống; còn bên
nhận quyền là người quản lý kinh doanh trực tiếp bằng vốn và nguồn lực của
mình. Ngoài ra, trong một mô hình nhượng quyền thương mại hoàn hảo, việc
tung ra một hình ảnh tiếp thị đồng nhất cho sản phẩm sẽ tạo ra sự nhận thức
sâu sắc về thuơng hiệu cho người tiêu dùng, đồng thời nâng cao uy tín và giá
trị thương hiệu của bên nhượng quyền. Để có thể thấy được ích lợi vô cùng to
lớn này của nhượng quyền thương mại, tác giả xin được phân tích hai ví dụ về
hai thương hiệu nhượng quyền trong lĩnh vực thực phẩm nổi tiếng thế giới là
McDonald’s và Gloria Jean’s Coffees. Trường hợp McDonald’s, một trong
những thương hiệu thức ăn nhanh lớn nhất thế giới, hệ thống này ra đời và bắt 13
7
McDonald’s, About McDonald’s, http://www.mcdonalds.com/corp/about.html (truy cập ngày 27/8/2007).
8
Gloria Jean’s Coffees, The Gloria Jean’s Coffees Story, http://www.gloriajeanscoffees.com.au/pages/content.asp?pid=9
(truy cập ngày 27/8/2007). 14
khăn về vốn, nhân lực, thời gian, kinh nghiệm đối với thị trường địa phương
và đặc biệt là khả năng quản lý để có thể mở rộng thương hiệu trên quy mô
toàn cầu.
Tăng doanh thu: Khi bán nhượng quyền, chủ thương hiệu thu được phí
nhượng quyền ban đầu (initial fee) và phí thường xuyên/phí hàng tháng
(royalty/monthly fees) dựa trên tỷ lệ phần trăm doanh số bán hàng và cung
cấp dịch vụ của bên nhận quyền, ngoài ra còn có doanh thu từ việc bán các
nguyên liệu đặc thù cho đối tác nhận quyền. Ví dụ, để sở hữu một cửa hàng
McDonald’s, bên nhận quyền phải trả một khoản phí ban đầu tối thiểu là
45.000 USD cộng với phí hàng tháng bằng 4% doanh số bán hàng gộp trong
tháng, ngoài ra phải mua một số nguyên liệu đặc thù từ McDonald’s như
khoai tây, pho mát, bánh táo
9
. Với trường hợp của Gloria Jean’s Coffees, phí
nhượng ban đầu để sở hữu một cửa hàng nhượng quyền là 32.500 USD, ngoài
ra phí hàng tháng là 6% doanh số bán hàng gộp trong tháng
10
.
Tiết giảm chi phí: Có thể nói, lợi thế kinh tế theo quy mô được phát huy
một cách tối đa trong mô hình nhượng quyền thương mại. Nhờ sở hữu một hệ
thống đồng nhất với quy mô lớn, bên nhượng quyền có thể giảm thiểu các chi
cho bên nhận quyền khả năng thành công cao hơn, bởi vì có thể kinh doanh
trên một mô hình chuẩn, tận dụng được uy tín thương hiệu, sử dụng được
nguồn khách hàng sẵn có của bên nhượng quyền. Theo con số thống kê tại
Mỹ thì trung bình chỉ có 23% doanh nghiệp nhỏ kinh doanh độc lập có thể tồn
tại sau 5 năm kinh doanh, trong khi con số này đối với các doanh nghiệp nhận
quyền là 92%
11
.
Nhận được sự hỗ trợ từ bên nhượng quyền: Bên nhận quyền luôn nhận
được sự hỗ trợ thường phía chủ thương hiệu, bao gồm hỗ trợ trước khi mở
cửa hàng như: giúp chọn địa điểm kinh doanh; thiết kế trang trí cửa hàng; đào
tạo nhân viên; cung cấp chương trình khai trương, giúp đỡ về tài chính và hỗ
trợ sau khi cửa hàng khai trương như: đào tạo nhân viên định kỳ; quảng cáo
tiếp thị; hỗ trợ về quản lý, vận hành giám sát, tiêu thụ sản phẩm.
Dễ vay tiền ngân hàng: Do khả năng thành công cao nên các ngân hàng
thường tin tưởng cho các doanh nghiệp mua nhượng quyền vay tiền đầu tư.
Trên thực tế, hầu hết các chủ thương hiệu lớn trên thế giới thường đứng ra
đàm phán và thuyết phục các ngân hàng cho đối tác mua nhượng quyền của
mình vay vốn với mức lãi suất ưu đãi.
Có cơ hội học hỏi từ những thương hiệu có tiếng: Thông qua mua nhượng
quyền, bên nhận quyền học được cách thức tổ chức kinh doanh, kinh nghiệm
quản lý, tiếp thị của chủ thương hiệu.
3.3. Lợi ích đối với nền kinh tế
Đối với nền kinh tế, nhượng quyền thương mại đem lại lợi ích vô cùng to
lớn. Hoạt động nhượng quyền thương mại huy động một lượng lớn đầu tư xã 11
TS. Lý Quí Trung (2006), Franchise bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh, NXB Trẻ, -19-, Tp
Hồ Chí Minh.
12
National Economic Consulting - Practice of PricewaterhouseCoopers (2004), Economic Impact of Franchised
Business, International Franchise Association Educational Foundation, -1 18
bình quân là 318.000 GBP/doanh nghiệp
13
. Theo Hiệp hội Nhượng quyền thương
mại Quốc tế (International Franchise Association), tại Úc có khoảng 54.000 cửa
hàng nhượng quyền, đóng góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho
người lao động; tại Châu Á hoạt động nhượng quyền thương mại tạo doanh thu
bình quân hơn 500 tỷ USD mỗi năm; còn tại Châu Âu hiện nay có tổng cộng 4.000
hệ thống nhượng quyền với 167.500 cửa hàng nhượng quyền, doanh thu đạt khoảng
100 tỉ Euro, tạo ra hơn 1,5 triệu việc làm
14
.
4 Hạn chế của nhƣợng quyền thƣơng mại
4.1. Hạn chế đối với bên nhượng quyền
Quy trình quản lý phức tạp: Để điều hành một hệ thống nhượng quyền,
chủ thương hiệu phải đầu tư một hệ thống kế toán và giám sát tinh vi nhằm
đảm bảo độ chính xác, trung thực trong các báo cáo về tình hình hoạt động
kinh doanh của đối tác nhận quyền. Chủ thương hiệu cũng cần có kỹ năng
động viên, khuyến khích để thuyết phục bên nhận quyền tuân theo mô hình
kinh doanh mẫu. Bên nhận quyền không phải người làm thuê, mà là chủ cửa
hàng nhượng quyền. Những người làm thuê nếu không tuân theo chỉ dẫn của
ông chủ có thể bị sa thải ngay, nhưng với bên nhận quyền thì lại khác. Tất
nhiên chủ thương hiệu có thể chấm dứt hợp đồng hợp đồng nhượng quyền
trước thời hạn nếu bên nhận quyền không tuân thủ các quy định đã được thoả
Thiếu quyền chủ động trong kinh doanh: Có lẽ bất lợi lớn nhất đối với bên
nhận quyền là không được hoàn toàn độc lập trong công việc kinh doanh, mà
phải tuân theo những quy trình và giới hạn do chủ thương hiệu quy định sẵn
trong hợp đồng nhượng quyền. Do vậy bên nhận quyền phải chú ý cân bằng
giữa những quy định do chủ thương hiệu đề ra và khả năng tự chủ công việc
của mình để có thể kinh doanh đạt hiệu quả.
Lợi nhuận bị chia sẻ: Nếu tự mở một doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp sẽ
được hưởng toàn bộ phần lợi nhuận có được nhưng khi nhận quyền kinh
doanh ngoài khoản phí nhượng quyền ban đầu bên nhận quyền còn phải trả
một khoản phí thường xuyên cho chủ thương hiệu dựa theo kết quả kinh
doanh hàng tháng/quý của mình. 20
Hợp đồng nhượng quyền chỉ có một thời hạn nhất định: Một hợp đồng
nhượng quyền luôn có thời hạn và khi đến hạn chủ thương hiệu hoàn toàn có
thể chấm dứt hợp đồng, khi đó tất cả những công sức và tiền của mà bên nhận
quyền đã bỏ ra để quảng cáo củng cố thêm cho thương hiệu đều sẽ thuộc về
chủ thương hiệu. 21
II. PHÁT TRIỂN NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI TRONG LĨNH
VỰC THỰC PHẨM
1 Đặc điểm ngành kinh doanh thực phẩm
1.1. Sự phát triển của ngành kinh doanh thực phẩm
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra sự bùng nổ mang tính cách mạng trong
ngành kinh doanh lương thực thực phẩm do luồng vốn đầu tư nước ngoài của
những tập đoàn chế biến và kinh doanh thực phẩm lớn trên thế giới thâm nhập
vào các thị trường đang tăng trưởng. Các hoạt động kinh doanh thực phẩm
1.2. Ứng dụng nhượng quyền thương mại trong kinh doanh thực
phẩm
Khởi nguồn của hoạt động nhượng quyền thương mại trên thế giới được
đánh dấu trong những ngành nghề như: thực phẩm và đồ uống, cửa hàng bán
lẻ, dịch vụ xe ô tô… Ngày nay hoạt động nhượng quyền kinh doanh được ứng
dụng trong hầu hết các ngành nghề lĩnh vực kinh doanh, song thực phẩm vẫn
là một trong những ngành có ứng dụng mô hình kinh doanh nhượng quyền
nhiều nhất. Tại Mỹ, theo nghiên cứu của Tổ chức Nhượng quyền thương mại
Quốc tế (International Franchise Association), trong tổng số 767.483 cửa
hàng nhượng quyền tại nước này có 231.452 cửa hàng hoạt động trong lĩnh
vực thực phẩm và ăn uống (chiếm 30,2%), tạo ra giá trị sản lượng là 175,5 tỷ
USD vào năm 2004, chiếm 28,1% tổng giá trị sản lượng của hoạt động
nhượng quyền thương mại trong nước
17
. Theo thống kê của Hội đồng Nhượng
quyền thương mại Thế giới (World Franchise Council), tại Nhật, một quốc gia
có hoạt động nhượng quyền kinh doanh đứng thứ 3 trên thế giới với 1.100 hệ
thống nhượng quyền tạo ra gần 150 tỷ doanh thu mỗi năm với mức tăng
trưởng 7%/năm thì ngành thực phẩm chiếm đến 40% tổng số hệ thống kinh
doanh nhượng quyền và 23% tổng số cửa hàng nhượng quyền; còn tại
Singapore năm 2004 có 380 hệ thống kinh doanh nhượng quyền và 5.277 cửa
hàng nhượng quyền thì hoạt động kinh doanh nhượng quyền được ứng dụng 16
Phạm Quang Diệu (28/9/2005), Bùng nổ ngành bán lẻ lương thực và thực phẩm vùng Châu Á Thái Bình Dương,
http://www.ipsard.gov.vn/news/newsdetail.asp?targetID=516 (truy cập ngày 25/9/2007)
17
National Economic Consulting - Practice of PricewaterhouseCoopers (2004), Economic Impact of Franchised
Business, International Franchise Association Educational Foundation, -4, 5