Phương pháp xác định tác động của thông tin kịp thời lên hoạt động của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng - Pdf 14

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TÁC ĐỘNG CỦA THÔNG TIN KỊP THỜI
LÊN HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CHUỖI CUNG ỨNG
Thông tin đưa ra bởi hệ thống ERP gọi theo thuật ngữ là thông tin JIT (Just in
time) vì nó cung cấp đúng thời gian, đúng địa điểm với lãng phí thấp nhất. Cấu trúc
thông tin JIT được định nghĩa, mô tả và có cả một thang đo. Mô hình hiệu quả của
thông tin JIT được đề xuất và đánh giá bằng phương pháp mô hình hóa phương
trình cấu trúc. Kết quả cho thấy mô hình phù hợp tốt với dữ liệu: (1) Chiến lược
chuỗi cung ứng ảnh hưởng tích cực lên thông tin JIT, (2) thông tin JIT ảnh hưởng
trực tiếp lên cả logistics và hiệu quả doanh nghiệp và (3) hiệu quả logistic ảnh
hưởng trực tiếp lên hiệu quả doanh nghiệp.
Keywords: hệ thống JIT, hệ thống thông tin, quản lý chuỗi cung ứng, mô hình
phương trình cấu trúc.
1. Giới thiệu
Những doanh nghiệp thực hiện chiến lược quản lý chuỗi cung ứng (SCMS) đang
thiết lập hệ thống thông tin hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) như một
phần của cơ sở hạ tầng chuỗi cung ứng. Khi thực hiện thành công, hệ thống ERP
cung cấp thông tin JIT cơ bản về vận hành, chiến thuật, chiến lược cho những đối
tác trong chuỗi cung ứng. Mục đích của nghiên cứu này là để gọi những thông tin
được cung cấp bởi hệ thống ERP trong thời gian thực (real-time), liên tục như là
một JIT-Information (JIT-I), bởi vì những thông tin có chất lượng được tạo ra sẵn
sàng cho người sử dụng với đúng số lượng, đúng chỗ, đúng thời điểm; và bởi vì hệ
thống ERP được thiết kế để xóa bỏ lãng phí của qui trình tạo ra thông tin.
Mục đích của nghiên cứu này là để tìm hiểu ảnh hưởng của SCMS lên JIT-I và
JIT-I lên hiệu quả logistic và hiệu quả của doanh nghiệp. Liệu thông tin trong thời
gian thực và liền mạch có được từ hệ thống ERP có cải thiện hiệu quả logistic và
hiệu quả doanh nghiệp như mong đợi? Chúng ta mô hình hóa hiệu quả JIT-I bằng
các điều kiện sau:
1. SCMS như là 1 tiền đề của JIT-I
2. JIT-I ảnh hưởng trực tiếp lên hiệu quả chuỗi cung ứng
3. Hiệu quả logistic ảnh hưởng trực tiếp lên hiệu quả của doanh nghiệp
4. JIT-I ảnh hưởng trực tiếp lên hiệu quả của doanh nghiệp.

hiệu quả nội bộ được chuyển sang tích hợp và kết hợp nhiều doanh nghiệp trong
chuỗi cung ứng (Siau và Tian 2004). Hệ thống ERP thế hệ thứ ba là khởi đầu cho
quản trị chuỗi cung ứng thành công (Vokurka va Lummus 2000, Siau và Tian 2004)
bằng cách cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết cho yêu cầu chia sẻ thông tin trong suốt
chuỗi cung ứng tổng thể. Chiến lược quản trị chuỗi cung ứng yêu cầu các tổ chức
trong chuỗi cung ứng phải chia sẽ thông tin cởi mở với nhau, với cả nhà cung cấp
và khách hàng (Morash va Clinton 1997, Vokurka và Lummus 2000, Mentzer et al.
2001).
Hệ thống ERP được thiết kế và thực thi thành công giúp cung cấp thông tin vận
hành, chiến thuật, chiến lược đến với tất cả thành viên của chuỗi cung ứng (Morash
và Clinton 1997, Siau và Tian 2004). Rajagopal (2002) mô tả một cách thông minh
giá trị của hệ thống ERP thông qua chức năng cung cấp “một thông tin duy nhất”
cho toàn bộ thành viên chuỗi cung ứng. “Một thông tin duy nhất” này được truy cập
thông suốt (SiauandTian2004) theo thời gian thực (Gefen và Ragowskyrik 2005).
Sự cạnh tranh ở cấp độ chuỗi cung ứng đòi hỏi việc cộng tác của tất cả các đối tác
trong chuỗi. Thông tin về vận hành, chiến thuật và chiến lược được truy cập thông
suốt theo thời gian thực cho phép kết nối “end to end” theo mong muốn
(Rajagopal2002).
Đặc tính xuyên suốt và theo thời gian thực của hệ thống ERP thế hệ thứ ba hỗ
trợ việc dự báo thông tin có chất lượng cho các đối tác trong chuỗi cung ứng, theo
đúng hình thức, đúng địa điểm và đúng thời điểm. Khi có nhu cầu về thông tin, nó
không đòi hỏi phải làm việc theo từng khách hàng, điều mà hay gây ra trễ và sai biệt
thời điểm, mà là làm việc thông qua nhiều hệ thống thông tin của các nhà bán lẻ,
của các nhà bán buôn, nhà sản xuất, nhà cung cấp (Cigolini etal.2004). Ngày nay,
thông tin khách hàng được nhập trực tiếp vào cơ sở dữ liệu của chuỗi cung ứng và
tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều có thể truy cập được.
Triết lý JIT đòi hỏi lãng phí phải được loại bỏ một cách triệt để bằng tất cả biện
pháp xử lý của chuỗi cung ứng (VokurkaandLummus 2000). Cigolini et al (2004)
đã chỉ ra rằng, hệ thống ERP thế hệ thứ ba được phát triển và thiết kế để loại bỏ sự
trì hoãn và sai biệt về mặt thời gian. Nó giữ vững lí lẽ sau đó là thông tin được cung

ý nghĩa của tất cả đối tác trong chuỗi cung ứng (Ho et al. 2002, siau và Tian
2004), và sự tích hợp này được khả thi với thông tin được cung cấp trên nền
tảng JIT – đúng thời điểm (Vokurka và Lummus 2000, Rajagopal 2002).
Patterson et al. (2004, p.6) đi xa hơn khi mô tả công nghệ thông tin là “điểm
then chốt của quản trị chuỗi cung ứng hiện đại”. Doanh nghiệp kế thừa chiến
lược quản trị chuỗi cung ứng cần phải phát triển hệ thống thông tin khả thi.
H1: Chiến lược quản trị chuỗi cung ứng liên kết chặt chẽ với sự phát triển
của thông tin đúng thời điểm.
Kết quả làm việc thực tiễn của Claycomb et al. (1999b) ám chỉ về liên kết
giữa thực hiện hệ thống JIT tổng thể và hiệu quả logistic. Họ thấy rằng những
doanh nghiệp đang thực hiện JIT-purchasing, JIT-production, JIT-selling như là
một chiến lược tích hợp đã hạn chế mức độ tồn kho (liên quan đến logistics) bên
ngoài. JIT-information như mô tả tạo điều kiện cho sự cộng tác cần thiết này và
tích hợp kết quả trong cải tiến hiệu quả logistics. Lý thuyết 2 dưới đây là chứng
minh về mặt lý thuyết và bằng chứng thực tế.
H2: Thông tin đúng thời điểm liên kết chặt chẽ với hiệu quả Logistics
Chiến lược tổ chức - hỗ trợ chiến lược chuỗi cung ứng - nên tăng cường vị
thế cạnh tranh của chuỗi cung ứng để từ đó lần lượt nâng cao hiệu quả của từng
thành viên chuỗi cung ứng. Mặc dù chưa tìm thấy phương pháp nào để đo
lường kiểm tra hiệu quả chuỗi cung ứng, nhưng hiệu quả logistics tập trung bên
ngoài chức năng sản xuất trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất và khách hàng,
và như Bowersox et. al. (2000) mô tả về mối quan hệ này, hiệu quả logistic
phản ánh tính ưu việt của chuỗi cung ứng. Căn cứ vào thuyết biện minh, giả
thiết 3 được định nghĩa như sau:
H3: Hiệu quả logistics liên kết chặt chẽ với hiệu quả tổ chức.
Hệ thống ERP (Enterprise Resource Planning: Quản lý nguồn lực doanh
nghiệp) cho ra thông tin tích hợp không giới hạn luôn có sẵn với thời gian thực
cho các thành viên chuỗi cung ứng. Thông tin không giới hạn, tích hợp, trong
thời gian thực này hỗ trợ trong việc ra quyết định mức độ hiệu quả, chiến thuật
và chiến lược. Hệ thống ERP được thiết kế để loại trừ liên kết lãng phí với việc

xuất, chỉ có 9.7% là phản hồi. Tất cả những người phản hồi chỉ ra rằng họ làm
việc cho tổ chức sản xuất. 62% những người phản hồi là nhà quản lý nhà máy
hoặc điều hành. Thêm 15% là phụ trách thu mua và quản lý tồn kho. 19 mã phân
loại tiêu chuẩn sản xuất SIC (Standard Industrial Classification) code được nhận
diện. Những người phản hồi có mặt ở 33 quốc gia khác nhau.
Tỷ lệ phản hồi này không phài là điển hình trong nghiên cứu công nghiệp
(Harmon et al. 2002). Tỉ lệ phản hồi được báo cáo ở những hoàn cảnh khác là:
7.5% (Nahm et al. 2003, Nahm et al. 2004), 9.6% (Mabert el at. 2003), 10.8%
(Harmon et al. 2002), và 6.7% (Tan et al. 2002). Mặc dù các nhà quản lý sản
xuất là nguồn cung cấp tốt nhất các thông tin liên quan đến quản lý chuỗi cung
ứng, nhưng họ thường chịu áp lực về thời gian và nguồn thông tin gấp rút.
Xu hướng không hồi đáp được đánh giá là do sử dụng cách tiếp cận chung
được mô tả bởi Lambert và Harrrington (1990), trong đó so sánh giữa những
người phản hồi sớm và trễ. 54% (77) số người được điều tra phản hồi sớm và
46% (65) phản hồi trễ. Sự so sánh các phương thức của các biến thay đổi và tỉ lệ
cho hai nhóm dẫn đến sử dụng một cách ANOVA. Với một ngoại lệ, sự so sánh
dẫn đến sự khác biệt không quan trọng. Sự ngoại lệ cho một vấn đề trong mức
hiệu quả logistics đã được loại trừ cơ bản trong quá trình đánh giá một chiều.
Bởi vì không phản hồi được xem là phản hồi chậm (Armstrong và Overton
1977), nên sự cân bằng giữ phản hồi sớm và chậm ủng hộ kết luận không phản
hồi không phải là vấn đề quan tâm chính nhân tố tổng quát có thể giải thích
điểm chính của toàn biến thay đổi (Podsakoff và Organ 1986). Kết quả việc
phân tích nhân tố cho ra sáu nhân tố, khi kết hợp cho ra được 73% toàn bộ biến
thay đổi. Trong nhân tố đầu tiên tính ra được 33% toàn bộ biến thay đổi, nó
không tính cho điểm chính của biến thay đổi. Căn cứ vào các kết quả này, các
vấn đề liên kết với các phương thức chung có xu hướng không quan trọng.
4. Kết quả
4.1 Sự đo lường các khái niệm
Bởi vì JIT-I chưa được đo lường trước đây, nên nó cần triển khai mức độ hai
nhân tố, nhiều vấn đề mới. 17 vấn đề được triển khai từ sự phân tích cẩn thận

quy mô và yếu tố mang lại giá trị Goodness-of-fit index (GFI) hơn 0.90 (Ahire
et al. 1996), non-normed-fit index (NNFI) và giá trị comparative-fit index lớn
hơn 0.90 (Garver and Mentzer 1999) và giá trị root mean square error of
approximation (RMSEA) giữa 0.05 và 0.08 (Garver and Mentzer 1999), thể
hiện không có chiều sâu. Các mục còn lại sau khi xác định lại được thể hiện
trong bảng 1.
Alpha and construct-reliability values greater than or equal to 0.70 and a
variance-extracted measure of 0.50 or greater indicate sufficient scale or factor
reliability (Garver and Mentzer 1999). The alpha, construct- reliability, and
variance-extracted values for each of the re-specified scales and factors
exceeded the recom- mended values indicating sufficient reliability.
Bảng 1: Các mục đo lường
Thông tin JIT
Xin cho biết mức độ đồng ý hoặc không đồng ý với mỗi câu (1 - hoàn toàn
không đồng ý, 7 - hoàn toàn đồng ý)
1. Chúng tôi có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của khách hàng bằng cách
chia sẻ thông tin với các nhà cung cấp của chúng tôi.
2. Các luồng thông tin liên tục giữa các nhà cung cấp, nhà sản xuất, khách hàng
trong chuỗi cung ứng của chúng tôi.
3. Chúng tôi công khai chia sẻ thông tin với các nhà cung cấp và khách hàng
của chúng tôi.
4. Nhà cung cấp và khách hàng của chúng tôi chia sẻ thông tin một cách công
khai với chúng tôi.
5. Các thông tin được chia sẻ bởi những người tham gia (nhà cung cấp, nhà sản
xuất và khách hàng) trong chuỗi cung ứng của chúng tôi là có sẵn trên cơ sở
thời gian thực.
6. Khách hàng của chúng tôi làm cho chúng tôi thấy được thông tin hàng tồn
kho, bán hàng theo thời gian thực.
7. Thông tin tồn kho và bán hàng của khách hàng cho phép chúng tôi nhanh
chóng bổ sung lượng tồn kho của khách hàng với số lượng chính xác tại thời

Vui lòng đánh giá hiệu suất của công ty bạn trong từng lĩnh vực sau đây so với
hiệu suất của đối thủ cạnh tranh của bạn (1 - kém hơn nhiều so với đối thủ
cạnh tranh, 7 - tốt hơn nhiều so với đối thủ cạnh tranh).
1. Sự hài lòng của khách hàng.
2. Tốc độ giao hàng.
3. Độ tin cậy của giao hàng
4. Độ đáp ứng.
5. Linh hoạt trong giao hàng
6. Khả năng điền đơn đặt hàng.
Bảng 2: Thống kê mô tả và độ tương quan
** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01
Giá trị hội tụ được đánh giá bằng cách sử dụng hệ số normed-fit index theo
khuyến cáo của Ahire et al. (1996) với giá trị lớn hơn 0.90 cho thấy hiệu lực
mạnh. NFI cho từng quy mô vượt quá mức 0.90 cho thấy giá trị hội tụ. Giá trị
cá biệt dùng một thử nghiệm chi-square cho các cặp quy mô đang được xem
xét, với một sự khác biệt ý nghĩa thống kê chi-squares (Ahire et al. 1996,
Gerbing and Anderson 1988, Garver and Mentzer 1999). Tất cả các cặp của quy
mô nghiên cứu đã phải chịu kiểm tra sự khác biệt chi-squares với mỗi cặp đưa
ra một sự khác biệt ý nghĩa thống kê cho thấy giá trị cá biệt. Giá trị ước lượng
được đánh giá bằng việc xác định quy mô của lợi ích tương quan như mong đợi
với các biện pháp khác (Ahire et al. 1996, Garver and Mentzer 1999). Một đánh
giá về ma trận tương quan (Bảng 2) các giá trị nghiên cứu hỗ trợ việc ước lượng
giá trị cho từng biến nghiên cứu. Các biến nghiên cứu được tương quan thuận
với các hệ số có ý nghĩa ở mức 0,01.
4.2Kết quả mô hình phương trình cấu trúc.
Tóm tắt giá trị cho các biến nghiên cứu được tính bằng trung bình các mục
trong các quy mô. Thống kê mô tả và ma trận tương quan cho các biến được
trình bày trong bảng 2. Tất cả các hệ số tương quan tích cực và ý nghĩa ở mức
0.01.
Hình 1 minh họa mô hình với các kết quả mô hình phương trình có cấu trúc

Mặc dù đã so sánh hai cách phản hồi và không có bằng chứng đối với xu hướng
này, một đánh giá trực tiếp hơn đối với xu hướng tiềm ẩn này sử dụng dữ liệu từ
cách thứ ba và những quan tâm tiếp theo đối với những đối tượng không phản hồi
nên được tăng cường trong nghiên cứu. Bởi vì sự phản hồi liên quan đến cả biến
phụ thuộc và độc lập được thu thập từ những cá thể giống nhau, cần quan tâm đến
những tiềm ẩn trong xu hưởng của những phương thức phổ biến. Trong khi những
kiểm tra sau đó về xu hướng làm giảm mối quan tâm, những dữ liệu chiến lược và
hiệu quả từ những nguồn riêng biệt khác cũng củng cố cho nghiên cứu này.
Trong quy mô được sử dụng, chỉ quy mô hiệu quả tổ chức được đưa ra trước đây
để đánh giá kỹ lưỡng tính một chiều, độ tin cậy và tính hiệu lực. Quy mô JIT-I vừa
mới được phát triển gần đây, và chiến lược quản trị chuỗi cung ứng và quy mô hiệu
quả logistics cần được xác định lại rõ ràng để tính một chiều ra khỏi phạm vi này
với một vài item được xác định bạn đầu (Bowersox et all. 2000, wisner 2003). Việc
xác định lại rõ ràng có thể dẫn đến mất một vài item quan trọng trong định nghĩa
của cấu trúc gốc. Nó được xác định, tuy nhiên, tầm quan trọng của việc sử dụng quy
mô một chiều quan trọng hơn nhiều so với những mối quan tâm này.
Như Mabert et all. (2003) phát hiện ra, những nhà sản xuất nhỏ - trung bình –
lớn ứng dụng hệ thống ERP có năng lực để đáp ứng nhu cầu thông tin cho đối tác
trong chuỗi cung ứng. Họ thấy rằng qui mô doanh nghiệp ảnh hưởng đáng kể đến
nguyên nhân và phương thức doanh nghiệp thực thi hệ thống ERP và lợi ích có
được từ nó. Nghiên cứu này chỉ tập trung vào những nhà sản xuất tương đối lớn tại
Mỹ. Lưu ý sự khác nhau dựa trên quy mô doanh nghiệp được tìm thấy bởi Mabert et
al. (2003), do đó cần thận trọng khi khái quá hóa những phát hiện của nghiên cứu
này đến những doanh nghiệm vừa và nhỏ.
Việc tập trung hẹp trong những doanh nghiệp tương đối lớn dẫn đến việc cần gửi
bảng điều tra đến cả những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hơn nữa, từ lúc thông tin
phân tích được thu thập từ nhà sản xuất, những kết quả chỉ hỗ trợ thực hiện mô hình
JIT-I hiệu quả trong bối cảnh sản xuất. Quản trị chuỗi cung ứng là sáng kiến chiến
lược được ứng dụng trong dịch vụ và bộ phận liên quan chính phủ cũng tốt như
trong bộ phận sản xuất. Tất cả các bộ phần đều có nhu cầu về thông tin liên tục,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status