khóa luận tốt nghiệp giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty kiểm toán việt nam - Pdf 14



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CHO CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Ngọc Bích
Lớp : Anh 1
Khoá : 42 A
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Trần Thị Kim Anh Hà Nội - Tháng 11/2007
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

3. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ 19
3.1. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ 19
3.1.1. Khái niệm về dịch vụ 19
3.1.2. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ 20
3.2. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ 22
3.2.1. Danh tiếng về chất lượng dịch vụ 23
3.2.2. Nguồn nhân lực giỏi 25
3.2.3. Danh tiếng và thương hiệu của doanh nghiệp 26
3.2.4. Định hướng khách hàng, nghiên cứu thị trường 26
3.2.5. Công nghệ 27
Chƣơng II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm
toán Việt Nam 28
1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của các công ty kiểm toán
Việt Nam và bối cảnh cạnh tranh trên thị trường kinh doanh dịch vụ
kiểm toán ở Việt Nam 28
1.1. Sơ lược về sự phát triển của các công ty kiểm toán Việt Nam 28
1.1.1. Các mốc văn bản pháp lý quan trọng 28
1.1.2. Sự phát triển của các công ty kiểm toán Việt Nam 29
1.2. Bối cảnh cạnh tranh trên thị trường kinh doanh dịch vụ kiểm toán
ở Việt Nam. 32
1.2.1. Phân chia các nhóm công ty trên thị trường 32
1.2.2. Phân tích chung về hoạt động của ngành kiểm toán 34
2. Phân tích năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam 40
2.1. Tiêu chí về nguồn nhân lực 40
2.1.1. Số lượng Kiểm toán viên 41
2.1.2. Tỷ lệ Tổng số cán bộ nhân viên/Kiểm toán viên có chứng chỉ 43
2.2. Tiêu chí về chất lượng sản phẩm dịch vụ 46
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42

2.7. Xây dựng văn hóa cho công ty 76
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
3. Một số đề xuất đối với Nhà Nước nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các công ty kiểm toán Việt Nam 77
3.1. Về phía các cơ quan Nhà nước 77
3.2. Về phía các Hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo 77
Kết luận 79
Danh mục tài liệu tham khảo i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng biểu iii
Danh mục biểu đồ iii
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
1
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kiểm toán Việt Nam chính thức được hình thành từ tháng 5
năm 1991 với sự thành lập của hai công ty kiểm toán VACO và AASC trực
thuộc Bộ tài chính. Cùng với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải
cách hệ thống tài chính, cải cách hệ thống kế toán Việt Nam, hoạt động kiểm
toán độc lập đã từng bước phát triển, ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu đối
với hoạt động kinh doanh và nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp. Hiện
nay, ở Việt Nam đã có 126 công ty và gần 4000 nhân viên hoạt động trong
lĩnh vực kiểm toán. Tuy nhiên hầu hết các công ty kiểm toán độc lập ở nước
ta chưa đạt được chuẩn mực quốc tế, do quy mô vốn nhỏ, lĩnh vực hoạt động
hạn chế, và tính chuyên nghiệp chưa cao. Đây là một bất lợi lớn cho các công
ty kiểm toán Việt Nam khi đất nước đã bước qua ngưỡng cửa hội nhập, thị
trường tài chính nói chung và thị trường dịch vụ kiểm toán nói riêng được mở
ra mạnh hơn, xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh quốc tế hơn.
Các công ty kiểm toán Việt Nam cũng đã và đang sử dụng những biện

1. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1. Các khái niệm, quan điểm về năng lực cạnh tranh
Những năm gần đây, kể từ khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền
kinh tế thị trường, chủ đề cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong sản xuất,
kinh doanh thường xuyên được nói tới. Hiện vẫn còn rất nhiều quan điểm,
khái niệm khác nhau về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh và việc nhận thức
đúng đắn bản chất cũng như tầm quan trọng của chúng sẽ giúp các doanh
nghiệp hoạch định được những chiến lược đúng đắn để phát triển.
1.1.1. Cạnh tranh
“Cạnh tranh” hiểu theo một nghĩa thông dụng nhất là “cố gắng dành
phần hơn, phần thắng về mình, giữa những người, tổ chức hoạt động nhằm
mục đích như nhau” (theo Từ điển Tiếng Việt ). Động từ “cạnh tranh”
(compete) trong từ điển Anh – Anh (Oxford) được giải thích là “to try to be
more successful or better than somebody else who is trying to do the same
thing as you”, có nghĩa là “là việc cố gắng để làm tốt hơn, thành công hơn so
với một người khác cũng đang làm một công việc tương tự”. Cạnh tranh trong
kinh doanh là “sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể kinh tế
tham gia sản xuất, kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi
ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn
nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”.
1

Trong từ điển Kinh tế kinh doanh Anh – Việt: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa
các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều khách
hàng, do đó có nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường là bằng cách bán
theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất”.
Như vậy cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế có bản chất là một mối quan
hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Các chủ thể kinh tế này có cùng


công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới
dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức, hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng
lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị
trường mới”. Báo cáo về năng lực cạnh tranh của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) năm 1985 cũng có đề cập đến khái niệm năng lực cạnh tranh “năng
lực cạnh tranh quốc tế là năng lực và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
5
và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá cả và chất lượng hơn so
với đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước để thiết kế, sản xuất, tiêu thụ hàng
hóa và cung cấp dịch vụ”. UNCTAD
2
thuộc Liên hợp quốc thì nhìn nhận
thuật ngữ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ở những góc độ khác nhau và
cụ thể hơn: là “năng lực của một doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng
thị phần của mình một cách vững chắc”, hoặc “năng lực hạ giá thành hoặc
cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp”, hoặc “năng lực cạnh tranh
thể hiện thông qua tỷ suất lợi nhuận”.
Tóm lại, khi nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần
phải chú ý tới 3 nội dung chính sau đây:
Thứ nhất, việc so sánh năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp phải
được đặt trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh. Phân tích năng lực
cạnh tranh của một doanh nghiệp là phân tích các yếu tố nội tại của doanh
nghiệp và của các đối thủ cạnh tranh của nó để so sánh và tìm ra lợi thế so
sánh của doanh nghiệp đó so với đối thủ.
Thứ hai, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn phải được thể hiện
thông qua khả năng thỏa mãn tốt nhất những nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng,
bởi lẽ nhu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Nhu cầu của khách hàng thay đổi đòi

định nghĩa năng lực cạnh tranh ra phạm vi quốc gia: “năng lực cạnh tranh
quốc tế là năng lực của một công ty, một nước trong việc sản xuất ra của cải
trên thị trường thế giới nhiều hơn đối thủ cạnh tranh của nó” và “năng lực
cạnh tranh là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra sự tăng trưởng bền
vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới”.
Năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định thông qua hai chỉ tiêu cơ
bản sau:
- Chỉ số năng lực cạnh tranh – GCI (Growth Competitiveness Index) do
các yếu tố đóng góp váo sự phát triển trong tương lai của một nền kinh tế (trong
vòng 5 năm tới), được thể hiện ở mức thay đổi của GDP đầu người. Chỉ số này là
tổng hợp của 3 chỉ số: trình độ công nghệ, chất lượng của thể chế công cộng, và
các điều kiện kinh tế vĩ mô. Những yếu tố này giải thích tại sao sự thịnh vượng
của một vài quốc gia tăng lên nhanh hơn so với những quốc gia khác.
- Chỉ số năng lực cạnh tranh vi mô – MICI (Microeconomic
Competitiveness Index) cho biết các yếu tố làm nền tảng của năng suất và
hoạt động của nền kinh tế hiện thời, bao gồm hai chỉ số: chất lượng các hoạt
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
7
động và chiến lược của các doanh nghiệp, và chất lượng của môi trường kinh
doanh quốc gia. Những yếu tố này giải thích tại sao một vài quốc gia có thể
duy trì mức thịnh vượng cao hơn những quốc gia khác.

1.2. Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như đã đề cập đến ở mục 1.1.2, năng lực cạnh tranh bao gồm 3 cấp độ:
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và
Năng lực cạnh tranh của quốc gia. Mối quan hệ giữa 3 cấp độ năng lực cạnh
tranh này là mối quan hệ qua lại chặt chẽ, trong đó vai trò của năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp mang tính quyết định.
1.2.1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của

nguồn lực quốc gia được khai thác hiệu quả, đem lại của cải và sự thịnh
vượng cho quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước
so với các doanh nghiệp của nước ngoài còn có ý nghĩa quan trọng trong việc
đảm bảo sự phát triển bền vững cho quốc gia, tránh nguy cơ thị trường trong
nước bị thao túng bởi các công ty nước ngoài, đồng thời vươn tầm ảnh hưởng
sang quốc gia khác.
1.3. Một số tiêu chí và phƣơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của
một doanh nghiệp
1.3.1. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như đã đề cập ở mục 1.2, lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp
chính là ưu thế của một doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế
cạnh tranh thể hiện điểm mạnh của một doanh nghiệp trên cơ sở có sự so sánh
trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh khác. Năng lực cạnh tranh
của một doanh nghiệp được hình thành thông qua việc nỗ lực duy trì và phát
triển các lợi thế cạnh tranh để từ đó chiếm ưu thế trên thị trường của doanh
nghiệp đó. Muốn đánh giá năng lực cạnh tranh cần dựa trên sự so sánh các lợi
thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Sau đây là
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
9
phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa vào sự phân
tích lợi thế cạnh tranh theo “Mô hình chuỗi giá trị” của Michael Porter.
3

Theo M. Porter, hoạt động của doanh nghiệp có thể được xem là một
chuỗi các hoạt động để chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành đầu ra. Các hoạt
động này được gọi các hoạt động tạo ra giá trị được chia thành 9 nhóm hoạt
động thuộc hai loại:
Các hoạt động chính: Những hoạt động liên quan trực tiếp đến việc
hình thành nên sản phẩm, bao gồm: hoạt động hậu cần đầu vào, chế tạo sản

vµ bán hµng
(quảng cáo,
xúc tiến bán,
đặt giá, kênh
phân phối)
Dịchvụ
(lắp đặt
bảo dưỡng
sửa chữa,
thay thế)
B C
F 3
Giáo sư môn Quản trị kinh doanh của Đại học Havard Hoa Kỳ
Các
hoạt
động
hỗ
trợ Biên
lợi
nhuận D H


Sau đây là một số tiêu thức phân tích chính:
a. Khả năng duy trì và mở rộng thị phần
Thị phần của doanh nghiệp thể hiện được mức độ chiếm lĩnh thị trường
của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi phân tích không nên chỉ tập trung vào số
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
11
liệu tuyệt đối của thị phần trong một thời kỳ nhất định mà còn phải xem xét cả
tốc độ phát triển, mở rộng thị trường của doanh nghiệp trong các thời kỳ khác
nhau nữa. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao không chỉ duy trì
được mức độ thị phần lớn, mà còn phải không ngừng mở rộng, chiếm lĩnh thị
trường được nhiều hơn nữa so với các đối thủ cạnh tranh khác.
b. Tính hiệu quả sản xuất, kinh doanh
Hiệu quả sản xuất, kinh doanh có thể được thể hiện qua việc tính toán
năng suất theo công thức: Trong đó: Đầu ra là hàng hóa, dịch vụ; Đầu vào là nguyên vật liệu,
nguồn vốn, nhân công…
Doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả, năng suất càng cao thì cần
càng ít đầu vào để sản xuất ra một lượng sản phẩm đầu ra cho trước. Khi đó,
so với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ có lợi thế về chi phí thấp hơn. Các
chỉ tiêu về năng suất, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp là các chỉ
tiêu có tính định lượng và tương đối rõ ràng hơn để xác định năng lực cạnh
tranh của một doanh nghiệp.
c. Chất lượng của sản phẩm và tính hiệu quả của các quá trình sản xuất
Sản phẩm là đầu ra cuối cùng của doanh nghiệp, được sản xuất nhằm
mục đích phục vụ thị trường, phục vụ khách hàng. Chất lượng sản phẩm sẽ
được thị trường kiểm định thông qua quá trình sử dụng sản phẩm. Người tiêu
dùng đánh giá chất lượng sản phẩm càng cao, thì họ càng sẵn sàng chi trả

tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thông tin mà các doanh nghiệp quan
tâm là: Thông tin nguồn cung, cầu trên thị trường, thông tin về sự thay đổi của
chính sách luật pháp, thông tin về hoạt động của đối thủ…Doanh nghiệp có
khả năng nắm bắt và xử lý nhanh nhạy, chính xác những thông tin này có thể
đi trước một bước so với đối thủ cạnh tranh trong việc đưa ra được những
quyết định và chiến lược đúng đắn cho công ty.
Khả năng thu hút và phát triển nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực có
chuyên môn cao, tâm huyết và làm việc hiệu quả có thể mang lại sự thành công
bền vững cho doanh nghiệp. Chính nguồn lực con người là động lực của mọi đổi
mới, sáng tạo, giúp doanh nghiệp khai thác có hiệu quả những nguồn lực khác.
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
13
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày nay còn thể hiện thông qua khả năng
thu hút, đào tạo được nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng và trung thành với
công ty. Các chỉ tiêu xem xét: Tỷ lệ nhân viên có tay nghề cao, tỷ lệ chi phí đầu
tư cho đào tạo nhân viên, năng suất lao động bình quân…
Khả năng huy động và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực tài
chính: Vốn quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp, doanh
nghiệp được đầu tư lớn thường có ưu thế hơn về công nghệ, cơ sở vật chất và
tạo điều kiện cho việc chiếm được thị trường lớn. Tuy nhiên, sự hoạt động
hiệu quả của doanh nghiệp, hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn
phải phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng nguồn lực tài chính đó có hiệu quả
hay không. Nguồn lực tài chính sử dụng hiệu quả mang lại tỷ suất lợi nhuận
trên đồng vốn cao cho doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu cần đánh giá: Các tỷ lệ tài chính phản ánh cơ cấu tài sản,
nguồn vốn của doanh nghiệp, Các chỉ tiêu tính toán hiệu quả sử dụng vốn (Tỷ
suất lợi nhuận trên đồng vốn, Tỷ lệ doanh thu trên vốn…), Lợi nhuận giữ lại
và chính sách cổ tức của doanh nghiệp…
e. Khả năng liên kết và hợp tác với các doanh nghiệp khác và hội nhập kinh

tiêu tương ứng của đối thủ cạnh tranh có thể được sử dụng để phân tích khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP
2.1. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
2.1.1. Lựa chọn thị trường mục tiêu của doanh nghiệp
Lựa chọn thị trường mục tiêu cho doanh nghiệp có tính chất quyết định
đến mọi chiến lược kinh doanh khác của doanh nghiệp. Việc lựa chọn thị
trường mục tiêu thực chất là xác định lại phạm vi kinh doanh của doanh
nghiệp trên thị trường. Thị trường lựa chọn càng lớn đòi hỏi doanh nghiệp
càng phải cạnh tranh nhiều hơn với nhiều đối thủ hơn, chính vì thế thị trường
lựa chọn của doanh nghiệp sẽ quyết định một phần tới năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thị trường.
Có ba lý do chính bắt buộc doanh nghiệp cần phải xác định cụ thể
phạm vi kinh doanh của mình:
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
15
Thứ nhất: Thị trường tổng thể có rất nhiều khách hàng với rất nhiều nhu
cầu khác nhau cần phải đáp ứng. Không một doanh nghiệp cá biệt nào có thể đáp
ứng được tất cả nhu cầu và ước muốn của khách hàng tiềm năng. Do đó, doanh
nghiệp cần phải xác định rõ được nhu cầu của khách hàng cần thỏa mãn.
Thứ hai: Doanh nghiệp phải đối mặt với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên
thị trường, và họ luôn cũng có những cách thức để cạnh tranh với doanh nghiệp.
Thứ ba: Mỗi doanh nghiệp thường chỉ có một hoặc một vài thế mạnh
nào đó để thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Có nghĩa là nguồn lực và khả
năng của doanh nghiệp là có hạn.
Do vậy, để kinh doanh có hiệu quả, để duy trì và phát triển được thị phần,
doanh nghiệp cần phải tìm được cho mình những đoạn thị trường mà ở đó họ có
khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh. Có như

kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp có thể tập trung đầu tư mở rộng thị
trường, phát triển sản phẩm mới, chiếm lĩnh thị trường, nâng cao được năng
lực cạnh tranh của mình so với đối thủ cạnh tranh khác. 2.1.4. Văn hóa doanh nghiệp
Hiện nay, vấn đề xây dựng văn hóa doanh nghiệp đang được các doanh
nghiệp quan tâm và xem như là một yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành nên
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là vừa là bản
sắc, nét riêng của doanh nghiệp để phân biệt so với đối thủ cạnh tranh khác,
đồng thời là truyền thống của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới cách thức làm việc
và hợp tác giữa các cá nhân, tập thể trong hệ thống của doanh nghiệp, và sự
sáng tạo của họ. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng đòi hỏi một thời gian
lâu dài và bền bỉ, tuy nhiên, một khi văn hóa doanh nghiệp đã được hình
thành, nó có sức ảnh hưởng to lớn đến hành vi của mọi cá nhân trong doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp có hệ văn hóa ảnh hưởng tích cực đến sự phát
triển của nó có thể là truyền thống khuyến khích đổi mới, sáng tạo, trọng
người tài, khuyến khích sự học hỏi, hợp tác, chia sẻ giữa các thành viên…
Trong văn hóa doanh nghiệp, yếu tố quan trọng và nền tảng nhất là hệ
giá trị triết lý doanh nghiệp, được xem là tôn chỉ hoạt động, kim chỉ nam của
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
17
mục tiêu phát triển công ty. Ngoài ra, cách thức tổ chức, tập quán và niềm tin
trong doanh nghiệp cũng là yếu tố quan trọng, khó thay đổi trong doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp có văn hóa doanh nghiệp tốt là những doanh
nghiệp xây dựng được hệ giá trị triết lý vững chắc, tổ chức, hình thành được
các thói quen tốt trong doanh nghiệp
4
.

quan hệ so sánh tương đối với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường. Do
đó, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng của sự cạnh
tranh từ doanh nghiệp khác. Nếu đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có khả
năng nhanh chóng thay đổi, bắt chước sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc cải
tiến sản phẩm tốt hơn, đáp ứng nhiều nhu cầu của thị trường hơn, hoạt động
có hiệu quả hơn so với doanh nghiệp thì năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trở nên yếu đi so với đối thủ. Chính vì thế, doanh nghiệp có năng lực
cạnh tranh tốt là doanh nghiệp phải duy trì và phát triển được những lợi thế
của mình so với đối thủ cạnh tranh, liên tục cải tiến, nghiên cứu sản phẩm mới
tốt hơn, quản lý hiệu quả hơn, đồng thời chú ý tốc độ và những chiến lược
phát triển của đối thủ để đưa ra những chiến lược, quyết định hợp lý, kịp thời.
2.2.2. Tốc độ đổi mới công nghệ trong ngành
Trong các ngành có tốc độ đổi mới công nghệ nhanh chóng như công
nghệ thông tin, công nghệ viễn thông, các ngành có sử dụng nguồn nhân lực
chất xám cao… thì sản phẩm của các doanh nghiệp luôn có nguy cơ trở nên
lỗi thời trong một thời gian rất ngắn. ở những ngành này, nhu cầu của thị
trường luôn thay đổi, đối thủ cạnh tranh cũng thường là những doanh nghiệp
năng động, do đó, chỉ các doanh nghiệp nào có khả năng bắt kịp với tốc độ
thay đổi này thì mới có khả năng trụ vững và phát triển được.
2.2.3. Môi trường kinh doanh và các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Môi trường kinh doanh có tác động trực tiếp tới sự hoạt động của
doanh nghiệp. Một môi trường kinh doanh thuận lợi đầu tiên phải ở trong một
môi trường chính trị ổn định, an toàn và khuyến khích các hoạt động sản xuất,
kinh doanh hợp pháp. Hơn thế nữa, môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự
phát triển của doanh nghiệp phải là một môi trường có sự cạnh tranh công
khai và bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Sự cạnh tranh trong môi trường
kinh doanh là động lực để các doanh nghiệp đổi mới và phát triển.
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
19


5
Giáo trình Marketing cơ bản (Trường Đại học Kinh tế quốc dân- Nhà xuất bản Giáo dục Năm 2002) Trang
449
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Ngọc Bích Lớp Anh 1 Khóa 42
20
Theo mối liên hệ với khách hàng: Có hai loại, thứ nhất là loại hình
dịch vụ đòi hỏi sự liên quan trực tiếp với khách hàng: Ví dụ dịch vụ du lịch,
dịch vụ chăm sóc sức khỏe… ở loại hình dịch vụ này, đòi hỏi phải có sự có
mặt của khách hàng khi tiến hành dịch vụ, khách hàng là đối tượng trực tiếp
nhận dịch vụ đó. Loại hình dịch vụ thứ hai là loại hình dịch vụ không đòi hỏi
sự liên quan trực tiếp với khách hàng như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ sửa
chữa…ở loại hình này, khách hàng không phải là đối tượng trực tiếp nhận
dịch vụ, họ không cần trực tiếp phải có mặt khi tiến hành dịch vụ nhưng vẫn
có thể thỏa mãn được nhu cầu, ví dụ như xe của họ vẫn có thể được sửa chữa,
bưu phẩm của họ vẫn được giao
Theo động cơ mua dịch vụ của khách hàng: Có hai loại là Dịch vụ
thỏa mãn nhu cầu cá nhân (ví dụ như dịch vụ giải trí, dịch vụ bảo hiểm cá
nhân ) và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu nghề nghiệp (ví dụ như dịch vụ ngân
hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ kiểm toán, tư vấn tài chính…).
Theo mục tiêu của người cung ứng dịch vụ: Bao gồm: Dịch vụ
thương mại là loại hình dịch vụ phổ biến nhất trên thị trường, vì mục tiêu lợi
nhuận của các chủ doanh nghiệp; và Dịch vụ phi thương mại thường là các
dịch vụ do Nhà nước đứng ra cung cấp vì mục tiêu công cộng, xã hội như
dịch vụ xe bus, dịch vụ môi trường, cây xanh
3.1.2. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ
a. Tính vô hình hay phi vật chất
Như đã nêu trên, dịch vụ là một “giải pháp” hay “lợi ích”, có nghĩa là
những khái niệm trừu tượng, vô hình. Khách hàng không thể thử, nhìn, nghe


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status