TRNG I HC NGOI THNG H NI
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI
********* O0O ********
KHO LUN TT NGHIP
ti:
Tìm hiểu văn hóa kinh doanh mỹ để nâng cao khả năng thâm
nhập thị tr-ờng này của doanh nghiệp việt nam
SV thc hin Chu Th Linh Chi
Lp : Anh 13
Khúa : K42 D
GV hng dn : TS. Nguyn Vn Hng
H NI, THNG 11 / 2007
BIẾN ĐỘNG CỦA THỊ TRƢỜNG: 77
3.3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG THÂM NHẬP THỊ
TRƢỜNG MỸ CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM. 78
3.3.1. NHÓM GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP 78
3.3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC 92
KẾT LUẬN 99
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoa Kỳ là một thị trường lớn và đầy tiềm năng đối với rất nhiều nước
trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam bởi một sức
mua khổng lồ và đặc tính đa dạng. Tuy nhiên, để thâm nhập được vào thị
trường này lại là một bài toán khó bởi có không ít các thách thức mà các
doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt. Bên cạnh những hạn chế về trình độ
công nghệ, bí quyết kĩ thuật, chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp Việt Nam
còn gặp phải những rào cản rất lớn về văn hóa bởi lẽ có rất nhiều sự khác biệt
về văn hóa kinh doanh giữa người Mỹ và người Việt mà doanh nghiệp chưa
lường trước và chưa chuẩn bị được. Khoảng cách về địa lý, khoảng cách về
trình độ phát triển, cộng thêm với khoảng cách về văn hóa kinh doanh đã làm
cho nhiều doanh nghiệp phải rút lui khỏi thị trường này. Mặc dù trong những
năm gần đây vấn đề văn hóa kinh doanh đã dần được nhắc đến như là một
phần không thể thiếu trong cẩm nang thâm nhập thị trường nước ngoài nhưng
với đặc tính luôn tiến hóa của văn hóa, đặc biệt là với một thị trường năng
động như Hoa Kỳ, việc cập nhật thông tin thường xuyên vẫn là điều cần thiết.
Mặt khác riêng đối với Việt Nam, Hoa Kỳ hiện nay đang là thị trường xuất
Nam cần lưu ý bao gồm văn hóa doanh nghiệp, văn hóa giao dịch và văn hóa
tiêu dùng và từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị nâng cao khả năng thâm
nhập.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp, đối
chiếu – so sánh, mô tả và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu.
4
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG MỸ
1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN XÃ HỘI CỦA THỊ TRƢỜNG MỸ
1.1.1. Lịch sử địa lý
Với tổng diện tích 9.629.091 km2 chiếm 6.2% diện tích toàn cầu, Hoa
Kỳ là nước lớn thứ 3 trên thế giới, thứ 2 châu Mỹ, chiếm phần đáng kể lục địa
Bắc Mỹ, phía đông giáp Thái Bình Dương, phía tây giáp Đại Tây Dương; địa
hình rất phức tạp: đồng bằng rộng lớn phì nhiêu, cao nguyên đồi núi, nhiều
sông hồ, khí hậu Mỹ đa dạng, khác biệt lớn giữa các vùng. Nguồn tài nguyên
thiên nhiên dồi dào phong phú gồm: than đá, đồng, chì, phốt phát…trong đó
than chiếm 1/4 than thế giới, dầu chiếm 1/7 dầu thế giới. 25% diện tích Mỹ là
đồng cỏ phục vụ cho việc chăn nuôi, 30% diện tích là rừng phục vụ cho
ngành sản xuất gỗ đứng thứ 2 thế giới [2] .Với điều kiện tự nhiên thuận lợi
như vậy, Hoa Kỳ có được ưu thế mạnh về phát triển sản xuất về cả nông
nghiệp và công nghiệp. Đó là cũng là lý do giải thích vì sao Nước Mỹ từ thủa
sơ khai đã trở thành “miền đất hứa”, “giấc mơ Mỹ” của người nhập cư từ tất
cả các châu lục, dẫn đến đặc điểm đa chủng tộc rất đặc trưng của dân tộc này.
Còn một lý do mang tính lịch sử nữa cũng có thể giải thích cho đặc điểm đó là
quá trình lịch sử rất phức tạp để hình thành nước Mỹ ngày nay. Trước hết, đó
1.1.2.1. Hệ giá trị và quan niệm của xã hội Mỹ
Tự do cá nhân – Chủ nghĩa cá nhân (Individual freedom -
Individualism)
Điều quan trọng nhất để hiểu người Mỹ có lẽ là sự sùng bái chủ nghĩa
cá nhân của họ. Nguyên nhân hình thành nước Mỹ, như đã nói ở trên cũng là
một phần nằm ở khát vọng tự do cá nhân của những người nhập cư. Dần dần
nó gần như trở thành bản năng của người Mỹ. Đối với họ cái “tôi” là quan
trọng nhất và họ luôn có ý thức vươn lên trong cuộc sống để đạt được mục
6
tiêu của mình. Họ được đào luyện từ rất sớm để suy nghĩ về mình như một cá
nhân riêng lẻ tự chịu trách nhiệm về hoàn cảnh của họ trong cuộc sống và số
phận của chính họ. Họ không được đào luyện để xem mình như là một thành
viên của gia đình, một nhóm tôn giáo, bộ tộc, một quốc gia hay bất cứ tập thể
nào khác gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau như một số quốc gia châu Á. Tự do cá
nhân ở Mỹ có thể được giải thích bởi chính sự đa dạng trong xã hội Mỹ: Để
cùng tồn tại và phát triển một xã hội đa dạng và không có khoảng cách giai
cấp như thế, các cá nhân trong xã hội đó không thể không tôn trọng quyền tự
do cá nhân của nhau.
Tự do cá nhân ở Mỹ được thể hiện ở tất cả các khía cạnh của xã hội.
Các bậc cha mẹ người Mỹ luôn dành cho con cái phòng ngủ riêng khi còn ẵm
ngửa với ý nghĩ in sâu vào tâm trí rằng mỗi người đều có nơi của chính mình,
tự do với các tài sản của mình. Thậm chí ở Mỹ, bố mẹ cho con cái tự mình
quyết định từ rất sớm, kể cả việc sử dụng tiền bạc. Và một số câu nói như:
“Nếu bạn không quan tâm đến chính mình thì sẽ không ai làm điều đó cả” hay
“Bạn sẽ phải quyết định điều đó cho chính bạn” là những câu nói thường
xuyên với người Mỹ.
Tự do cá nhân cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tính cách của người Mỹ.
thấy không thoải mái khi một người nào đó với thái độ kính trọng quá mức.
Họ không thích trở thành đối tượng để trình diễn lòng kính trọng công khai –
được vái chào, được trọng vọng hay được đối xử như thể họ không đời nào
làm điều gì sai và đưa ra các yêu câu vô lý. Thêm nữa, theo quan điểm của
người Mỹ, đàn ông và phụ nữ đều bình đẳng như nhau. Tuy trong thực tế,
người Mỹ có thể vi phạm lý tưởng này (như việc phụ nữ được trả lương thấp
hơn nam giới trong công việc) nhưng họ vẫn luôn cho rằng phụ nữ và nam
giới đều đáng được tôn trọng như nhau. Phụ nữ có thể khác biệt hơn nam giới
nhưng không thấp kém hơn nam giới.
8
Chính quan niệm về bình đẳng này tạo nên sự thân mật trong cách cư
xử nói chung của người Mỹ với những người khác. Trong giao tiếp hàng
ngày, tiếng lóng và thành ngữ được sử dụng khá tùy tiện. Mọi người thuộc bất
cứ địa vị cao nào trong xã hội đều có thể xuất hiện ở nơi công cộng với quần
Jeans, xăng đan hay các loại quần áo thông thường khác. Mọi người thường
hay dựa vào tường hoặc đồ đạc trong nhà hơn là việc duy trì một dáng điệu
đứng thẳng khi nói chuyện.
Mặt khác, quan niệm bình đẳng về cơ hội này cũng tạo ra tâm lý cạnh
tranh trong xã hội Mỹ. Nếu như mỗi người có cơ hội ngang nhau để thành
công ở Mỹ thì nhiệm vụ của mỗi người là dùng năng lực và tài trí của mình để
vượt qua người khác trong cuộc đua đi đến thành công. Người ta phải cạnh
tranh để xác định là người chiến thắng (winner) hay thua cuộc (loser).
Sự giàu có về vật chất (Wealth)
Nước Mỹ được hình thành cùng với khát vọng làm giàu của hàng triệu
người nhập cư từ khắp các châu lục. Đó là giấc mơ Mỹ được làm giàu qua
một đêm, được đổi đời ( going from rags to riches) [30]. Mặc dù không phải
người Mỹ nào cũng “giàu lên qua một đêm”, thậm chí một số đã phải rất khổ
Thời gian là vàng bạc
Trước hết ở Hoa Kỳ, “thời gian là tiền bạc”. Thời gian cũng được coi là
một loại hàng hóa như tất cả các loại hàng hóa khác. Người Mỹ tiết kiệm thời
gian cũng như tiết kiệm tiền bạc. Người ta không lãng phí thời gian vì những
nghi lễ xã giao rườm rà mà luôn đi thẳng vào vấn đề trong mọi cuộc gặp. Bởi
vậy, nhịp sống ở Mỹ luôn gấp gáp, thậm chí nhiều người còn cho rằng người
Mỹ làm việc như một cái máy. Người Pháp cho rằng Người Mỹ sống để làm
việc chứ không phải làm việc để sống. Có thể nói điều này xuất phát tự nhiên
từ sự coi trọng thời gian và sức lao động của người Mỹ. Dù sẵn sàng làm việc
vất vả để đạt được mục tiêu của mình nhưng người Mỹ luôn có ý thức tìm ra
10
phương pháp để tiết kiệm thời gian mà vẫn đạt hiệu quả cao. Một trong những
đặc trưng thể hiện lối sống này là các cửa hàng ăn nhanh ra đời và phát triển
nhanh ở Mỹ - trở thành một nét văn hóa của xã hội Mỹ.
Tính thực dụng cao
Như chúng ta đã đề cập phần ở giá trị của tiền bạc đối với người Mỹ,
họ rất coi trọng đồng tiền bởi vì theo quan niệm của họ đồng tiền thể hiện cho
công sức và tài năng của mỗi người trên đường đua tới thành công. Làm ra
tiền, kiếm được tiền là động lực thúc đẩy mọi người ở đây vận động nhanh
hơn so với các nơi khác. Muốn thu được tiền, kiếm được nhiều lợi nhuận, một
mặt người ta phải ráo riết bươn chải chạy đua với thời gian, mặt khác cần tỉnh
táo để không phải chi phí quá mức từ nguyên vật liệu, công sức và tiền bạc.
Điều này dẫn đến thái độ của họ trong các mối quan hệ xã hội. Họ chỉ hợp tác
khi nhận thấy thu được lợi ích trong mối quan hệ đó. Thậm chí, người Mỹ
còn có thói quen con cái trả tiền ăn và tiền phòng cho bố mẹ và bố mẹ cũng
làm tương tự như thế khi về già. Lối sống này không giống chủ nghĩa duy lý
nhấn mạnh đến cái thực của châu Âu, đi ngược lại lý tưởng duy mỹ nhấn
nhiệm sản phẩm. Thêm vào đó, xã hội Mỹ là xã hội của dịch vụ: khác với
Việt Nam, giáo dục và y tế đều là những dịch vụ rất phát triển ở Mỹ. Nước
Mỹ là một trung tâm giáo dục đại học - cao đẳng quan trọng với trên 4.000
trường đại học, cao đẳng và các cơ sở giáo dục tương đương khác, những
trường có thứ hạng cao nhất trong số đó cũng được xem là có uy tín và tiến bộ
nhất thế giới. Chỉ số phát triển con người của Hoa Kỳ tăng lên trong những
năm gần đây và đứng thứ 8 trên thế giới (0.948). Theo Trung tâm thống kê
sức khỏe quốc gia của Mỹ NCHS (National Center for Health Statistics), tuổi
thọ trung bình 77,9 tuổi của người Mỹ xếp thứ 42 thế giới. Hoa Kỳ cũng có
một số chương trình trợ cấp xã hội như chương trình An sinh xã hội, trợ cấp
thất nghiệp, trợ cấp người nghèo, y tế cho người già và tàn tật (Medicare), và
y tế cho người nghèo (Medicaid). Tuy nhiên, Hoa Kỳ là một trong những
12
nước phát triển không có một hệ thống y tế xã hội hóa, và bệnh nhân phải trả
tiền khám. Hiện nay có khoảng 40 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế và
phải trả tiền thuốc men [29]. Khoảng cách giàu nghèo càng ngày càng lớn, và
sự phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn tại chính là vấn đề mà xã hội Mỹ đang gặp
phải.
1.2. ĐẶC ĐIỂM NỀN KINH TẾ MỸ
1.2.1. Nền kinh tế năng động
Hiện nay và trong nhiều thập kỷ nữa, Hoa Kỳ vẫn là nước có nền kinh
tế lớn nhất thế giới. Năm 2005, GDP của Hoa Kỳ ước đạt xấp xỉ 12,5 nghìn tỷ
USD, chiếm khoảng 28% tổng GDP toàn thế giới với cả ba ngành dịch vụ,
công nghiệp, nông nghiệp đứng hàng đầu thế giới. Vị trí này là kết quả của
những giai đoạn phát triển nhanh chóng của kinh tế Mỹ trong các giai đoạn
1991 - 2000 với mức tăng trưởng GDP bền vững trung bình 3.6%/năm (trong
khi các nước G7 là 2.6%), giữ kỉ lục trên toàn thế giới. Năng suất lao động
Mặt hàng
Năm 2005
Năm 2006
So sánh 06/05
(%)
Hàng dệt may
2.602.902
3.044.579
16,97
Dầu thô
471.701
1.013.789
114,92
Giầy dép các loại
611.050
802.760
31,37
Gỗ và sản phẩm gỗ
566.968
744.083
31,24
Hàng hải sản
631.481
664.829
5,28
Máy vi tính, sp điện tử và linh kiện
118.532
210.471
77,56
Hạt điều
3,48
Cao su
24.755
27.876
12,61
Sản phẩm mây tre, cói thảm
22.138
25.499
15,18
Hàng rau quả
13.156
18.401
39,87
Đồ chơi trẻ em
12.384
17.079
37,91
Sản phẩm đá quý và kim loại quý
9.644
14.110
46,31
Mỳ ăn liền
2.972
3.019
1,58
Chè
1.027
1.585
54,33
Quế
32,01
Nguồn: Trang web thông tin thương mại Việt Nam
1.2.3. Nền kinh tế có tính cạnh tranh gay gắt
Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích cho tính cạnh tranh gay gắt
trong nền kinh tế Mỹ. Trước hết, đó là ảnh hưởng rõ nét nhất của các giá trị
Mỹ: giá trị về tính tự do cá nhân, về sự bình đẳng cơ hội, và về mặt vật chất
giàu có. Tâm lý ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người Mỹ là: tâm lý tự do cạnh
tranh, bình đẳng cạnh tranh để bảo vệ tự do cá nhân và đạt được sự giàu có,
thành công. Trong hoạt động kinh tế, hoạt động trực tiếp sản sinh ra tiền bạc
và thể hiện sự thành công, sự cạnh tranh này lại càng biểu hiện rõ nét. Người
ta cạnh tranh nhau để đạt được giàu có, để thỏa mãn tự do, và để tận dụng sự
bình đẳng cơ hội trong xã hội mình.
Thị trường Mỹ không chỉ có sự cạnh tranh giữa những doanh nghiệp
nội địa mà còn giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài, giữa doanh nghiệp nội địa
với nhà xuất khẩu nước ngoài. Như ta đã biết, hiện tại có 170 nước xuất khẩu
hàng hóa vào Mỹ, mỗi nước đều cố gắng phát huy những thế mạnh của mình
chiếm lĩnh thị trường, đặc biệt có những nước có rất nhiều lợi thế như
Canada, Mê hi cô, Trung Quốc.v.v. Cạnh tranh với những đối thủ này luôn là
bài toán khó đối với doanh nghiệp Việt Nam.
1.2.4. Nền kinh tế với những tiêu chuẩn mặt hàng đa dạng
Tuy khối lượng lớn nhưng các mặt hàng để xâm nhập thị trường Mỹ
phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, nhãn mác hàng hóa, tiêu
chuẩn về lao động, các quy định về môi trường, vệ sinh dịch tễ, các hạn chế
về hạn ngạch,v.v. Tùy theo từng nghành hàng mà hàng nhập khẩu vào Mỹ
phải đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia (do viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ - ANSI
đặt ra) hoặc tiêu chuẩn nghành, chẳng hạn như quy định về tiêu chuẩn vệ sinh
16
viên như một chuẩn mực để nhận thức, tư duy và cảm nhận trong mối quan hệ
với các vấn đề mà họ đối mặt.”
Cách hiểu trên rất có lý nếu xét theo giác độ của các nhà quản trị. Tuy
nhiên, nó có phần chưa tương xứng với tầm bao quát của văn hóa kinh doanh
vì cho dù doanh nghiệp là chủ thể chính của mọi hoạt động kinh doanh nhưng
kinh doanh vẫn là một hoạt động phổ biến, liên quan đến mọi thành viên trong
xã hội. Văn hóa doanh nghiệp là một phần quan trọng trong văn hóa kinh
doanh nhưng không đồng nhất với văn hóa doanh nghiệp.
18
Trong quyển “Văn hóa và Kinh doanh”, tác giả Phạm Xuân Nam cũng
có định nghĩa: “Văn hóa kinh doanh có nghĩa là hoạt động kinh tế có hiệu
quả, đạt năng suất, sản lượng, giá trị cao, giá thành thấp , sản phẩm đạt chất
lượng cao, tiêu thụ được trong và ngoài nước, làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà
nước”[8]
Nếu như xem văn hóa kinh doanh là hoạt động kinh tế kinh doanh như
trong định nghĩa trên thì dễ gây nhầm lẫn về đối tượng nghiên cứu.
Từ điển từ và ngữ Việt Nam có định nghĩa:“Văn hóa kinh doanh là việc
sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt động kinh doanh của chủ thể, là
cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình
thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ”[5].
Định nghĩa này đã nhấn mạnh được văn hóa kinh doanh là một bộ phận
cấu thành của văn hóa xã hội, tuy nhiên do không cụ thể được chủ thể kinh
doanh là doanh nghiệp hay là xã hội nên có thể gây nhầm lẫn giữa văn hóa
doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh.
Nói tóm lại, ta có thể hiểu văn hóa kinh doanh theo định nghĩa sau:
“Văn hóa kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô
hình văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của
sức ảnh hưởng của đạo Khổng, xem kinh doanh là phải có Tâm, làm giàu cho
không chỉ bản thân mà còn phải làm giàu cho tập thể. Trong khi đó quan niệm
xã hội phương Tây lại cho rằng kinh doanh đơn giản làm ra nhiều tiền. Ta
cũng thấy theo mô hình của Hofstede trong cuốn “Văn hóa và tổ chức – phần
mềm của ý thức” (Culture and organization – software of mind) thì tính cẩn
trọng (một khía cạnh của văn hóa kinh doanh) thể hiện tư duy kinh doanh rõ
nét nhất. Ở những nước có chỉ số cẩn trọng cao như Hy Lạp (110/110), Nhật
bản (92/110) thì người ta thích chọn những lĩnh vực kinh doanh ít mạo hiểm
20
hơn ở những nước có chỉ số cẩn trọng thấp như Anh, Mỹ, Ấn Độ [7]. Tương
tự như thế, tư duy của người phương Tây (với tính cẩn trọng thấp) thường
mang tính phân tích hơn, trừu tượng hơn, giàu tính tưởng tượng hơn, trong
khi cách nghĩ của người châu Á (với tính cẩn trọng cao) lại tổng hợp, cụ thể
và thực tế hơn.
Với vai trò là sự thể hiện tư duy trong kinh doanh quốc tế, văn hóa kinh
doanh thường được các doanh nghiệp áp dụng để vạch ra những chiến lược
riêng trong đàm phán kinh doanh với các đối tác nước ngoài.
1.2.2 Văn hóa kinh doanh hướng dẫn quá trình giao tiếp trong kinh doanh
quốc tế
Kinh doanh chính là một hoạt động giao tiếp giữa người với người
nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận, mà giao tiếp lại là một chức năng của văn
hóa xã hội nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng. Mỗi xã hội, mỗi đặc
trưng văn hóa kinh doanh riêng đều có những phong cách giao tiếp khác nhau
mà nếu không có sự hiểu biết sẽ gây rà nhầm lẫn đáng tiếc.
Văn hóa kinh doanh tác động đến giao tiếp dưới cả hai hình thức của
nó: có lời và không lời. Trong giao tiếp có lời, thông điệp chuyển đi trong các
kênh giao tiếp kinh doanh không chỉ chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ mà còn
D.C. Theo phong cách Việt Nam, có thể vừa ăn tiệc vừa nghe ca nhạc dân tộc,
xem trình diễn thời trang Nhưng phong tục Mỹ không như vậy, trong bữa tiệc,
họ vừa ăn vừa tranh thủ trò chuyện giao lưu tìm kiếm đối tác. Ở Việt Nam, từng
có quan chức từ chối phát biểu trong bữa tiệc vì cho rằng không trang trọng,
nhưng ở Mỹ thậm chí tổng thống cũng có những bài phát biểu rất quan trọng
trong bữa ăn. Với lý do này, khi sang Mỹ các tiết mục biểu diễn văn hóa nghệ
thuật buộc phải tách riêng, trong bữa ăn chỉ có nhạc nhẹ.
Quá trình giao tiếp còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố ngữ cảnh chi phối
trong từng nền văn hóa. Các hành vi giao tiếp trong kinh doanh cũng không
phải là trường hợp ngoại lệ. Ví dụ như trong một cuộc thương lượng, người
22
Nhật, người Trung Quốc (ở trong những nền văn hóa ngữ cảnh cao) thường
thích nói hàm ý, cũng như nói vòng vo trước khi đi vào vấn đề, trong khi
người Thụy Sỹ, người Mỹ (ở trong những nền văn hóa ngữ cảnh thấp) lại
thích thẳng thắn, mọi thông điệp đều nằm trong ngôn từ.
2.1.2.3 Văn hóa kinh doanh hướng dẫn quá trình ra quyết định trong kinh
doanh quốc tế
Có thể nói rằng quá trình ra quyết định rất quan trọng trong kinh doanh
quốc tế. Một quyết định là một thương vụ lớn, một quyết định là một thị
trường mới, một quyết định là một quan hệ làm ăn mới và một quyết định
cũng là một cơ hội mới. Tuy nhiên cách ra quyết định ở các nước khác nhau
biến thiên rất nhiều, mà yếu tố ảnh hưởng chính là những yếu tố cấu thành
văn hóa kinh doanh: tính cẩn trọng và phân cấp quyền lực.
Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng tính cá nhân và tính phân cấp quyền
lực trong một xã hội tỷ lệ nghịch với nhau và cùng ảnh hưởng đến cách ra
quyết định của mỗi nền văn hóa. Ví dụ, một người phụ trách bán hàng tại một
công ty đa quốc gia Mỹ (nền văn hóa của chủ nghĩa cá nhân) có quyền quyết
đai. Ngược lại trong nền văn hóa phương Tây đề cao chủ nghĩa cá nhân, xu
hướng tiêu thụ cho nhu cầu cá nhân phát triển mạnh. Bởi vậy, có thể nói rằng
văn hóa kinh doanh mô tả phong cách mà con người ở những quốc gia khác
nhau thỏa mãn nhu cầu của họ: Văn hóa kinh doanh khác nhau, xu hướng tiêu
dùng khác nhau. Về cơ bản văn hóa kinh doanh ảnh hưởng đến tiêu dùng ở tất
cả các khâu tiêu dùng cụ thể như sau:
Trước hết văn hóa quyết định mẫu mã sản phẩm vì mỗi thị trường sẽ có
nhu cầu khác nhau về cách ăn mặc, sinh hoạt. Ví dụ như búp bê Barbie của
Mattel Toys bán rất chạy trên rất nhiều nước trên thế giới nhưng đến nước
Nhật lại không được ưa chuộng bởi theo các em gái Nhật búp bê này có chân
quá dài và ngực quá to. Sau khi cải tiến những đặc điểm này thì Barbie mới
tiêu thụ được ở Nhật. Còn ở Mexico, humburger của McDonald phải thay
nước sốt cà chua bằng tương ớt [30]. Bên cạnh đó, mô hình phân phối cũng
khác nhau như trong khi người Mỹ thích đi siêu thị thì dân châu Á lại thích đi
chợ hơn. Có một giai đoạn bán hàng tận cửa thu hút khách hàng Mỹ nhưng
đối với phụ nữ Anh đó là sự xâm phạm cuộc sống riêng tư của mình. Cách
tiếp cận, quảng cáo, khuyến mại thị trường cũng khác nhau như người châu Á
ưa sự quảng cáo kín đáo hơn các nước Âu Mỹ. Giá cả cũng phụ thuộc vào
cách nhìn nhận của người tiêu dùng, như người Âu Mỹ đánh giá cao và sẵn