Các yếu tố đảm bảo an toàn xã hội và quá trình
chuẩn bị sẵn sàng thực thi REDD+:
Khuôn khổ chung và các khoảng trống cần lấp đầy
đối với tỉnh Quảng Bình, Việt Nam
Berlin
Tháng 12 năm 2012
Dr. Rita Gebert
Với các thông tin đầu vào của
Ông Nguyễn Văn Hợp
Và sự hỗ trợ của
Ông Nguyễn Thanh Phương
Published by :
i
Lời nói đầu
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của những người cung cấp thông tin tham gia vào đợt
nghiên cứu này. Chúng tôi đánh giá cao sự cởi mở trong các cuộc thảo luận. Chúng tôi xin cảm ơn
các thành viên nam giới và nữ giới tại 11 thôn bản của 5 xã đã cung cấp cho chúng tôi nhiều thông
tin về rừng và các hoạt động sinh kế của họ có liên quan đến rừng. Chúng tôi cũng xin cảm ơn các
cán bộ xã đã hỗ trợ chúng tôi sắp xếp các cuộc phỏng vấn tại các thôn bản. Cuối cùng, chúng tôi
xin cảm ơn sự hỗ trợ đối với đợt nghiên cứu này từ phía Ông Nguyễn Trung Thực - Giám đốc dự
án - và Ông Tiến sĩ Jens Kallabinski, Cố vấn trưởng hợp phần GIZ, dự án “Bảo tồn và quản lý bền
vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng
Bình, Việt Nam”. Xin cảm ơn Ông Nguyễn Minh Đức - Cán bộ phiên dịch hợp phần GIZ - đã hỗ trợ
phiên dịch trong quá trình Nhóm tư vấn tiến hành khảo sát tại thực địa.
Euro
FSC
Hội đồng Quản trị rừng quốc tế (Forest Stewardship Council)
FPIC
Nguyên tắc tham vấn đồng thuận tự nguyện, được thông báo trước và được
cung cấp thông tin
GIZ
Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức - Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit
IDLO
Tổ chức Luật phát triển Quốc tế
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
IUCN
International Union for the Conservation of Nature
KfW
Ngân hàng Tái thiết Đức - Kreditanstalt für Wiederaufbau
LNCĐ
Lâm nghiệp cộng đồng
LTQD
Lâm trường quốc doanh
MRV
Hệ thống giám sát - báo cáo - kiểm chứng
NRAP
Kế hoạch Hành động quốc gia sẵn sàng thực thi REDD+ của Việt Nam
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
QLRCĐ
Quản lý rừng cộng đồng
Quỹ FCPF
Quỹ đối tác carbon trong lâm nghiệp
VND
Đồng Việt Nam
VQG PNKB
Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ bàng
Tỉ giá hối đoái bình quân (tháng 11 năm 2012):
EUR – VND = 1:26,000
USD – VND = 1:20,000
iii
Mục lục Danh sách các bảng biểu
Bảng 1: Số hộ nghèo và cận nghèo tại vùng đệm và vùng lõi, 2011 20
Bảng 2: Nhu cầu gỗ hộ gia đình hằng năm tại các xã vùng đệm, 2008 27
Bảng 3: Đất rừng thuộc quản lý của xã, VQG PNKB, LTQD và BQLRPH (ha) 34 Danh sách các hình ảnh
Hình 1: Bản đồ phân bố rừng năm 2000 và Bản đồ thay đổi loại rừng năm 2010 2
Hình 2: Giao đất giao rừng theo các bên liên quan: Việt Nam, 2010 (của IDLO, 2011) 10
Danh sách các hộp thông tin và các hình ảnh
Hộp 1: Các chính sách và các chương trình hướng đến hoặc tác động đến người dân tộc
thiểu số 17
Hộp 2: Việc dịch chuyển địa phương phát thải khí nhà kính - Xuất khẩu suy thoái rừng 25
Danh sách các phụ lục
Phụ lục 1: Các điều khoản tham chiếu nhiệm vụ 46
Phụ lục 2: Các cá nhân đã phỏng vấn và Chương trình công tác 52
Khu vực dự án bao gồm vùng lõi của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ bàng (VQG PNKB) với diện
tích 125.498 ha và vùng đệm 225.000 ha. Dân số của 13 xã vùng đệm hiện ước tính trên 64.000
người và phần lớn là người dân nông thôn. Việc sử dụng các nguồn tài nguyên rừng của người
dân khá đa dạng, tùy thuộc phần nhiều vào tính sẵn có của các nguồn tài nguyên rừng trong khu
vực sinh sống của người dân địa phương. Sự không đảm bảo về sinh kế đóng một vai trò trong
việc xác định phụ nữ và đàn ông tại các thôn bản khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên
như thế nào. Chính sự không đảm bảo về sinh kế là một trong những nguyên nhân chính dẫn
đến tình trạng suy thoái rừng ở Quảng Bình và điều này sẽ phải được giải quyết trong các hoạt
động về REDD + và các nỗ lực phát triển kinh tế - xã hội bổ sung khác. Dân cư của 13 xã chủ
yếu là người Kinh, nhưng so với toàn tỉnh Quảng Bình, tỷ lệ phần trăm của các nhóm đồng bào
dân tộc thiểu số cao hơn rất nhiều (khoảng 19% so với chỉ có 2,4% toàn tỉnh - xem Bảng tại Phụ
lục 3). Số liệu về dân số cho thấy rằng có khoảng 63% tổng dân số của các nhóm dân tộc thiểu
số trong tỉnh sống ở 13 xã thuộc ba huyện Bố Trạch, Minh Hóa và Quảng Ninh.
2
Độ che phủ
rừng của tỉnh cũng tập trung ở mức cao nhất tại khu vực vùng đệm và vùng lõi của Vườn.
REDD+ là một khái niệm hoạt động mới tại Quảng Bình. UBND tỉnh Quảng Bình đã xin tham gia
chương trình hỗ trợ thí điểm sẵn sàng thực thi REDD+ thuộc Chương trình tổng thể về sẵn sàng
thực thi REDD+ của Việt Nam theo sáng kiến của Quỹ đối tác carbon trong lâm nghiệp (FCPF)
hiện hành của Ngân hàng Thế giới vào giữa năm 2012. Trước đó, “Đề cương ý tưởng kế
hoạch sẵn sàng thực thi REDD+” (R-PIN)
3
(2008) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(Bộ NN&PTNT) xây dựng đưa ra ý kiến tập trung thực hiện chương trình này tại các tỉnh Tây
Nguyên và Bắc Trung bộ, trong đó có khả năng Quảng Bình sẽ được chọn. Tổ chức GIZ đã tiến
hành đợt công tác của Đoàn Phát triển Chương trình nhằm xác định quy mô thực hiện REDD+
vào tháng 09 năm 2012, và sau đó, một cuộc hội thảo khởi động về việc sẵn sàng thực hiện
REDD+ đã được tổ chức tại Quảng Bình trong tháng 10 năm 2012. Ban chỉ đạo thực hiện
Tỉnh Quảng Bình cũng đã bị suy thoái rừng đáng kể trong vòng 10-15 năm
qua, và nạn phá rừng vẫn đang diễn ra tại thời điểm hiện tại. (Xem Hình 1 dưới đây.)
Hình 1: Bản đồ phân bố rừng năm 2000 và Bản đồ thay đổi loại rừng năm 2010 Trong khi các bản đồ quá nhỏ để có thể so sánh dễ dàng, một trong những khác biệt đáng chú ý nhất đó là
quá trình mất "rừng giàu" (khu vực màu xanh đậm) từ 2000-2010 đồng thời là quá trình gia tăng diện tích
rừng trồng; bản đồ năm 2010 đã được xây dựng dựa trên sự so sánh giữa 2 năm 2000 và 2010. Các khu
vực màu đỏ trên bản đồ năm 2010 thể hiện tình trạng phá rừng. Xem bản đồ với kích thước đầy đủ tại
trang web của JICA/JOFCA: http://www.jpn-vn-redd.org
Hội nghị các bên (COP) Công ước khung Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), tại
Quyết định 1/CP.16 được đưa ra tại Hội nghị biến đổi khí hậu tại Cancun, 2010 đã nhấn mạnh
đến việc bao gồm các biện pháp đảm bảo an toàn xã hội và các khía cạnh khác theo REDD+
hướng đến việc bảo vệ và thúc đẩy các mối quan tâm và các lợi ích của người dân bản địa và 4
Xem Báo cáo Phát triển Việt Nam, 2011: 5 - 6. “Phần lớn sự tăng trưởng kinh tế dựa trên sự khai thác
mạnh mẽ các nguồn tài nguyên thiên nhiên. . . . Nhưng cuối cùng, kết quả sẽ là sự gia tăng áp lực đối với
dự trữ tài nguyên và ô nhiễm”.
5
Theo Cơ quan toàn cầu giảm nhẹ và hồi phục sau thiên tai: “Việt Nam là một trong năm quốc gia bị ảnh
hưởng nặng nề nhất bởi các tác động của biến đổi khí hậu”.
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
3
các cộng đồng địa phương. Đợt nghiên cứu lần này được thực hiện với mục đích hỗ trợ tỉnh
Quảng Bình lập kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ với trọng tâm đặc biệt tập trung
vào các biện pháp đảm bảo an toàn xã hội. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan về
Do đó, Tư vấn tập trung vào việc cải thiện cơ sở thông tin hiện có, giúp các cơ sở thông tin nói
trên phù hợp với khung lập kế hoạch về các biện pháp đảm bảo an toàn xã hội trong thực hiện
REDD+ đối với tỉnh Quảng Bình. Thay vì chuẩn bị một quá trình tham vấn thí điểm, Tư vấn đã
tập trung vào các khoảng trống mà đợt nghiên cứu này nhấn mạnh vào và cần được lấp đầy
trong quá trình thực hiện Chương trình chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ khi tỉnh Quảng Bình
được chọn là một trong các cấp địa phương thực hiện thí điểm chương trình này. Việc “phân tích
các khoảng trống” sẽ xem xét đến các điều kiện khung về các yếu tố đảm bảo an toàn xã hội tại
Quảng Bình cùng với các hoạt động hiện có có khả năng “lấp đầy các khoảng trống” hoặc hỗ trợ
tỉnh trong quá trình chuẩn bị sẵn sàng để thực hiện REDD+. Giả định chính của đợt nghiên cứu
này đó là VIệt Nam tiếp tục cam kết thí điểm REDD+ ở cấp địa phương, và rằng Quảng Bình sẽ
được chọn là một trong các tỉnh thuộc Kế hoạch hành động chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+
như đề cập sau đây: Giai đoạn 2011-2015: lựa chọn ít nhất 08 tỉnh thí điểm, phát triển các mô
hình trình diễn dựa trên các kết quả thực hiện, thí điểm hệ thống phân chia lợi ích. Tóm tắt, đánh
giá, đúc rút các bài học và các kinh nghiệm thực hiện.
1.2 Phương pháp nghiên cứu
Đợt nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Quảng Bình và tại Hà Nội với sự tham gia của các thành
viên sau đây:
Ts. Rita Gebert, Trưởng nhóm nghiên cứu. chuyên gia cấp cao về phát triển kinh tế-xã
hội với nhiều kinh nghiệm về sinh kế nông thôn và dựa vào rừng tại các khu vực vùng núi
và cao nguyên ở Đông Nam Á.
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
4
Ông Nguyễn Văn Hợp, cán bộ lâm nghiệp Dự án Khu vực PNKB có nhiều kinh nghiệm về
quản lý rừng cộng đồng và giao đất giao rừng, được cử làm việc cùng với Nhóm tư vấn
(hỗ trợ quá trình nghiên cứu tại Quảng Bình).
Ông Nguyễn Minh Đức, cán bộ phiên dịch của Dự án được cử làm việc cùng với Nhóm
tư vấn.
thiểu số. Các nhóm dân tộc thiểu số bao gồm Bru-Vân Kiều, Khùa, Sách và Thổ (nhóm cuối
cùng chỉ sinh sống tại xã Hóa Sơn). Xem Phụ lục 3 để biết thông tin nhân khẩu học về các dân
tộc thiểu số ở Quảng Bình. Nhóm Bru-Vân Kiều, bao gồm nhóm nhỏ Khùa, là nhóm dân tộc thiểu
số chủ yếu ở Quảng Bình với 72% tổng số người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
Các cuộc điều tra khảo sát tại các thôn bản luôn được thực hiện với sự hỗ trợ của các cán bộ
xã. Bảng câu hỏi mẫu (xem Phụ lục 4) đã được sử dụng để hướng dẫn cho các cuộc thảo luận
nhóm về các hoạt động sinh kế dựa vào rừng. Các cuộc họp cấp xã đã được tổ chức tại tất cả
05 xã với sự tham gia của các cán bộ UBND các xã. Dữ liệu định tính thu thập được trong năm
2011 và năm 2012 được bổ sung bằng các dữ liệu thứ cấp có sẵn được thu thập tại các bên có
liên quan. Đầu tiên, nhóm đã làm việc với Chi cục Lâm nghiệp, và sau đó với Chi cục Kiểm lâm
và Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TN-MT) vào thời gian cuối của đợt công tác tại Đồng Hới.
Lịch trình đợt nghiên cứu tại Việt Nam và một danh sách riêng những người được phỏng vấn
được trình bày tại Phụ lục 2. Nhóm cũng đã làm việc với Ban quản lý VQG PNKB và các Hạt
Kiểm lâm ở Bố Trạch và Minh Hoá. Nhóm chỉ có thể làm việc với đại diện lãnh đạo và cán bộ
của UBND huyện Minh Hóa. Các kết quả sơ bộ của đợt tư vấn đã được trình bày tại Đồng Hới
chủ yếu cho Ban quản lý dự án tỉnh của Dự án Khu vực PNKB. Nhóm đã nhận được các phản 6
Đợt nghiên cứu “Giới, đói nghèo và dân tộc thiểu số và sinh kế tại các xã vùng đệm VQG PNKB” (2011)
do bà Rita Gebert và ông Trang Hiếu Tường thực hiện trong năm 2011. Phần lớn các số liệu trong đợt
nghiên cứu này vẫn phù hợp với tình hình hiện tại; một số bảng biểu từ báo cáo này được trình bày tại
Phụ lục 3 của báo cáo này.
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
5
hồi hữu ích từ phía các thành viên tham gia cuộc họp nói trên và những ý kiến này cũng được
phản ánh trong báo cáo này.
1.3 Thông tin cơ sở về các vấn đề đảm bảo an toàn trong REDD+
và môi trường
7
;
6. Các hành động giải quyết các nguy cơ đảo ngược;
7. Các hành động giảm trừ về chuyển dịch địa phương phát thải khí nhà kính (sang các khu vực
khác, các quốc gia khác).
Ngoài việc cần tiến hành giám sát, báo cáo và kiểm chứng (MRV) để theo dõi các thay đổi liên
quan đến trữ lượng carbon rừng, các quốc gia đang phát triển cũng được yêu cầu theo Đoạn 71
cung cấp thông tin về thực hiện các yếu tố đảm bảo an toàn: “Một hệ thống cung cấp thông tin
về cách giải quyết và tôn trọng các yếu tố đảm bảo an toàn được đề cập đến theo Phụ lục I của
Quyết định này trong quá trình thực hiện các hoạt động được đề cập đến trong Đoạn 70.”
Tại Hội nghị COP 17 được tổ chức tại Durban vào năm 2011, COP tái khẳng định tầm quan
trọng của các vấn đề về đảm bảo an toàn với Quyết định 12/CP.17 hướng dẫn về việc làm thế
nào để cung cấp thông tin chứng minh rằng tất cả các vấn đề về đảm bảo an toàn đang được
giải quyết và tôn trọng. Sau đây là một số trong những điểm nói rõ về việc cung cấp thông tin:
Cung cấp thông tin minh bạch và nhất quán và tất cả các bên liên quan có thể tiếp cận và
cập nhật một cách thường xuyên; 7
Miêu tả vế yếu tố đảm bảo an toàn này có một ghi chú bổ sung: Xem xét nhu cầu sinh kế bền vững của
người dân bản địa và cộng đồng địa phương và sự phụ thuộc lẫn nhau của họ đối với rừng tại hầu hết các
quốc gia, như đã được phản ánh trong Tuyên bố Liên hiệp quốc về quyền của người dân bản địa
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
6
Minh bạch và linh hoạt cho phép cải thiện và điều chỉnh theo thời gian;
Cung cấp thông tin về việc tất cả các vấn đề về đảm bảo an toàn được đề cập trong Phụ
đề cập thoáng qua. Tiểu nhóm công tác kỹ thuật về các biện pháp đảm bảo an toàn (STWG-SG)
chỉ mới được thành lập vào đầu năm 2012 và vẫn chưa tổ chức được nhiều cuộc họp hoặc đạt
được các tiến bộ đáng kể.
9
Trong quá trình UN-REDD tiến hành thí điểm tại tỉnh Lâm Đồng (giai
đoạn I kết thúc vào năm 2012, giai đoạn II với nhiều tỉnh thí điểm hơn dự kiến sẽ bắt đầu trong
năm 2013), quá trình tham vấn cộng đồng theo nguyên tắc tự nguyện, báo trước và được cung
cấp thông tin (nguyên tắc FPIC) đã được áp dụng thực hiện nhưng được coi là không thành
công bởi vì một số lý do, một trong số các nguyên nhân chính là nguyên tắc FPIC đã được thực
hiện quá sớm trong điều kiện chỉ mới tiến hành quá trình thí điểm tổng thể về REDD+.
10
2. Khung pháp lý và chính sách liên quan đến Các tiêu
chuẩn bảo đảm an toàn về REDD+
Việt Nam có một bộ khung pháp lý và chính sách toàn diện và được xây dựng kỹ càng bao quát
nhiều vấn đề có liên quan đến việc thực hiện REDD+. Bộ khung này dựa trên một hệ thống cấp 8
Xem các kiến nghị của Cơ quan tư vấn khoa học, kỹ thuật và công nghệ cho Công ước về Đa dạng sinh
học, phiên họp16 XVI/7 tại www.cbd.int/recommendation/sbstta/?id=13056
9
Xem www.vietnam-redd.org về các thông tin cập nhật. Kế hoạch đó là thiết lập lộ trình về các biện pháp
đảm bảo an toàn thực thi REDD+.
10
Xem ví dụ về báo cáo UN-REDD (2012) “Bài học kinh nghiệm: Giai đoạn I Chương trình UN-REDD Việt
Nam”; xem báo cáo của Nguyễn và đồng sự (2010) “Đánh giá và kiểm chứng quy trình tham vấn đồng
Tham chiếu nhiệm vụ của đợt tư vấn này đòi hỏi có phần phân tích “pháp luật quốc gia, các
chính sách, quy định và chiến lược liên quan đến người bản địa hoặc người dân tộc thiểu số,
việc sử dụng và sở hữu đất đai, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng, các quá
trình có sự tham gia và tham vấn (ví dụ như luật về rừng, các chính sách về sử dụng và sở hữu
đất, kế hoạch quản lý rừng và đất đai, quy trình tham vấn có sự tham gia).” Với việc có hàng
trăm văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực sử dụng đất và rừng, và phần nhiều các văn bản đó
được ban hành trong vòng 05 năm trở lại đây, Tư vấn trong một khoảng thời gian có hạn không
thể tiến hành phân tích sâu mà chỉ có thể đưa ra một phần phân tích tổng quan. Phần dưới đây
nêu lên các chính sách về dân tộc thiểu số.
2.1 Các khung pháp lý về rừng và đất rừng
Việc có một hệ thống toàn diện tất cả các luật, các nghị quyết, các nghị định, các quyết định, các
thông tư và các văn bản hướng dẫn liên quan đến ngành lâm nghiệp là rất đáng khen ngợi và
cho thấy sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảo các khung chính sách và
pháp lý phù hợp đối với việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc có một số
lượng lớn các văn bản nói trên cũng đồng nghĩa với việc đôi khi giữa các văn bản pháp lý không
có sự cố kết, bởi vì các sắc lệnh và các văn bản điều chỉnh luật được các cơ quan cấp bộ và cấp
sở khác nhau ban hành. Ngoài ra, tất cả các quyết định hướng đến các cộng đồng cấp xã phải
được phân tích và thực hiện bởi một số ít cán bộ cấp xã trong điều kiện họ không được trang bị
thông tin một cách đầy đủ. Ví dụ, tại Quảng Bình, mặc dù là một trong những tỉnh có độ che phủ
rừng cao nhất Việt Nam, song tại cấp xã không có cán bộ chuyên trách về lâm nghiệp.
Có xu hướng diễn ra tình trạng “quản lý quá mức” trong các lĩnh vực đất đai và rừng tại Việt
Nam với nhiều điều chồng chéo và/hoặc nhiều điều trái ngược có thể gây ra sự nhầm lẫn và để
lại quá nhiều khoảng trống trong việc diễn giải các văn bản pháp lý có liên quan. Ví dụ, Luật Đất
đai 2003 theo dự kiến sẽ được điều chỉnh trong năm 2013 - Phản hồi của Quốc hội Việt Nam về
vấn đề này cho biết có một số vấn đề cần có các giải pháp cấp bách: Ông Nguyễn Văn Giàu -
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho biết có có quá nhiều sự mâu thuẫn, không ổn định
Có lẽ về khía cạnh pháp lý, điều quan trọng nhất đó là quyền sở hữu thực tế của tất cả các diện
tích rừng vẫn chính thức thuộc về toàn dân Việt Nam và được đại diện bởi Nhà nước Việt Nam.
Nhà nước thay mặt nhân dân quản lý đất và là người ra quyết định cuối cùng về việc phân loại,
rà soát lại và giao đất giao rừng theo quy định được nêu tại các văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau. Như vậy, khi nói đến “các chủ rừng", điều này có nghĩa là chúng ta đang nói đến
những người đã được giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp, thường là trong một khoảng thời gian
là 50 năm. Nếu đối tượng được giao đất lâm nghiệp là hộ gia đình, thì diện tích đất lâm nghiệp
mà hộ gia đình đó được giao tối đa là 30 ha (về cơ bản, nếu hộ gia đình không có đất nông
nghiệp). Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có tài liệu nào hướng dẫn về việc xác định số đất lâm nghiệp
có thể sẽ được giao cho cộng đồng. Cuối cùng, Nhà nước có thể thu hồi lại đất rừng nếu nó
không được sử dụng phù hợp với kế hoạch sử dụng đất và rừng của xã và huyện. Việc này sẽ là
vấn đề đặc biệt khó khăn trong trường hợp tập quán sử dụng đất của các đồng bào dân tộc thiểu
số sẽ ảnh hưởng đến các hình thức sử dụng đất khác nhau thay vì các hình thức được ghi nhận
trong các tài liệu pháp lý khác nhau về bảo vệ và phát triển rừng (ví dụ: xác định các khu vực
cộng đồng bỏ hoang phục vụ cho hệ thống canh tác nương rẫy).
14Sự phát triển của các chính sách lâm nghiệp của Việt Nam đã trải qua một quá trình tách ra khỏi
các khu rừng tập trung chịu sự quản lý của nhà nước mà theo đó, đến năm 1989, 70% diện tích
đất rừng đã được quản lý bởi các lâm trường quốc doanh (LTQD). Với Nghị quyết của Bộ Chính
trị số 28-NQ/TW (2003) và Nghị định 200/2004, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện sự sẵn sàng để
cải cách hệ thống các LTQD. Ý tưởng đó là cải cách các LTQD sao cho số lượng và quy mô của
chúng giảm xuống đến mức hiệu quả về mặt kinh tế và từ đó giúp các LTQD sau cải cách sẽ
hoạt động có lợi nhuận. Tốc độ cải cách LTQD diễn ra không giống nhau tại các địa phương, và
Quảng Bình dường như là một tỉnh có số lượng khá lớn các LTQD hiện nay đang kiểm soát các
diện tích đất rừng trên toàn tỉnh. Nhiều vấn đề đã phát sinh gắn với việc cải cách LTQD tại các
địa phương, và một số vấn đề trong đó có thể gây ảnh hưởng đến các biện pháp đảm bảo an
toàn khi thực thi REDD+ (xem phần thảo luận trong đoạn 5.1 dưới đây). Nghị định 23/2006 về thi
hành luật bảo vệ và phát triển rừng vẫn ủng hộ các LTQD khi đề cập đến việc "Những khu rừng
tham gia vào việc ra quyết định và xác định lợi ích của địa phương.
Như đã đề cập ở trên, để ổn định việc quản lý và sử dụng rừng, đất lâm nghiệp có thể được giao
với thời hạn 50 năm dưới hình thức Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hay còn được gọi là
Sổ Đỏ. Hình 2 dưới đây được sao chép từ Nghiên cứu chuẩn bị sẵn sàng về pháp luật thực hiện
REDD+ của IDLO (2011) thể hiện tình hình phân bố đất rừng hiện nay tại Việt Nam. Biểu đồ hình
tròn thể hiện sự khác biệt đối với Quảng Bình, do rất nhiều đất rừng hiện được quản lý bởi các
BQLRPH và BQLRĐD và bởi các LTQD (nay dưới hình thức các công ty trách nhiệm hữu hạn
lâm công nghiệp). Tại thời điểm viết báo cáo này, tác giá không thể có được một cái nhìn tổng
quan về số lượng đất rừng đã được giao cho các hộ gia đình trên địa bàn tỉnh, mặc dù theo ước
đoán con số này chiểm khoảng 75.000 ha trong số tổng số 669.130 ha (bao gồm diện tích đất
trống được phân loại là đất lâm nghiệp).
Luật Bảo vệ và phát triển rừng, cộng với một số quyết định khác (đặc biệt là Quyết định số
178/2001 về công thức chia sẻ lợi ích, Quyết định số 23/2006 về giao đất giao rừng theo Luật
lâm nghiệp năm 2004, Quyết định số 186/2006 về các quy định về quản lý rừng, và gần đây nhất
Quyết định số 99/2010 về chi trả dịch vụ môi trường rừng) quy định các loại lợi ích mà hộ gia
đình và cộng đồng có thể thu được từ các sản phẩm từ rừng và đất rừng. Một lần nữa, các loại
lợi ích cho các cộng đồng vẫn chưa được thể hiện rõ ràng như trong trường hợp của các hộ gia
đình cá nhân. Các yếu tố phức tạp bao gồm việc rừng phục vụ mục đích sản xuất hay phòng hộ,
liệu "chủ rừng" cũng là chủ đầu tư hay không, hoặc liệu Nhà nước đã tham gia hỗ trợ đầu tư
phát triển rừng hay không. Tóm lại, những quy tắc và quy định nói trên quá phức tạp khiến nhiều
người cảm thấy không chắc chắn về các loại quyền sử dụng và lợi ích mà họ có thể nhận được
từ việc quản lý rừng tự nhiên, và do đó người dân chủ yếu quan tâm đến việc trồng rừng ngắn
hạn với các loài cây như keo. Với các loài cây ngắn hạn, họ biết sau đó họ có thể có được các
lợi ích kinh tế rõ ràng trong vòng mười năm dựa trên các khoản đầu tư của mình. Ngoài các lợi
ích chắc chắn từ trồng cây ngắn hạn, không có điều gì chắc chắn về những điều khác.
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
10
có thể thu được các lợi ích từ việc thực hiện REDD+. Như vậy, tương lai của LNCĐ cũng liên
quan trực tiếp đến tương lai của REDD+ ở Việt Nam, nhưng có rất ít các bên liên quan nhìn
nhận việc này theo cách này.
Các mối quan hệ giữa cộng đồng địa phương đối với đất rừng đã bị ảnh hưởng bởi hai chương
trình trồng rừng lớn được thực hiện trong quá khứ: Chương trình 327 được thực hiện trong
những năm 1990 (Quyết định 327 ban hành năm 1992) và Chương trình 661
15
kéo dài từ 1998 15
Còn được biết đến với tên gọi Chương trình trồng 5 triệu ha rừng; Nghị quyết gốc được Quốc hội thông
qua vào tháng 12 năm 1997 (08/1997/QH10); Quyết định đi kèm được ban hành vào tháng 07 năm 1998:
Quyết định 661/QD-TTg. Cần lưu ý, bao gồm nghị quyết gốc, hiện có 07 văn bản pháp lý liên quan đến
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
11
đến 2010 (số hiệu của các chương trình được lấy theo số hiệu của Quyết định có liên quan).
Trong quá trình thực hiện cả hai chương trình được thực hiện trên toàn quốc, người dân địa
phương đã được cung cấp một lượng nhỏ tiền (50.000 đồng/ha/năm theo Chương trình 327, lên
đến 100.000 đồng/ha/năm theo Chương trình 661) để bảo vệ và thậm chí để trồng rừng (việc
trồng rừng thường được thực hiện theo hình thức độc canh dựa trên các hợp đồng với các
LTQD đã nhận được một số lượng lớn ngân sách nhà nước theo các Chương trình 327 hoặc
661). Phụ nữ và đàn ông tại các thôn bản không được xem là những người quản lý rừng hoặc là
các đối tác trong quản lý rừng mà là công nhân lâm nghiệp hợp đồng với một đơn vị quản lý
rừng lớn hơn và được trả tiền công dựa theo quá trình lao động của họ. Sự khác biệt giữa việc
người dân địa phương được giao đất rừng hoặc được cung cấp một hợp đồng quản lý đất rừng
là một điều rất quan trọng gắn với lợi ích về REDD+. Ví dụ, nếu là những đối tượng được ký hợp
đồng để trồng rừng, chỉ nhận được khoản thanh toán cho công lao động của họ từ một chủ rừng
lớn hơn, thì gần như chắc chắc các biện pháp đảm bảo an toàn của REDD+ khó có thể mang lại
chương trình chi trả về REDD+. Ý tưởng, và sự chú ý đến từng chi tiết, liên quan đến việc xây
dựng một hệ thống chia sẻ lợi ích phù hợp đối với Việt Nam là rất ấn tượng. Tuy nhiên, một lần
nữa, xu hướng chung có thể nhận thấy đó là chương trình này quá phức tạp khiến các cộng
đồng địa phương không thể hiểu rõ và đòi hỏi quyền lợi của họ, và các cán bộ xã sẽ khó có thể
giúp đỡ họ trong việc hiểu và áp dụng thực hiện hệ thống chia sẻ lợi ích nói trên!
Với Luật Lâm nghiệp được ban hành năm 2004, kết hợp với các quyết định về chuyển đổi, cải
cách LTQD, điều này có nghĩa là nhiều đất rừng hơn so với trước đây có thể được cho các hộ
gia đình. Ngoài ra, như đã nói, đây là một đạo luật mang tính bước ngoặt cho phép giao đất giao
rừng ở trên cấp hộ gia đình. Việc này về sau chính là cớ sở để ban hành các quyết định, thông chương trình 661, bao gồm 02 văn bản điều chỉnh và 03 thông tư. Điều này cho thấy “thực trạng” quá
phức tạp liên quan đến hệ thống quy định và pháp lý của Việt Nam.
16
Xem báo cáo của Wode và Bảo Huy (2009) Nghiên cứu thực trạng lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam,
trang 11.
17
UN-REDD (2010) Thiết kế hệ thống phân phối lợi ích tuân thủ theo REDD cho Việt Nam. Tuy nhiên,
công việc trong báo cáo này được hoàn thành trước khi các quyết định chủ chốt được đưa ra tại COP 16,
Cancun.
18
Có lẽ có thể dự đoán rằng trước khi các hệ số được áp dụng trên thực tế, mức lợi ích có thể đến được
với hộ gia đình quá nhỏ và do đó mối quan tâm đến bảo vệ rừng cũng sẽ ở mức nhỏ! Xem báo cáo
CIFOR số 75, Bối cảnh REDD+ tại Việt Nam: Nguyên nhân, tác nhân và các tổ chức (2012: 17 – 19).
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
12
tư mới mô tả một cách khác nhau về việc đất rừng nên được phân bổ và giao như thế nào. Một
quyết định quan trọng đã được ban hành đó là Quyết định 38/2007/QĐ-TTg về sắp xếp hành
chính đối với giao đất giao rừng. Có lẽ Thông tư 38 có thể được dùng như là một ví dụ điển hình
các quyền mà họ được phép khẳng định. Hơn nữa, mặc dù các dòng ngân sách đã được xác
định ở cấp quốc gia trông có vẻ ấn tượng (ví dụ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng được thiết lập
với 100 tỉ đồng), nhưng đến lúc các dòng ngân sách này được phân bổ về đến các cấp địa
phương, số tiền còn lại quá ít không đủ khả năng khuyến khích, thúc đẩy người dân “bảo vệ và
phát triển” rừng. Do đó, có rất nhiều khoảng trống lớn cần được lấp đầy nhằm khiến cho khung
pháp lý thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn REDD+ mang tính hỗ trợ hơn đối với những
người thực hiện ở các cấp thực hiện. Một vấn đề quan trọng nhất ở đây đó là vấn đề quyền sử
dụng đất rừng, bao gồm việc làm thế nào để đảm bảo rằng các cộng đồng được xác nhận là một
thực thể pháp lý, làm thế nào để tránh việc bị bỏ sang một bên dưới hình thức hợp đồng giao
khoán đất rừng, và làm thế nào để đảm bảo rằng các cộng đồng dân tộc thiểu số không tiếp tục
bị tách ra khỏi các khu vực đất rừng truyền thống của họ (xem phần 2.2 dưới đây).
Cuối cùng, hàng loạt các tài liệu pháp lý chi tiết về quản lý rừng hiện không tạo ra sự minh bạch
trong quản trị rừng - thay vào đó, cho phép sự không minh bạch xảy ra, bởi vì các tài liệu pháp lý
này cho phép các cán bộ ở các cấp khác nhau diễn giải các tài liệu pháp lý một cách tự do theo
cách hiểu riêng của từng người. Mặc dù đã có quyết định về chuyển đổi cải cách các LTQD,
song hiện không có cơ sở pháp lý nào ngăn cản các LTQD, khi thực hiện REDD+, tiếp tục kiểm
soát các khu vực đất rừng lớn nhất và có chất lượng tốt nhất (bao gồm đất trồng rừng) hoặc thu
được các lợi ích không đồng đều thông qua các hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng. Hiện đã có
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
13
nhiều tiếng nói lo ngại rằng các LTQD sẽ có thể sử dụng REDD+ như là một phương tiện để
kiện toàn, thay vì từ bỏ, việc quản lý các khu vực rừng sản xuất tốt nhất của Việt Nam.
192.2 Khung chính sách và pháp lý về dân tộc thiểu số và việc áp
dụng thực hiện
Về mặt Hiến pháp (Hiến pháp 1992, được sửa đổi năm 2001), Việt Nam được công nhận là một
ILPO - 19 công ước trong tổng số 177 công ước.
21Công ước về đa dạng sinh học có một điều khoản chính nhấn mạnh về người dân bản địa - 8(j)
đề cập đến việc: tôn trọng, bảo tồn và duy trì kiến thức, các cải tiến và các tập tục của người dân
bản địa và các cộng đồng địa phương có các lối sống truyền thống phù hợp với công tác bảo tồn
và sử dụng bên vững đa dạng sinh học và khuyến khích việc áp dụng rộng rãi hơn với sự chấp
thuận và tham gia của những người là chủ sở hữu các kiến thức, các cải tiến và các tập tục nói
trên và khuyến khích việc chia sẻ công bằng các lợi ích phát sinh từ việc sử dụng kiến thức, các
cải tiến và các tập tục nói trên. Điều khoản này cũng được đề cập lại trong các nội dung liên
quan đến các biện pháp đảm bảo an toàn thực hiện REDD+.
Việt Nam là một trong 144 quốc gia bỏ phiếu phê chuẩn Tuyên bố về Quyền của người dân bản
địa của tổ chức Liên Hợp Quốc (UNDRIP) tại phiên họp của Hội đồng LHQ vào tháng 09 năm
2007. UNDRIP tuy là một tuyên bố của LHQ song không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý. 19
Về một tài liệu chung đề cập đến các rủi ro của việc tái tập trung quản trị rừng theo REDD+, xem tài liệu
của Phelps và đồng sự (2010) “Liệu REDD+ có đe dọa đến việc tái tập trung quản trị rừng hay không?”
Tạp chí Khoa học, Số 328, 16/4/2010.
20
Hiến pháp Việt Nam, Điều 5.
21
Nhìn chung, các nước ASEAN đang tụt lại phía sau so với các tiêu chuẩn quy định của Công ước ILO,
do vậy, Việt Nam không “tụt lại sau” so với các quốc gia láng giềng.
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
14
Tuy nhiên, nhiều bên có thể tranh luận rằng nội dung của Tuyên bố này tập trung vào người dân
Thực tế là hàng ngàn hecta đất rừng ở Việt Nam có thể trước đây thuộc quyền sở hữu và quản
lý truyền thống hoặc theo tập tục phong tục của các dân tộc thiểu số song không được thừa
nhận, ngoại trừ một số vấn đề được đề cập rải rác trong các văn bản quy phạm pháp luật.
23
Ví
dụ, Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 đề cập rằng "Các hộ gia đình, cộng
đồng dân cư thôn bản được giao, thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng trồng, đất lâm
nghiệp và một số khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quy mô nhỏ, phân tán, đã gắn bó lâu đời
với các cộng đồng dân cư, theo quy định của pháp luật.“ Tuy nhiên, đồng thời, trên thực tế hiện
vẫn chưa có sự công nhận đối với các hoạt động quản lý rừng truyền thống. Tất nhiên, điều này
sẽ có ý nghĩa lớn đối với các biện pháp đảm bảo an toàn thực thi REDD+ và mức độ người dân
tộc thiểu số sống phụ thuộc vào rừng có thể được hưởng lợi từ REDD+ nếu tình trạng đặc biệt
của họ không được hiến pháp và pháp luật công nhận.
Trên thực tế, dù đã có nhiều chính sách khác nhau hướng tới việc hỗ trợ đồng bào người dân
tộc thiểu số, vẫn có nhiều điều cần phải quan tâm liên quan đến các ghi nhận về quyền của
người dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Phản ứng của Ủy ban xóa bỏ phân biệt chủng tộc (CERD)
tại Phiên họp thứ 80 được tổ chức vào tháng 03 năm 2012 đối với Báo cáo Quốc gia của Việt
Nam cho thấy nhiều điểm quan ngại hơn là những lời khen ngợi. Các mối quan ngại mà Ủy ban
đưa ra phù hợp với các vấn đề đảm bảo an toàn thực thi REDD+
24
bao gồm những quan ngại
sau đây:
22
Xem báo cáo của Luong Thi Truong và Orlando M. Genotiva (2011). Công nhận quyền sử dụng đất theo
tập tục của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam và tại Philippines.
23
dân tộc thiểu số. (Điều 7).
Điều này chỉ ra, cùng với những khó khăn khác, những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình cố
gắng thiết lập phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân nếu các quan chức chính
phủ người Kinh không tôn trọng những người mà họ đang làm việc cùng.
Một báo cáo viên độc lập về tình hình nhân quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cô Gay
McDougall, đã cung cấp một báo cáo cho Hội đồng Nhân quyền Đại hội đồng LHQ phiên họp
XVI vào tháng 01/2011.
25
Trong đó, trong khi khen ngợi những nỗ lực rất tích cực của Chính phủ
Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề nghèo đói của các dân tộc thiểu số, cô cũng bày tỏ các
mối quan ngại nghiêm trọng cần phải được giải quyết nếu các biện pháp đảm bảo an toàn thực
thi REDD+ cần phải được tôn trọng và thực hiện tại Việt Nam. Trong số những vấn đề được đưa
ra, cô đặt ra vấn đề về việc người dân tộc thiểu số bị từ chối tiếp cận sử dụng đất rừng (Đoạn
31). Cô đề cập đến thái độ phân biệt đối xử và kỳ thị liên tục của cả chính phủ và các cơ quan
đoàn thể đối với người dân tộc thiểu số (Các đoạn 14 - 16). Những vấn đề này chắc chắn dẫn
đến sự quan tâm sau đây (Đoạn 84):. . . các mối tương tác với các cộng đồng thiểu số có đặc
điểm là thường xuyên được áp dụng theo các phương pháp tiếp cận từ trên xuống, không hoàn
toàn phù hợp với các nguyên tắc tham vấn tự nguyện, báo trước và được cung cấp thông tin và
có sự đồng thuận của các cộng đồng bị ảnh hưởng.
Việc người dân bản địa/dân tộc thiểu số ở Việt Nam có mức độ nghèo sâu sắc hơn nhiều so với
người Kinh đã được đề cập đến nhiều lần bởi các học giả, các tổ chức ODA, các tổ chức xã hội
dân sự (CSO), các nguồn tin khác nhau của Chính phủ Việt Nam và Ủy ban xóa bỏ phân biệt
chùng tộc - CERD trong phản ứng mới nhất của Ủy ban này đối với Báo cáo Quốc gia của Việt
Nam. Trong quá trình tạo ra các cơ chế chính sách hướng đến việc thuyết phục người dân tộc
thiểu số chuyển đổi sang "lối sống và sinh kế của người Kinh", các chính sách của Chính phủ
chưa bao giờ công nhận đầy đủ những khó khăn kinh tế-xã hội và chính trị có ảnh hưởng đến
các nhóm dân tộc thiểu số ở mức độ cấu trúc. Một giả định đơn giản và cơ bản của các chính
đổi đất canh tác nương rẫy sang các mục đích khác. Như vậy, Chính phủ Việt Nam đã duy trì
chính sách hạn chế nhất quán đối với đời sống dân tộc thiểu số trong nhiều thập kỷ. Chính sách
như vậy rõ ràng là không phù hợp với các biện pháp đảm bảo an toàn thực thi REDD+. Du canh
vẫn đang được thực hiện tại Việt Nam, bao gồm cả Quảng Bình. Tuy nhiên, với nhiều hạn chế
áp đặt, tập tục này đang mất đi khả năng tồn tại của nó một cách nhanh chóng, trong khi việc
thiếu các lựa chọn thay thế sẽ dẫn đến việc khoảng cách kinh tế-xã hội giữa người Kinh và
người dân tộc thiểu số sẽ tiếp tục tăng lên.
Người dân tộc thiểu số được khuyến khích di chuyển từ các địa điểm miền núi xa xôi đến các địa
điểm thấp hơn và ven đường, và bản của họ cũng được sáp nhập vào các thôn làng lớn, nơi tài
nguyên đất nông nghiệp và đất rừng có thể không đủ để hỗ trợ người dân. Trong khi mọi người
nói chung đang hài lòng với sự tiện lợi của việc các địa điểm mới ít xa xôi cách trở hơn, trong đó
khả năng tiếp nhận các dịch vụ giáo dục và y tế tốt hơn, song điều này không có nghĩa là các lựa
chọn sinh kế của họ được cải thiện nhiều. Việc các hộ gia đình trong khu vực miền núi tự di
chuyển không được khuyến khích mạnh mẽ hoặc được coi là bất hợp pháp do người dân tộc
thiểu số bị phủ nhận không được tiếp cận với các khu vực đất rừng truyền thống. Về việc ban
hành quyền sử dụng đất, gia đình dân tộc thiểu số thường không nhận được Sổ Đỏ đất nông
nghiệp đối với đất được sử dụng trong hệ thống đất bỏ hoang quay vòng vì những khu vực này
được coi là đất lâm nghiệp. Bởi vì các khu vực này thường đươc quan lý chung theo cộng đồng,
nên việc giao đất giao rừng cho các cá nhân và hộ gia đình sẽ không thể hiện được các ý nghĩa
vốn có và sẽ phải có các khu vực lớn hơn được áp dụng QLRCĐ. Trong trường hợp xấu nhất,
thậm chí đất rừng được gọi là "đất chưa sử dụng" có thể sẽ được giao cho bất kỳ các đơn vị đủ
điều kiện để nhận được đất rừng. Như đã đề cập, các nhóm dân tộc thiểu số ở các vùng miền
của Việt Nam đã bị giảm trừ khả năng tiếp cận những vùng đất truyền thống của họ mà không
được tham khảo ý kiến trước.
27
Như vậy, việc thực hiện nguyên tắc đồng thuận miễn phí, được
báo trước và được cung cấp thông tin (nguyên tắc FPIC) vẫn còn nhiều điều phải làm, và sẽ cần
phải có sự tham gia của các tổ chức dân sự độc lập (bên cạnh các tổ chức đoàn thể) để hỗ trợ
- Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Một nghị định chung tái khẳng định sự hỗ trợ đặc biệt đối
với các nhóm và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, cho phép họ duy trì các bản sắc văn hóa phù hợp với
các định nghĩa của Nhà nước và của Đảng, và những nội dung khác. (Không chắc có Thông tư hướng
dẫn thực hiện hay không).
- Chương trình 30a (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP). Hỗ trợ ngân sách cho 62 huyện được coi là nghèo nhất
Việt Nam, trong đó có huyện Minh Hóa, Quảng Bình. Chương trình này dự kiến được thực hiện từ 2011-
2020. Ví dụ, các quỹ được sử dụng cho đến nay tại Minh Hóa được tập trung cho các hạng mục như cơ
sở hạ tầng xã (cải thiện đường xá).
- Chương trình 33 ("Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc định canh định cư (đối với các xã được lựa chọn
theo chương trình 135, từ 2008-2012"): để hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số có nơi ở ổn định, phát triển
sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, góp phần bảo vệ rừng và môi trường sinh thái và giữ gìn an ninh chính trị
và trật tự xã hội (chính sách định canh định cư).
- Chỉ thị số 36/2000/CT-BNN-KL của Bộ NN&PTNT, ngày 06/04/2000 về việc quy vùng sản xuất nương
rẫy nơi người dân có truyền thống canh tác nương rẫy, cho phép “quy vùng” làm nương rẫy cố định với
diện tích đất từ 1 - 2 ha cho mỗi hộ gia đình. Do đó, đốt rừng làm nương rẫy bền ngoài khu vực “đã được
quy vùng” là một hành động trái pháp luật.
- Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLTBNN-BTC, ngày 14/4/2008 hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân
tộc thiểu só tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy; dự kiến dùng ngân sách thuộc Chương trình
661 (đến năm 2010).
- Quyết định 52/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao
nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện nghèo giai đoạn
2011 - 2020.
- Chương trình 134 (được kéo dài đến 2010 theo Quyết định số 1592): bao gồm việc giao đất nông nghiệp
cho người dân tộc thiểu số, kể cả vì mục đích cải tạo đất; chuyển đổi đất rừng nghèo sang mục đích nông
nghiệp; hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà; cung cấp đất làm nhà ở và xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt.
- Chương trình 135 (cho một số xã được chọn, Giai đoạn II chính thức kết thúc năm 2010): Bao gồm một
ngân sách đặc biệt lớn để xây dựng các hạng mục cơ sở hạ tầng khác nhau tại các xã có "hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn", mặc dù điều này xét theo định nghĩa sẽ bao gồm các khu vực biên giới và các xã "anh hùng".
Hầu hết các xã được công bố theo Chương trình 135 (164/2006/QD-TTg) là những xã có tỷ lệ dân tộc thiểu
số cao hơn (bao gồm hầu hết các xã vùng đệm/vùng lõi cảu VQG PNKB).
Vì vậy, để tuân thủ các yếu tố đảm bảo an toàn thực thi REDD+, các chính sách và các chương
trình của Việt Nam đối với người dân tộc thiểu số sẽ đòi hỏi phải có bước chuyển rõ rệt. Như sẽ
được thảo luận dưới đây, một cách để tạo sự thay đổi nói trên đó là phải giao đất lâm nghiệp
nhiều hơn nữa cho toàn bộ cộng đồng thực thiện các hoạt động QLRCĐ, và sau đó hỗ trợ họ
một cách đầy đủ để tối ưu hóa lợi ích cho cả bản thân các cộng đồng nói trên và môi trường tự
nhiên. Việc thực hiện REDD+ và các biện pháp đảm bảo an toàn của nó sẽ không mang lại sự
thay đổi theo yêu cầu, song nếu thực hiện REDD+ một cách nghiêm túc - với việc cung cấp
thông tin minh bạch và đáng tin cậy cho cộng đồng quốc tế, điều này có thể có khả năng góp
phần nâng cao quyền lợi của người dân tộc thiểu số phụ thuộc vào rừng trong cả nước 3. Tổng quan về tình hình sinh kế và đói nghèo tại khu vực
vùng đệm VQG PNKB
29Các xã vùng đệm của VQG PNKB chủ yếu là các xã nông thôn, và các phương án sinh kế của
địa phương chủ yếu là nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động liên quan đến rừng (phần
thảo luận chỉ tiết ở Chương 4), đi làm thuê cho các hộ gia đình khá giả hơn hoặc cho các Lâm
trường quốc doanh, hoặc đi ra các tỉnh khác để tìm việc (trường hợp này thường xảy ra với các
khu vực người Kinh). Người lao động di cư tại các xã vùng đệm thường không được đào tạo và
thiếu các kỹ năng để tìm được công việc phi nông nghiệp phù hợp, trong khi người dân tộc thiểu
số ít khi dám rời khỏi làng bản để tìm kiếm cơ hội việc làm ở nơi khác. Trong khi tình hình mỗi xã
có thể khác nhau, đa số người dân các xã vùng đệm phải chịu cảnh sinh kế không đảm bảo và
thiếu nghiêm trọng đất phục vụ mục đích sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp hiện
có trong khu vực là khá nhỏ, khiến người dân không có cơ hội thử nghiệm các loài giống mới
hoặc tìm kiếm các loài giống thay thế.
Đối với các nhóm đồng bào người dân tộc thiểu số tại vùng đệm là những người chủ yếu sống
dựa vào phương thức du canh du cư, việc thiếu đất canh tác là do các tác động của các chính
xã Trường Sơn (Quảng Ninh) và các xã của các huyện Bố Trạch và Minh Hóa cấp phát gạo với
số lượng tùy thuộc vào ngân sách hiện có của các xã nói trên.
Mặc dù có các khu vực đất đai nhỏ trong vùng đệm, song người dân ở đây đang dần dần
chuyển từ tự cung tự cấp sang ngày càng nhiều hơn hình thức trang trại định hướng thị trường.
Nhiều nông dân người Kinh hơn so với người dân tộc thiểu số định hướng các hoạt động sản
xuất theo thị trường. Sổ Đỏ quyền sử dụng đất được cấp cho đất nông nghiệp, nhưng chỉ dành
cho các khu vực "định canh định cư," và do đó chưa được cấp cho các khu vực canh tác nương
rẫy. Sổ Đỏ đất rừng cũng được ban hành trên cơ sở hộ gia đình đối với rừng sản xuất. Các khu
đất rừng được giao thường khá nhỏ (1-2 ha trong những năm gần đây), và hầu hết các hộ gia
đình ngay lập tức muốn trồng cây keo trên đất rừng vì họ xem đó là một phương thức chắc chắn
và tương đối nhanh chóng giúp họ kiếm được một số thu nhập từ các hoạt động dựa vào đất.
Việc giao đất nông nghiệp (đối với trồng trọt hàng năm) đã chấm dứt tại các huyện mà nhóm đã
đến làm việc. Ngoại lệ duy nhất cho điều này đó là việc giao đất rừng, phần nào đó giải thích sự
nhiệt tình cao của cộng đồng địa phương trong việc giao đất giao rừng.
Vùng đệm bị hạn chế hoặc không tiến hành trồng lúa nước và điều kiện thủy lợi hạn chế, do đó,
những thôn bản trồng lúa hai vụ nhìn chung sẽ có điều kiện kinh tế tốt hơn so với các thôn bản
có các khu vực trồng lúa song không có hệ thống tưới tiêu hoặc thậm chí sử dụng nước trời.
31
Nhóm đã đến thăm sáu trong số các xã vùng đệm và thấy rằng nguyên nhân của nhiều vấn đề
kinh tế và môi trường khác chắc chắn là do thiếu đất sản xuất nông nghiệp. Tại sáu xã nhóm đã
đến thăm trong năm 2011 và 2012, chỉ có một số ít thon bản thực sự có đất trồng lúa, và do đó
chỉ có một số ít hộ gia đình được tiếp cận với diện tích đất trồng lúa này. Hơn nữa, tại các thôn
bản của các xã Hưng Trạch, Xuân Trạch và Trường Sơn, một số siện tích đất nông nghiệp ở
vùng thấp đã bị mất do lũ quét và sạt lở bờ sông. Tình trạng lũ lụt và xói mòn được quy cho các
hoạt động quản lý đất rừng kém hiệu quả của các LTQD, trong đó có nạn phá rừng và suy thoái
rừng ở khu vực đầu nguồn.
2015 được ấn định ở mức 400.000 đồng/người/tháng (tăng lên so với mức 200.000 đồng giai đoạn trước
đó). Mức nghèo cho hộ “cận nghèo” khu vực nông thôn là 401.000 – 520.000.
33
Đây là số liệu năm 2011, Sở LĐ-TB-XH không thể cung cấp số liệu 2012 tại thời điểm viết báo cáo này.
REDD+ Safeguards in Quang Binh: Frameworks and Gaps
20
Bảng 1: Số hộ nghèo và cận nghèo tại vùng đệm và vùng lõi, 2011
34Huyện
Xã
Tổng số
hộ gia đình
(Số hộ)
Hộ nghèo
(Số hộ)
Hộ
nghèo
(%)
Hộ cận
nghèo
(Số hộ)
Hộ cận
nghèo
(%)
Minh Hóa
Trung Hóa
1,224
710
75
559
15
Tổng các xã huyện Minh Hóa
11,129
7,283
65
1,895
17
Bố Trạch
Hưng Trạch
2,725
776
28
469
17
Phúc Trạch
2,498
1,709
68
528
21
Sơn Trạch
2,549
852
33
400
16
Tân Trạch
64
9,241
22
4,505
11
Vùng đệm
Quảng Ninh
Trường Sơn
911
481
53
0
0
Tổng các xã huyện Quảng Ninh
22,523
5,435
24
5,068
23
Tổng các xã vùng đệm
14,852
8,042
54
2,234
15
Ghi chú: Nguồn: Sở LĐ-TB-XH. Tỉ lệ phần trăm được làm tròn lên hoặc xuống (số liệu gốc có số thập phần
02 chữ số). Số liệu về dân số là số liệu tháng 01 năm 2011, không phải là số liệu thống kê chính thức.
Các xã được bôi xám cho biết các xã này có hơn 50% dân số là người dân tộc thiểu số.
Hiện tại, có 62 huyện nghèo thuộc 20 tỉnh của Việt Nam được nhận các nguồn quỹ hỗ trợ giảm
và lý do thiếu đất nông nghiệp chính là lý do chính dẫn đến thực tế này. Họ cũng chỉ ra rằng việc
thiếu đất nông nghiệp không chỉ là do địa hình của xã, mà còn vì lý do quá nhiều đất đai hiện
được quản lý bởi các LTQD (Trường Sơn và Khe Giữa). 4. Tầm quan trọng của rừng và đất rừng đối với sinh kế
của người dân địa phương
Nghiên cứu này là một nghiên cứu mang tính định tính. Do đó, rất khó để cung cấp thông tin
chính xác về ví dụ như tỷ lệ phần trăm của gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) trong việc xác định
các hoạt động sinh kế tổng thể của người dân. Điều này đòi hỏi các cuộc phỏng vấn hộ gia đình
có chiều sâu và kéo dài với số lượng mẫu lớn các hộ gia đình tham gia (từ các tầng lớp kinh tế
và nhân khẩu học khác nhau trong thôn), với các nhóm người dân tộc và các khu vực khác nhau
và mất nhiều thời gian hơn so với thời gian được bố trí để thực hiện đợt tư vấn này. Chúng tôi
cũng nhận ra từ các cuộc điều tra thực hiện trong năm trước đó và trong năm nay rằng có sự
biến động hàng tháng và hàng năm liên quan đến các hoạt động sinh kế cụ thể của người dân
khiến họ khó có thể nêu một cách chính xác bao nhiêu phần trăm sinh kế của họ dựa trên những
nguồn gì.
35
Ví dụ, nếu người dân đã thu thập và bán cây mây bảy hay tám tháng trước đây
nhưng từ đó trở lại đây họ không thu thập và bán cây mây nữa thì họ sẽ không đưa thông tin vào
trong phần đánh giá sinh kế của họ (nếu như câu hỏi đặt ra liên quan đến sinh kế trong vòng 06
tháng trở lại đây). Vì vậy, nhóm tư vấn chủ yếu trình bày các thông tin theo xu hướng chứ không
theo các con số tuyệt đối khi thể hiện các vấn đề về sinh kế của các cộng đồng địa phương. Tuy
nhiên, chúng tôi cũng cố gắng ước tính việc sử dụng gỗ tại các địa phương. (Xem thêm các bản
ghi thực địa được nêu tại Phụ lục 06 cung cấp một số chi tiết về việc sử dụng gỗ)
Vấn đề về việc sinh kế của người dân địa phương phụ thuộc trực tiếp vào các khu vực có rừng
đến mức độ nào đã được đặt ra trong đợt nghiên cứu sinh kế tại vùng đệm VQG PNKB được tổ
chức năm ngoái. Trong năm nay, nhóm đã xem xét vấn đề này một lần nữa và thấy rằng không