động cơ chọn nghề của học sinh lớp 12 tại một số trường ở tp. hồ chí minh - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Minh Duy ĐỘNG CƠ CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH LỚP
12 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG Ở TP. HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ THU MAI

viên và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn. LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu
nào khác.
Tác giả
Ngô Minh Duy
2T1.2.3.Sự hình thành động cơ chọn nghề ở học sinh lớp 122T 129
2T1.2.3.1.Khái niệm động cơ chọn nghề2T 129
2T1.2.3.2.Sự hình thành động cơ chọn nghề2T 129
2T1.2.3.3.Phân loại động cơ chọn nghề2T 130
2T1.2.3.4.Những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ chọn nghề2T 131
2T1.2.4.Đặc điểm tâm lý của học sinh Trung học phổ thông2T 132
2T1.2.4.1.Sự phát triển về thể chất2T 132
2T1.2.4.2.Điều kiện xã hội của sự phát triển2T 133
2T1.2.4.3.Đặc điểm về hoạt động học tập2T 133
2T1.2.4.4.Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ2T 133
2T1.2.4.5.Sự phát triển của tự ý thức2T 134
2T1.2.4.6.Sự hình thành thế giới quan2T 135
2T1.2.4.7.Giao tiếp2T 135
2T1.2.4.8.Đời sống tình cảm2T 135
2T1.2.4.9.Hoạt động lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinh THPT2T 135
2TChương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ĐỘNG CƠ CHỌN NGHẾ CỦA HỌC
SINH LỚP 12 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG Ở TP. HỒ CHÍ MINH
2T 138
2T2.1.Tổ chức nghiên cứu thực trạng2T 138
2T2.1.1.Mẫu nghiên cứu2T 138
2T2.1.2.Mô tả công cụ đo lường2T 139
2T2.1.3.Cách thu thập số liệu và thời gian thực hiện2T 141
2T2.1.3.1. Cách thu thập số liệu2T 141
2T2.1.3.2.Thời gian thực hiện2T 141
2T2.1.4.Cách xử lý số liệu2T 142
2T2.2.Thực trạng động cơ chọn nghề của học sinh lớp 12 tại một số trường ở Tp. Hồ Chí Minh2T 142
2TChương 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐỘNG CƠ CHỌN NGHỀ CHO HỌC SINH2T
165
2T3.1.Tổ chức nghiên cứu biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học sinh2T 165
2T3.2.Những biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học sinh2T 165

1
Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu số 1
41
2
Bảng 2.2: Đặc điểm mẫu nghiên cứu số 2
42
3
Bảng 2.3: Đặc điểm mẫu nghiên cứu số 3
42
4
Bảng 2.4: Đặc điểm mẫu nghiên cứu số 4
43
5
Bảng 2.5: Động cơ chọn nghề của học sinh
48
6
Bảng 2.6: Động cơ chọn nghề của học sinh theo quan điểm của giáo viên
51
7
Bảng 2.7: So sánh động cơ chọn nghề theo giới tính
52
8
Bảng 2.8: Sự khác biệt có ý nghĩa về động cơ chọn nghề theo giới tính
53
9
Bảng 2.9: So sánh động cơ chọn nghề theo loại hình trường
55
10
Bảng 2.10: Sự khác biệt có ý nghĩa về động cơ chọn nghề theo loại hình trường
56

20
Bảng 3.1: Những biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học sinh
78
21
Bảng 3.2: Ý kiến của giáo viên về những biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề
cho học sinh
79
22
Bảng 3.3: Mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học
sinh
81
23
Bảng 3.4: Ý kiến của giáo viên về mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục
động cơ chọn nghề cho học sinh
83
24
Bảng 3.5: Sự khác biệt về mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục động cơ
chọn nghề cho học sinh theo loại hình trường
84
25
Bảng 3.6: Tính khả thi của các biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học sinh
86
26
Bảng 3.7: Ý kiến của giáo viên về tính khả thi của các biện pháp giáo dục động cơ
chọn nghề cho học sinh
88
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

tiền bạc với lựa chọn của mình. Nếu chọn nghề phù hợp với cá nhân và nhu cầu của xã hội sẽ thúc
đẩy cá nhân tích cực, chủ động, say mê, sáng tạo, sống được với nghề, góp phần thúc đẩy sự phát
triển của xã hội…Ngược lại, nếu chúng ta chọn nghề không phù hợp, bản thân người chọn nghề sẽ
mất thời gian, kinh phí đào tạo, khó có việc làm, hoặc phải làm việc trái nghề, xã hội thì không tận
dụng được nguồn nhân lực do mình đào tạo ra mà phải đào tạo lại. Vì vậy, người hành nghề phải có
năng lực, tính cách phù hợp với nghề, phải có hứng thú đối với nghề và nghề đó đáp ứng được nhu
cầu của xã hội thì mới tạo động lực cho sự phát triển của đất nước.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định: Thực
hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo
một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học
sinh có sự hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân
luồng sau trung học phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt
nghiệp [1, 12].
Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác hướng nghiệp nói chung và vấn đề chọn nghề
nói riêng nên ngày 28 tháng 10 năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra công văn số
9971/BGD&ĐT-HSSV về việc triển khai công tác tư vấn cho học sinh, sinh viên thì: “Công tác tư
vấn (có nơi gọi là tham vấn) hướng nghiệp và tư vấn về tâm lý xã hội, gọi chung là tư vấn học
đường, chủ yếu tập trung vào học sinh khối trung học cơ sở và trung học phổ thông”[2]. Trong 6 nội
dung của công tác tư vấn học đường thì hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh là nội
dung quan trọng được đặt lên hàng đầu.
Dễ tìm việc sau khi tốt nghiệp ra trường, có một việc làm ổn định, được mọi người tôn trọng,
thu nhập cao … là mong ước của rất nhiều người. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy hiện tượng
thất nghiệp, bỏ nghề, chuyển nghề, làm trái nghề thường xuyên diễn ra và đang có xu hướng gia
tăng trong xã hội. “
0TTheo các khảo sát của Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội Tp. Hồ Chí Minh, chỉ
có khoảng 30% giới trẻ qua đào tạo tìm được việc làm phù hợp ngành nghề, nhưng có đến 50% có
việc làm không phù hợp ngành nghề đào tạo”[41].
0T Trong khi đó, hàng năm, nước ta có “khoảng hơn
1 triệu” [42] học sinh lớp 12 đứng trước ngưỡng cửa phải có quyết định chọn nghề. Vì thế, chúng ta
có thể nhận thấy rằng, tầm quan trọng của việc chọn nghề ở học sinh lớp 12 không chỉ mang ý nghĩa

4.Giả thuyết nghiên cứu
4.1.Có nhiều động cơ thúc đẩy học sinh lớp 12 ra quyết định chọn nghề nhưng sở thích và
nguyện vọng của cá nhân là động cơ chính thúc đẩy học sinh lớp 12 ra quyết định chọn nghề.
4.2.Quyết định chọn nghề của học sinh lớp 12 chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố nhưng chính
bản thân các em là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất.
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.Xác định biểu hiện động cơ chọn nghề của học sinh lớp 12 ở một số trường THPT tại TP. Hồ
Chí Minh.
5.2.Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ chọn nghề của học sinh lớp 12.
5.3.Đề xuất các biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học sinh nói chung và học sinh lớp
12 nói riêng.
6.Phạm vi nghiên cứu đề tài
6.1.Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung chính: lý do thúc đẩy học sinh lớp 12 chọn nghề,
những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề và các biện pháp giáo dục động cơ chọn nghề cho học
sinh nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng.
6.2.Mẫu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 400 học sinh lớp 12 tại 6 trường THPT công lập,
dân lập/tư thục ở các quận/huyện nội và ngoại thành Tp. Hồ Chí Minh.
6.3.Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại 06 trường:
- Trường THPT Đăng Khoa, quận 1
- Trường THPT Nguyễn Khuyến, quận Tân Bình
- Trường THPT Gia Định, quận Bình Thạnh
- Trường THPT Hoàng Hoa Thám, quận Bình Thạnh
- Trường THPT Nguyễn Văn Cừ, huyện Hóc Môn
- Trường THPT Trung Phú, huyện Củ Chi
7.Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1Cách tiếp cận
7.1.1.Hướng tiếp cận thực tiễn

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm thống kê SPSS, phiên bản 11.5 để xử lý số liệu thu được
bằng các phép toán thống kê. Trong đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu đã sử dụng thang đo
khoảng, “là một dạng đặc biệt của thang đo thứ bậc, vì nó cho biết được khoảng cách giữa các thứ
bậc,… Việc đo lường thái độ hay ý kiến thì thang đo khoảng cung cấp nhiều thông tin hơn. Những
phép toán thống kê có thể sử dụng cho loại thang đó này là: số trung bình, độ lệch chuẩn … [9, tr.9-
10].
Trong đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu có so sánh sự khác biệt về động cơ chọn nghề giữa
học sinh trường công lập và ngoài công lập, giữa học sinh ở khu vực nội thành và khu vực ngoại
thành, động cơ chọn nghề giữa học sinh nam và học sinh nữ, công tác hướng nghiệp giữa trường
công lập và trường ngoài công lập… Vì thế, người nghiên cứu phải so sánh trị trung bình của 2
nhóm tổng thể riêng biệt. “Muốn so sánh trị trung bình của 2 tổng thể riêng biệt ta thực hiện phép
kiểm định giả thuyết về sự bằng nhau của hai trung bình tổng thể dựa trên hai mẫu độc lập rút ra từ
hai tổng thể này. SPSS sử dụng lệnh Independent-Samples T-Test thuộc menu Analyze>Compare
Means để thực hiện kiểm định này [9, 110]. Theo Lý Minh Tiên, muốn “so sánh hai trung bình cỡ
mẫu phải lớn (n
R
1
R, nR
2
R > 30)” [13, 60].
Ngoài ra, trong đề tài này, chúng tôi còn tính tần số, thứ hạng, tỉ lệ phần trăm và sử dụng biểu
đồ để làm rõ và tăng thêm tính thuyết phục của kết quả nghiên cứu.
8.Đóng góp mới của đề tài
Trong lĩnh vực tâm lý, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về động cơ chọn nghề của học sinh THPT
nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng, những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ chọn nghề… và đã có
những kết luận về vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta đang bước vào thập niên thứ 2 của thế kỷ 21, nền
văn minh tri thức đang làm thay đổi và biến đổi lực lượng sản xuất, nghề nghiệp xã hội. Những tác
động đó sẽ có ảnh hưởng đến động cơ chọn nghề của lớp trẻ Việt Nam nói chung và học sinh trung
học phổ thông thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, tìm được động cơ chọn nghề chủ đạo của học sinh
trung học phổ thông hiện nay sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp cho học sinh
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG CƠ CHỌN NGHỀ
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.Những nghiên cứu về động cơ chọn nghề
1.1.1.1.Những công trình nghiên cứu trên thế giới
a) Kết quả nghiên cứu về động cơ chọn nghề của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ)
L.I.A. Rubina đã nghiên cứu kế hoạch đường đời (sự lựa chọn nghề nghiệp) của thanh niên
Liên Xô trên 2 khía cạnh: động cơ chọn nghề và tình huống. Động cơ chọn nghề xem xét đặc điểm
con đường tự quyết định của nhân cách trước khi vào đại học, điều kiện hình thành định hướng và
giáo dục đại học; xét cơ sở khách quan - các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp (gia
đình, môi trường, nhà trường, kinh nghiệm sống, phương tiện thông tin đại chúng…) mức độ ổn
định và có ý thức hứng thú đối với nghề đã chọn…Rubina đã phát hiện ra những động cơ không gắn
liền với đào tạo nghề nghiệp, đến khía cạnh nội dung của hoạt động nghề nghiệp, mà chỉ chọn thi
vào cho có học ở đại học, thường xuất hiện ở những sinh viên mà kế hoạch đường đời (sự tự quyết
lựa chọn nghề) diễn ra chóng vánh, kế hoạch được sắp đặt trước khi thi đại học khoảng 1 năm hay
trước khi nộp đơn thi. Thường ở những người này không có định hướng xã hội rõ ràng cho tương
lai, không có hứng thú nghề nghiệp ổn định [37, tr.13-14].
“Những nghiên cứu của E.Pavlưuchencov về động cơ chọn nghề cũng chỉ ra rằng, những học
sinh tích cực tham gia hoạt động liên quan đến học tập, lao động thì có cấu trúc động cơ chọn nghề
tối ưu hơn những học sinh khác” [37, 14].
“N. Levitop cho rằng, hứng thú, năng lực, mức độ chuẩn bị đối với nghề đã chọn, tình cảm, ý
chí và nguyện vọng tự rèn luyện là những động cơ cá nhân bên trong. Lời khuyên, tấm gương của
người khác cũng như những lý do có tính chất sinh hoạt và vật chất là những động cơ bên ngoài của
việc chọn nghề” [37, 14].
E.X.Trugunova với đề tài Mối quan hệ giữa động cơ nghề nghiệp và tính tích cực sáng tạo của
người kỹ sư. Qua phân tích bằng phương pháp thống kê toán học cho thấy, động cơ hoạt động nghề
nghiệp của người kỹ sư ở hiện tại có kết hợp chặt chẽ một cách đặc thù với động cơ lựa chọn nghề
nghiệp và vị trí công việc được đánh giá có ý nghĩa đối với bản thân từ trước đó vài năm… Trong
số kỹ sư có thái độ thờ ơ, tiêu cực với công việc có 42,7% trước đó đã chọn nghề do sự ngẫu nhiên;

ngoại thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh là để
phục vụ đất nước nhưng mơ ước đó không dựa trên năng lực của bản thân, phần lớn các em chọn
vào các ngành công nghiệp, kế đến là y dược, các lĩnh vực như tài chính, kế toán các em lựa chọn
rất ít [21].
Luận án Phó tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Bích (1979) với đề tài Động cơ chọn nghề của
thanh thiếu niên đã nhận định rằng, ở thanh niên, học sinh động cơ chọn nghề bên trong nổi bật hơn
động cơ bên ngoài. Đối với nam thì việc thực hiện khả năng của bản thân là động cơ đầu tiên trong
chọn nghề, tiếp đến là tính chất quan trọng của nghề, hứng thú với nghề. Đối với nữ thì trước tiên là
yêu cầu của nhà nước, vị trí xã hội của nghề và thực hiện được khả năng của mình [19].

Đề tài Tìm hiểu động cơ chọn nghề của học sinh PTTH của tác giả Phạm Thị Nguyệt Lãng
(1991) nghiên cứu khảo sát 1803 học sinh lớp 10, 11, 12 ở 12 trường PTTH thuộc các tỉnh, thành:
Hà Nội, Hà Sơn Bình, Tp. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cửu Long. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra:
83,25% nữ và 78,41% nam chọn nghề theo hứng thú cá nhân. Các yếu tố động cơ thúc đẩy học sinh
chọn nghề còn lại như: lương bổng nhiều, để được khen, có vinh quang chiếm tỉ lệ rất thấp. Phân
tích kết quả nghiên cứu tác giả nhận định rằng học sinh đã xem xét khả năng của bản thân với yêu
cầu của nghề và tỉ lệ nam cao hơn nữ [29].
Tác giả Phan Tố Oanh (1994) với đề tài Nguyện vọng và nguyên nhân chọn nghề của học sinh
phổ thông trung học được thực hiện trên 200 học sinh ở Huế và 300 học sinh ở Hà Nội cho thấy,
nguyên nhân học sinh chọn nghề là phù hợp với năng lực học tập, nghề nghiệp phù hợp với hứng
thú, các nguyên nhân như: dễ có khả năng trúng tuyển hay phù hợp với “mốt” hiện nay được học
sinh đánh giá rất thấp [32].
Đề tài nghiên cứu Tìm hiểu động cơ lựa chọn nghề khi thi vào đại học của sinh viên của tác
giả Nguyễn Ánh Hồng (2001) được thực hiện trên 800 sinh viên tại Tp. Hồ Chí Minh đã kết luận
việc lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên được xuất phát từ những động cơ khác nhau, những động
cơ này có tính hệ thống và thứ bậc. Bằng phương pháp phân tích nhân tố, tác giả Nguyễn Ánh Hồng
đã phân chia thành 4 nhóm (hệ thống) động cơ chọn nghề: Nhóm động cơ điểm tuyển và học phí
thấp (điểm tuyển thấp, không phải đóng học phí); nhóm động cơ kinh tế và việc làm (dễ kiếm việc
làm và thu nhập cao); nhóm động cơ hợp khả năng và sở thích (hợp với sở thích, hợp với khả năng
của cá nhân); nhóm động cơ theo lời khuyên (theo ý kiến bạn bè, theo lời khuyên của cha mẹ, ngành

1.2.Lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Động cơ
1.2.1.1.Khái niệm động cơ
Động cơ là một trong những vấn đề trọng tâm trong Tâm lý học được quan tâm nghiên cứu từ
rất sớm. Quá trình nghiên cứu, giải thích “tại sao con người lại hành động như thế, hành động như
thế nhằm mục đích gì”…thực chất đó là nghiên cứu về động cơ. Ronald E.Smith cho rằng, khái
niệm động cơ được dùng như một khái niệm trung tâm nhằm giải thích cho hành vi và các nguyên
nhân của nó. Trên thế giới có nhiều trường phái nghiên cứu về động cơ và mỗi trường phái có
những quan điểm khác nhau về động cơ.
a) Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây về động cơ:
Theo Stephen Worchil và Wayne Shebilsue, “các nhà Tâm lý học đã sử dụng thuật ngữ động
cơ (motive) để mô tả tình huống cung cấp năng lượng và hướng dẫn hành vi của các tổ chức. Động
cơ thúc đẩy (motivation) giải thích tại sao một cơ thể lại hành động theo một cách nhất định tại một
thời điểm nhất định” [35, 362].
Theo các thuyết bản năng (Instinct theories), động cơ là một khuynh hướng bẩm sinh để hành
động theo một cách cụ thể. William James (1890) và William McDougall (1908) là những đại diện
tiêu biểu cho trường phái này cho rằng, “thiên nhiên ban phát cho chúng ta cả năng lượng và dạng
thức hành vi… các sự kiện bên ngoài có thể làm phóng thích bản năng cụ thể nhưng hành động của
chúng ta vẫn được hướng dẫn bởi các nội lực” [35, 363].
Các thuyết thôi thúc (Drive theories), tiêu biểu là Sigmund Freud, Clark Hull xem động cơ là
sự thôi thúc. Freud cho rằng, mục đích của hành vi là giảm đi căng thẳng do sự tồn tại của một nhu
cầu tạo ra. Năm 1940, Clark Hull (1943, 1951) đã kết hợp hai quan điểm thôi thúc và hành vi thành
thuyết thôi thúc toàn diện với nguyên tắc điều bình (homeostasis). Theo học thuyết này, cơ thể
chúng ta cố gắng duy trì một trạng thái ổn định bên trong. Khi những thay đổi xuất hiện, cơ chế điều
bình kích thích cơ thể hành động nhằm đưa trạng thái bên trong trở lại như lúc đầu. Nhu cầu xuất
hiện khi sự cân bằng của cơ chế điều bình trong cơ thể bị đảo lộn. Sự tồn tại của một nhu cầu sẽ
kích thích cơ thể thỏa mãn nhu cầu đó và chính nhu cầu đó hình thành một thôi thúc. Hành vi luôn
được thúc đẩy từ bên trong [35, tr.363-364].
Các thuyết khích lệ (Incentive theories) thì cho rằng, không phải tất cả các hành vi đều được
thúc đẩy bởi các nhu cầu bên trong. Quan điểm của các thuyết khích lệ là các sự kiện bên ngoài

b) Quan điểm của các nhà tâm lý học của Liên xô (cũ) về động cơ
A.N. Leonchiev cho rằng động cơ là: a) Động cơ và nhu cầu là hai hiện tượng tâm lý gắn bó
chặt chẽ với nhau; b) Động cơ chính là đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu đã được chủ thể tri
giác, biểu tượng, tư duy… Đó là sự phản ánh chủ quan về đối tượng thỏa mãn nhu cầu; c) Động cơ
có chức năng thúc đẩy và định hướng hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu [25, 210].
B.Ph.Lomov cho rằng, nhu cầu có quan hệ mật thiết với động cơ và chúng ta không thể tách
biệt nhu cầu và động cơ. Vì thế, khi nghiên cứu động cơ phải nghiên cứu động cơ trong mối liên hệ
với nhu cầu. Theo B.Ph.Lomov, động cơ là sự biểu hiện chủ quan của nhu cầu và ngược lại, nhu cầu
là cơ sở của động cơ. “Sự thay đổi những động cơ này chỉ xảy ra khi có thay đổi cơ bản về hoàn
cảnh sống và hoạt động sống cá nhân trong xã hội (và hơn cả thế nữa: sự thay đổi của chính xã hội)”

[12, 470].
Theo Từ điển Tâm lý học của Nga, động cơ là: a) Các kích thích thúc đẩy hoạt động. Các kích
thích này liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể. Đó là tập hợp các điều kiện bên trong và
bên ngoài khêu gợi tính tích cực của chủ thể và định hướng cho tính tích cực đó; b) Đối tượng (vật
chất hay tinh thần) thúc đẩy và quy định sự lựa chọn hướng của hoạt động được thực hiện để đạt
được đối tượng đó; c) Nguyên nhân được nhận thức là cơ sở của sự lựa chọn hành động và các hành
vi của nhân cách [12, 209].
Khác với Tâm lý học phương Tây, các nhà tâm lý học của Liên Xô (cũ) không xem xét động
cơ như một thành tố độc lập. Động cơ không những là một bộ phận cấu thành của hoạt động mà còn
là một thành phần của một hệ thống phức tạp có mối liên hệ với nhu cầu. “… Động cơ là sự phản
ánh của nhu cầu. Những đối tượng đáp ứng nhu cầu này hay nhu cầu khác tồn tại trong hiện thực
khách quan, một khi chúng bộc lộ ra, được chủ thể nhận biết (ý thức được) sẽ thúc đẩy, hướng dẫn
con người hoạt động. Nói khác đi, khi nhu cầu gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn thì trở thành
động cơ hoạt động” [20, 100].
c) Quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam về động cơ
Nguyễn Quang Uẩn cho rằng, động cơ là “cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn
nhu cầu, là cái làm nảy sinh tính tích cực và quy định xu hướng của hướng tích cực đó. Động cơ là
động lực kích thích trực tiếp, là nguyên nhân trực tiếp của hành vi” [20, 206].
Theo Vũ Dũng (Từ điển Tâm lý học, 2008) động cơ là: “cái thúc đẩy hành động, gắn liền với

thống, mong muốn thuận lợi, tính toàn diện” [25, 220] … Tuy nhiên, trong thực tế, động cơ của con
người rất phong phú và đa dạng và có mối liên hệ mật thiết với nhu cầu. Các loại động cơ trong hệ
thống động cơ không phải là bất biến mà luôn thay đổi.
Theo trường phái Tâm lý học hoạt động, động cơ được chia thành 2 loại cơ bản: động cơ chủ
đạo và động cơ thứ yếu. Hai loại động cơ này có mối quan hệ mật thiết với nhau và trong những
hoàn cảnh cụ thể chúng tạo thành một hệ thống thứ bậc động cơ.
Theo Nguyễn Quang Uẩn (2003), có rất nhiều cách phân loại động cơ: “Động cơ ham thích và
động cơ nghĩa vụ; động cơ quá trình và động cơ kết quả; động cơ gần và động cơ xa; động cơ cá
nhân, động cơ xã hội và động cơ công việc; động cơ bên trong và động cơ bên ngoài; động cơ tạo ý
và động cơ kích thích” [20, 100].
Theo quan điểm của người nghiên cứu, động cơ của con người rất phong phú và đa dạng nên
có rất nhiều cách phân loại động cơ. Ở mỗi lĩnh vực và tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau thì có
những loại khác nhau. Trong đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu phân loại động cơ theo quan
điểm của tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong giáo trình Tâm lý học đại cương xuất bản năm 2003 của
nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Động cơ được phân thành: “động cơ cá nhân, động cơ xã hội, động
cơ công việc” [20, 100].
1.2.2.Nghề
1.2.2.1.Khái niệm
Theo Từ điển tiếng Việt 2000, nghề là “công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của
xã hội” [8, 676].
Nghề hay còn gọi là nghề nghiệp. “Nghề nghiệp bao hàm 3 ý: Một là có công việc, tức là có
việc để làm, có việc để xử lý; hai là có thu nhập để có được tiền lương hoặc có được thu nhập kinh
tế của những hình thức khác nhau; ba là có giới hạn thời gian. Thông thường quy định vì một phần
tư, một phần ba, một phần hai của hoạt động toàn ngày” [33, 7].
Nghề có 4 đặc trưng cơ bản: đối tượng lao động, mục đích lao động, công cụ lao động và điều
kiện lao động. Vậy, nghề nghiệp là công việc mà cá nhân đảm nhiệm trong những lĩnh vực nhất
định theo sự phân công lao động của xã hội nhằm tồn tại và phát triển.
1.2.2.2.Phân loại nghề
Tùy thuộc vào tiêu chí và mục đích phân loại nên có những cách phân loại nghề khác nhau.
Theo tác giả Phạm Tất Dong (2002) trong cuốn Tư vấn hướng nghiệp thì, có 8 loại nghề: nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status