TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 30 (2004-2008)
ĐỀ TÀI
:
QUAN HỆ CẤP DƯỠNG TRONG LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH
ài và còn góp ý giúp em
hướng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện .
Cảm ơn Các anh chị trong thư viện Khoa Luật đã nhi
ệt
tình giúp đỡ em trong việc tham khảo tài liệu, sách vỡ.
Cảm ơn tất cả các bạn bè đã tận tình giúp đ
ỡ trong suốt
thời gian qua.
Cần thơ , Ngày 17 Tháng 4 Năm 2008
LÊ THẠCH HƯƠNG
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Đoàn Thị Phương Diêp. SVTH:Lê Thạch Hương
LỜI NÓI ĐẦU
› & ›
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong xã hội ngày nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường đã phần
nào ảnh hưởng xấu đến lối sống, đạo đức gia đình, dẫn đến vi phạm nghiêm
trọng các quy định của luật hôn nhân và gia đình ngày càng phổ biến. Trong
một số gia đình đã bắt đầu có những biểu hiện xuống cấp về đạo đức, thể hiện
qua lối sống thực dụng, ích kỷ, không quan tâm đến nhau, mà gia đình là cái
nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục
nhân cách con người, là tập hợp nhỏ của một số thành viên nhỏ xã hội nhưng
là tập hợp đặc biệt gồm các thành viên gắn bó nhau do quan hệ hôn nhân,
huyết thống hoăc nuôi dưỡng. Với tư cách là cha, mẹ, vợ chồng, con cái trong
mối quan hệ của họ với nhau thì đều gắn bó trước hết là tình cảm. Bình
“
Quan hệ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành”. Quan
hệ cấp dưỡng không chỉ là vấn đề được đề cập trong hệ thống pháp luật Việt
Nam mà nó mang tính phổ biến rộng rãi ở các nước và điển hình là pháp luật
nước Anh cũng coi trọng vấn đề này: “English law and policy also
emphasises this conservative approach to children's upbringing and support
” chính vì lẽ đó mà đề tài trở nên một vấn đề hết sức cần thiết trong cuộc
sống. Trên cơ sở phân tích những điểm tồn tại, vướng mắc trong quá trình ban
hành và áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị cụ thể.
2.Mục đích nghiên cứu đề tài:
Làm sáng tỏ vấn đề chung về cấp dưỡng, các quan hệ cấp dưỡng lẫn nhau
giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ
đối với con. Đồng thời, hiểu thêm một phần nào đó hệ thống pháp luật của
một số nước khác về vấn đề này, từ đó đối chiếu với thực tiễn nhằm chỉ ra
những tồn tại, vướng mắc nhất định. Qua đó, mong muốn có thể đưa ra những
giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn về vấn đề này giúp cho người có
quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cấp dưỡng tự bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng của mình và làm cơ sở cho cơ quan nhà nước cũng như những người có
nhiệm vụ thực thi pháp luật vào thực tiễn giải quyết vấn đề tốt hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề về quan hệ cấp dưỡng trong Luật Hôn
nhân và Gia đình hiện hành, đồng thời tìm hiểu sơ lược những quy định của
một số nước về vấn đề này. Từ đó, so sánh sự khác nhau về vấn đề cấp dưỡng
của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của Chủ
nghĩa Mác- Lênin. Trong đó, các phương pháp cụ thể vận dụng gồm: so sánh,
đối chiếu, phân tích, tổng hợp,…và phương pháp nghiên cứu luật viết như:
phân tích câu chữ, suy lý mạnh,….
5. Cơ cấu đề tài:
nay 4
2. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG 8
2.1. Khái niệm 8
2.2. Đặc điểm của cấp dưỡng 10
3. CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ CẤP DƯỠNG 14
3.1. Chủ thể phải cấp dưỡng 15
3.2. NgườI có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng 16
4. CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG TRONG LUẬT MỘT SỐ NƯỚC SO VỚI PHÁP
LUẬT VIỆT NAM 18
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ GIÁ TRỊ CỦA CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 20
CHƯƠNG 2 23
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUAN HỆ
CẤP DƯỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 23
1. CƠ CHẾ XÁC LẬP QUAN HỆ CẤP DƯỠNG 23
1.1. Xác lập quan hệ cấp dưỡng theo thoả thuận 23
1.2. Xác lập quan hệ cấp dưỡng bằng con đường Toà án 23
2. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG 24
2.1. Điều kiện phát sinh trong quan hệ cấp dưỡng 24
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
2.2. Mức cấp dưỡng 27
2.3. Phương thức thực hiện cấp dưỡng 30
3.CÁC QUY ĐỊNH VỀ CẤP DƯỠNG TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP CẤP
DƯỠNG CỤ THỂ 34
3.1. Các trường hợp đặc biệt 34
3.2. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình 38
3.3. Những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng 47
CHƯƠNG 3 57
NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC TRONG CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ CẤP DƯỠNG VÀ HƯỚNG
HOÀN THIỆN 57
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
SVTH: Lê Thạch Hương Trang
1CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẤP DƯỠNG THEO LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG
Pháp luật về hôn nhân và gia đình là một bộ phận của pháp luật nói chung,
nội dung của nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của các giai cấp thống trị
trong mỗi chế độ xã hội. Là sản phẩm của một chế độ xã hội tương ứng với
từng thời kỳ lịch sử nhất định với những điều kiện xã hội nhất định, luật hôn
nhân và gia đình có liên hệ mật thiết đến đời sống của tất cả mọi người trong
xã hội. Chính vì vậy Luật hôn nhân và Gia đình gắn bó mật thiết với đạo đức,
phong tục, tập quán truyền thống dân tộc. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau có
giai cấp bóc lột, Luật Hôn nhân và Gia đình là công cụ để bảo vệ quyền lợi
của giai cấp bóc lột thống trị, áp bức, nô dịch nhân dân lao động.
1.1. Quan hệ cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam trước Cách mạng
Tháng Tám.
Trong mọi thời kỳ khác nhau của lịch sử, pháp luật điều có sự thay đổi
cùng với sự biến đổi của xã hội. Dưới thời kỳ phong kiến Pháp luật là bức
tranh thời đại, ghi rõ tổ chức xã hội và gia đình trong mỗi giai đoạn.
Ở thời kỳ phong kiến, quan hệ cấp dưỡng đã được quy định trong pháp
luật Nhà Lê qua bộ Luật Hồng Đức; Nhà Nguyễn qua Bô Luật Gia Long.
Trong xã hội phong kiến, mô hình gia đình được pháp luật xây dựng là đại
dưỡng bề trên, mà bị ông bà, cha mẹ trình lên quan thì bị xử tội đồ làm khao
đinh” (Điều 506) và “Con không hiếu thảo nuôi cha mẹ sẽ bị tội tám mươi
trượng, biếm ba tư và đồ làm khao đinh” (Đoạn 43, Hồng Đức Chính Thư).
Như vậy, Pháp luật thời phong kiến quan tâm đặc biệt đối với nghĩa vụ
phụng dưỡng của con, cháu đối với cha mẹ, ông bà, pháp luật thời kỳ này quy
định nghĩa vụ nuôi dưỡng mà không quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ
đối với con. Bởi lẽ, pháp luật thời kỳ này quy định vợ chồng có nghĩa vụ
đồng cư. Khi người vợ sinh con, đứa con được sống chung với cha mẹ và
được cha mẹ chăm sóc nuôi dưỡng. Trong trường hợp cha mẹ ly hôn, các con
được ở lại với cha, tất cả tài sản được coi là tài sản riêng của người mẹ được
gọp vào tài sản của người chồng thành một khối do người cha nắm giữ và
dùng để nuôi con. Trong trường hợp hai vợ chồng chia nhau nuôi con thì
thông thường họ thường chia nhau tài sản. Vì vậy, vấn đề cấp dưỡng của cha,
mẹ cho con khi ly hôn không cần phải đặt ra. Và pháp luật thời kỳ này không
cho phép người con ngoài gia thú được quyền kiện tìm cha để hưởng quyền
cấp dưỡng. Dó đó, cấp dưỡng của cha đối với con ngoài giá thú không được
pháp luật quy định.
Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật quy định nghĩa vụ phù trợ, và pháp
luật thời kỳ này không quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly
hôn. Nhưng trong trường hợp nếu người vợ không còn nơi nương tựa nào
khác thì thuộc trường hợp tam bất khứ, người chồng không được bỏ vợ.
Sang thời kỳ Pháp thuộc, nước ta chia làm ba miền Bắc, Trung, Nam. Ở
miền Bắc có Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931. Ở miền Trung có Bộ dân luật Trung
Kỳ 1936. Ở miền Nam có Dân luật giản yếu năm 1883. Riêng Bộ Dân luật
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp
với con ngoài gia thú. Bên cạnh đó, pháp luật thời kỳ này cũng quy định vấn
đề nuôi con nuôi và khẳng định con nuôi có quyền được cha mẹ nuôi dưỡng,
chăm sóc như con đẻ. Vì vậy, cha mẹ nuôi phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho
con nuôi và đối đãi như con đẻ (Điều 193 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật
Trung Kỳ).
Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật thời kỳ này quy định nghĩa vụ cấp
dưỡng trong trường hợp vợ chồng ly hôn. Đồng thời, pháp luật thời kỳ này
còn quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của người chồng đối với vợ trong thời gian
đang giải quyết việc ly hôn. Điều 139 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 137 Bộ
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
4
dân luật Trung Kỳ quy định: “Sau khi quan chánh án đã thụ lý đơn xin ly hôn
thì có thể truyền cho thi hành các phương pháp tạm thời như: định chổ ở cho
vợ chồng, việc trông nom con cái, việc quản trị tài sản và nếu cần thì định cả
quyền cấp dưỡng”.
Khi vợ chồng ly hôn, pháp luật quy định người chồng có nghĩa vụ cấp
dưỡng cho người vợ (Điều 144 Bộ dân luật Bắc kỳ 1931). Tuy nhiên, trong
trường hợp người vợ tái giá, vô hạnh hoặc ăn ở tư tình với người khác thì
không được lĩnh tiền cấp dưỡng (Điều 154 Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931 và Điều
143 Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1036).
SVTH: Lê Thạch Hương Trang
5
nguyên tắc mới về hôn nhân và gia đình cho phù hợp với thực tế. Năm 1950
nước ta ban hành Sắc lệnh đầu tiên điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia
đình. Đó là Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/05/1950 Sắc lệnh này có 15 Điều, nội
dung chủ yếu của Sắc lệnh này quy định:
- Xoá bỏ tính phong kiến của quyền gia trưởng cũ, con đã thành niên lấy
vợ, lấy chồng không cần sự đồng ý của cha mẹ.
- Xoá bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ gia đình có tang, thực hiện nam
nữ bình đẳng trong gia đình.
Sắc lệnh thứ hai là Sắc lệnh số159 ngày 17/11/1950 quy định như sau:
“Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi của các con vị thành niên để ấn định việc
trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng; hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng
chịu việc phí tổn về việc nuôi dạy con, mọi người tuỳ theo khả năng của
mình”.
Như vậy, Sắc lệnh 159 chưa có quy định cụ thể về cấp dưỡng, chưa có hình
thức cấp dưỡng mà chỉ được xem là cấp dưỡng dưới hình thức là “góp phí tổn
để nuôi dạy con”.
Những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình cũ còn tác động mạnh mẽ
vào đời sống gia đình và xã hội cùng với sự tác động của chế độ kinh tế mới,
gia đình Việt Nam thay đổi rất nhanh về quy mô tổ chức và nội dung của các
quan hệ nội bộ. Sắc lệnh số 97 - SL và Sắc lệnh 159 - SL, đã hoàn thành vai
trò lịch sử, góp phần vào việc xoá bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến
lạc hậu nhưng không còn đáp ứng được tình hình phát triển của cách mạng.
Mặt khác, hai Sắc lệnh này quá đơn giản và còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề
xảy ra trong xã hội mà hai Sắc lệnh này chưa quy định để điều chỉnh. Với
hệ giữa cha mẹ và con cái có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, trông nom cũng
chưa có quy định cụ thể về cấp dưỡng mà chỉ có thể xem nó đồng thời với
hình thức nuôi dưỡng giống như hiểu theo pháp luật thời phong kiến về cấp
dưỡng, như Điều 17: “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục
con cái. Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”.
Trước những thay đổi lớn lao đất nước ta trong giai đoạn này, việc xây
dựng và ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình mới là một đòi hỏi tất yếu
khách quan nhằm thúc đẩy sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
toàn quốc.
Ngày 25/12/1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 chính thức được
Quốc hội khoá VII kỳ họp thứ 12 thông qua và được Hội đồng Nhà nước
công bố ngày 03/01/1987. Luật Hôn nhân và Gia đình năm1986 cũng đã có
những quy định tương tự về cấp dưỡng tại các Điều 19, 20, 21 và 26 về nuôi
dưỡng giữa cha mẹ và con; Điều 27 về quan hệ giữa Ông bà - cháu, giữa anh,
chị - em ruột thịt; Điều 43 quy định về cấp dưỡng của vợ chồng khi ly hôn;
Điều 45 quy định về đóng góp phí tổn nuôi dưỡng con khi cha mẹ ly hôn.
Như vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và năm 1986 chỉ điều
chỉnh quan hệ giữa các bên đã từng là vợ, chồng sau khi ly hôn khi có bên
lâm vào tình trạng túng thiếu. Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986
quy định khi ly hôn, nếu túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp
dưỡng theo khả năng của mình việc cấp dưỡng của cha mẹ đối với con được
quy định dưới hình thức “đóng góp phí tổn nuôi dưỡng”. Việc cấp dưỡng
anh, chị em trong gia đình, giữa Ông bà và cháu chưa được quy định cụ thể.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã cụ thể hoá, chi tiết hoá các quy
định có tính khái quát, chung chung của Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1986, đặc biệt là các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và tài sản của các thành
viên trong gia đình.
Luật cũng tránh được những quy định có thể hiều theo nhiều nghĩa khác
nhau trong quá trình áp dụng như Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1986, đồng thời ở mỗi điều luật điều có tiêu đề cụ thể tạo thuận lợi cho việc
tìm hiểu, tra cứu và áp dụng.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
8
Với những điểm mới quan trọng trên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000 đã khắc phục được phần nào những thiếu sót của Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 1986 góp phần điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình theo hướng
tốt đẹp, duy trì những quan hệ truyền thống, bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính
đáng của các thành viên trong gia đình.
Như vậy, quá trình phát triển của lịch sử xã hội với sự điều chỉnh tương
ứng của các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình, kinh tế, văn hoá ở
mỗi thời kỳ cũng như tư tưởng, chính sách, thái độ của nhà nước và xã hội
đối với vấn đề hôn nhân và gia đình, phụ nữ, trong đó sự bình đẳng về giới,
tính dân chủ, nhân đạo trong các quan hệ gia đình được thể hiện đậm nét qua
9
chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà; con cháu có bổn phận kính trọng,
chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà” (Điều 64 Hiến pháp 1992).
Gia đình là một thực thể tồn tại trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống,
nuôi dưỡng. Các quan hệ đó đóng vai trò quyết định cho sự hình thành những
tình cảm của các thành viên trong gia đình như: sự gắn bó, tình thương yêu,
tính quan tâm, lòng cao thượng, đức hi sinh v.v…Khi nhà nước xuất hiện
những tình cảm cao đẹp đó không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình hay chỉ
chịu sự chi phối của các thành viên trong gia đình đó. Nói cách khác, chúng
không chỉ mang tính đạo lý mà còn mang tính pháp lý cao, thông qua sự điều
chỉnh của pháp luật. Quan hệ cấp dưỡng là một trong những biểu hiện của
tình cảm gia đình, là sự quan tâm, lo lắng, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau - được
nhà làm luật thể chế hoá.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về cấp dưỡng một cách hệ
thống và đầy đủ, theo Khoản 11 Điều 8 quy định: “Cấp dưỡng là việc một
người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của người không chung sống với mình mà có quan hệ hôn nhân huyết
thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên,
là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của luật
này”.
Đây là định nghĩa chính thức đầu tiên được ghi nhận trong đạo luật. Tuy
nhiên, ở nước ta quan hệ cấp dưỡng được thừa nhân từ khá lâu. Như đã trình
bày ở phần lịch sử hình thành quan hệ cấp dưỡng thì cấp dưỡng xuất hiện
ngay ở thời kỳ Phong kiến, sang thời kỳ Pháp thuộc thì quan hệ đó tiếp tục
được điều chỉnh. Khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời, tư duy pháp
lý về gia đình và quyền gia trưởng của gia đình thay đổi. Song, những giá trị
còn mang tính pháp lý rất rõ rệt. Đó là sự thể chế hoá truyền thống đoàn kết,
tinh thần tương thân tương ái, hỗ trợ, đùm bọc lẫn nhau của dân tộc, đó là sự
điều chỉnh những quan hệ đạo đức thông qua những quy phạm pháp luật.
Chính vì thế, ở cả góc độ pháp lý và xã hội, cấp dưỡng mang một ý nghĩa rất
lớn.
2.2. Đặc điểm của cấp dưỡng.
Quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ pháp lý có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ nhân thân gắn liền với tài
sản trong pháp Luật Hôn nhân và Gia đình. Bởi vì nó liên quan đến những lợi
ích về tài sản. Điều đó thể hiện ở chổ: người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu
cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
người được cấp dưỡng. Song, quan hệ cấp dưỡng là một loại quan hệ tài sản
đặc biệt, “không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao
cho người khác”, vì nó gắn liền với nhân thân của chủ thể (người cấp dưỡng
và người được cấp dưỡng) và “nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ không được
bù trừ theo quy định của pháp luật”. Phải thừa nhận rằng nghĩa vụ cấp dưỡng
chỉ được phát sinh khi các chủ thể trong quan hệ thoả những điều kiện nhất
định. Trong đó yếu tố về tình cảm chi phối khá lớn cho các quan hệ cấp
dưỡng phát sinh. Một khi nghĩa vụ này xuất hiện, người phải cấp dưỡng hay
thậm chí người được cấp dưỡng cũng không được đơn phương hoặc thoả
thuận việc thay thế nghĩa vụ cấp dưỡng bằng nghĩa vụ khác. Có nghĩa là bên
có nghĩa vụ cấp dưỡng không thể cam kết sẽ dùng nghĩa vụ khác để thay thế,
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
này tồn tại trong mối quan hệ gần gũi, gắn bó. Họ có quyền và nghĩa vụ vừa
mang tính đạo đức vừa mang tính pháp lý. Trong phạm vi quan hệ cấp dưỡng,
họ có quyền và nghĩa vụ tương trợ chăm sóc lẫn nhau, đùm bọc cho cuộc
sống vật chất và tinh thần cho người cần được cấp dưỡng. Chỉ trong phạm vi
những quan hệ này, quan hệ cấp dưỡng mới được phát sinh và được pháp luật
bảo hộ. “Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, giữa anh, chị em với nhau,
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
12
giữa Ông bà nội, Ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng” (Điều 50 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000).
Quan hệ khác giữa các thành viên trong gia đình theo pháp luật hôn nhân
có thể là quan hệ giữa cháu với cô, cậu, dì, chú, bác ruột. Giữa những người
này tuy có cùng huyết thống, cũng nằm trong hàng thừa kế theo quy định của
pháp luật dân sự (Điều 676 Bộ Luật Dân Sự 2005) song pháp luật không đặt
ra nghĩa vụ cấp dưỡng trong quan hệ này. Điều này có lẽ là tuy có cùng huyết
thống nhưng giữa họ không có sự liên hệ trực tiếp hoặc gắn bó mật thiết như
những thành viên khác trong gia đình. Hơn nữa, xét một cách toàn diện, việc
đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng với họ là không khả thi bởi một cháu sẽ có quá
nhiều cô, cậu, dì, chú, bác ruột và ngược lại. Vậy thì một trong số người đó ai
là người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu khi cháu túng thiếu? v.v.? Do vậy,
13
Xét về bản chất, nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra nhằm mục đích tương
trợ. Bản thân “tương trợ” bao hàm sự không đầy đủ của một bên về phương
diên vật chất, kinh tế. Chính vì sự không đầy đủ hay thiếu thốn đó mà nghĩa
vụ tương trợ mới có cơ sở để phát sinh. Do vậy, quan hệ cấp dưỡng gắn với
yếu tố tài sản cũng chỉ phát sinh khi cần được cấp dưỡng rơi vào nhưng
trường hợp khó khăn túng thiếu thật sự theo quy định của pháp luật. Trong
gia đình, các thành viên có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau. Quyền và
nghĩa vụ này không chỉ xuất phát từ phương diện đạo đức mà còn được pháp
luật quy định. Nếu như các thành viên nào đó trong gia đình cố tình không
thực hiện nghĩa vụ thì quyền và lợi ích của thành viên khác sẽ bị ảnh hưởng.
Rõ ràng nhất là cuộc sống của người đó bị đe doạ do không nhận được sự chu
cấp đầy đủ. Do vậy, nhất thiêt trong trường hợp này “người có nghĩa vụ cấp
dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng” (Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000). Trong thực tế, không chỉ
do người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng không thực hiện nghĩa vụ đó mà
nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh. Bất kỳ thành viên trong gia đình cũng rơi
vào hoàn cảnh không đầy đủ hoặc thiếu hụt về phương diện nào đó. Song chỉ
khi người đó có sự thiếu hụt về vật chất, làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc
sống của họ thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới đặt ra. Điều này biểu hiện ở chỗ,
người đó gặp khó khăn túng thiếu hoặc không có khả năng lao động và tài sản
để tự nuôi mình. Trong quan hệ cấp dưỡng này, chủ thể không chỉ là thành
viên trong gia đình trong mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng mà
còn phải thoả những điều kiện nhất định về độ tuổi, tình trạng nhân thân, tài
sản… chẳng hạn con được cấp dưỡng khi cha mẹ ly hôn. Về nguyên tắc, con
chưa thành niên luôn luôn được hưởng sự trợ cấp. Trong trường hợp con đã
thành niên mà “bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng
chung của nhiều người có quyền được nuôi dưỡng, có những khoản chi nhằm
đáp ứng nhu cầu riêng của một người có quyền được nuôi dưỡng hoặc một
nhóm nhu cầu của người đó, phát sinh trong những hoàn cảnh đặc biệt và
trong một thời gian nhất định. Nghĩa vụ cấp dưỡng, trái lại được thực hiện
bằng cách trích và tách hẳn một khoản ngân sách của hộ, thành một phần tài
sản riêng giao cho một người, để người này nhập phần đó vào ngân sách của
riêng mình hoặc của hộ khác mà mình là thành viên, và được chỉ tiêu theo kế
hoạch riêng của người đó hoặc của hộ khác đó, nhằm đáp ứng tất cả các nhu
cầu bình thường của người đó hoặc của hộ khác đó trong một khoảng thời
gian.
Tóm lại, khi những người có quan hệ gia đình sống chung với nhau, mà
một trong số họ là người chưa thành niên hoặc người đã thành niên bị tàn tật
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì những
người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Trong trường hợp những người này
không sống chung với nhau hoặc người có nghĩa vụ trốn tránh nghĩa vụ thì
người có nghĩa vụ nuôi dưỡng phải cấp dưỡng cho người được nuôi dưỡng.
Như vậy nghĩa vụ nuôi dưỡng được thay thế bằng nghĩa vụ cấp dưỡng.
Ngược lại, khi nghĩa vụ cấp dưỡng đang được thực hiện mà người có nghĩa
vụ cấp dưỡng lại trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng thì nghĩa vụ cấp
dưỡng giữa họ chấm dứt, bởi vì nghĩa vụ cấp dưỡng đã được thay thế bằng
nghĩa vụ cấp dưỡng.
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
Khoản 11, Điều 8 Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000 quy định: Chủ thể
phải cấp dưỡng là “người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản đáp ứng nhu
cầu thiết yếu cho người khác”. Đây là những cá nhân cụ thể có đầy đủ năng
lực pháp luật và năng lực hành vi để tham gia vào quan hệ cấp dưỡng. Phạm
vi cấp dưỡng của họ là “đóng góp tiền hoặc tài sản khác”. Đó là những giá trị
vật chất đảm bảo cho cuộc sống của người được cấp dưỡng. Tuỳ thuộc vào
PDF created with FinePrint pdfFactory Pro trial version http://www.fineprint.com
Luận văn tốt nghiệp
GVHD: Đoàn Thị Phương Diệp SVTH: Lê Thạch Hương Trang
16
từng trường hợp và từng quan hệ nhất định mà chủ thể phải cấp dưỡng có sự
thay đổi. Khi có người trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng được pháp luật quy
định thì họ là chủ thể phải cấp dưỡng. Theo đó, chủ thể phải cấp dưỡng là cha
mẹ khi họ trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với con chưa thành niên hoặc
đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao
động, không có tài sản tự nuôi mình; là con khi trốn tránh nghĩa vụ nuôi
dưỡng cha mẹ đặc biệt là cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; là Ông bà khi trốn
tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu chưa thành niên, … và ngược lại là cháu trốn
tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng Ông bà; là anh, chị em trốn tránh nghĩa vụ nuôi
dưỡng lẫn nhau.
Đối với những trường hợp cấp dưỡng cụ thể được pháp luật Hôn nhân và