xây dựng sổ tay điện tử về cây xanh – hoa kiểng ở tp.hcm phục vụ thiết kế sân vườn và quy hoạch cây xanh đô thị - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ SAU ĐẠI HỌC
  
Nguyễn Thị Thanh Tâm
XÂY DỰNG SỔ TAY ĐIỆN TỬ VỀ CÂY
XANH – HOA KIỂNG Ở TP.HCM PHỤC VỤ
THIẾT KẾ SÂN VƯỜN VÀ QUY HOẠCH
CÂY XANH ĐÔ THỊ

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 60 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. CHẾ ĐÌNH LÝ

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010


2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu tổng quát: Xây dựng sổ tay điện tử tra cứu về cây xanh hoa kiểng phục vụ công tác
thiết kế hoa viên và thiết kế cảnh quan.
Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Khảo sát và phân tích nhu cầu tra cứu thông tin về cây xanh hoa kiểng của người thiết
kế cảnh quan và các bên có liên quan.
- Khái quát và phân tích thành phần loài thực vật hiện có tại Tp.HCM phục vụ xây dựng
CSDL.

- Xây dựng và phân tích chi tiết cấu trúc của CSDL.
- Xây dựng sổ tay điện tử phục vụ tra cứu thông tin về cây xanh hoa kiểng.

CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về Tp.HCM và hệ thống cây xanh đô thị
1.1.1. Tổng quan về Tp.HCM
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Tp.HCM nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10
0
22’ – 11
0
10’ vĩ độ bắc và 106
0
22’ –
107
0
02

kinh độ đông . Phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông giáp 2 tỉnh Đồng Nai và Bình
Dương, phía Tây giáp tỉnh Long An.
Tổng diện tích của Tp.HCM là 2.056 km

huyện Cần Giờ.
- Vùng nước mặn (độ mặn > 18‰) ở các xã khác của Cần Giờ.
1.1.1.4. Khí hậu
Tp.HCM có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với nhiệt độ trung bình khoảng
27
o
C - 29
o
C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các mùa không quá 5
o
C.
Lượng mưa trung bình khoảng 2000 mm với độ ẩm trung bình khoảng 75-80%.
Tp.HCM có 2 mùa trong năm; mùa mưa vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô vào
khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với hai hướng gió chính là gió Tây - Tây Nam thổi từ
tháng 5 đến tháng 10 và gió Bắc - Đông Bắc thổi vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4.
Số giờ nắng trung bình năm khoảng 2286 giờ như vậy mỗi ngày khoảng 6,3 giờ nắng.
Lượng bốc hơi tương đối lớn: 1399 mm/năm, bình quân tháng trong mùa mưa là 2–3 mm/ngày
và tháng mùa khô là 5–6 mm/ngày.
1.1.1.5. Đất đai
Tp.HCM có 6 nhóm đất đai chính bao gồm:
- Nhóm đất phù sa bị nhiễm phèn chủ yếu ở Bình Chánh, một số ở Hóc Môn, Củ Chi.
- Nhóm đất xám và đất đỏ vàng phát triển trên phù sa cổ chủ yếu ở vùng gò đồi Củ Chi,
Hóc Môn, Thủ Đức, Bắc Bình Chánh.
- Nhóm đất phèn trung bình và đất phèn nhiều ở Nam Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông
Đồng Nai, Bắc Cần Giờ.
- Nhóm cát ven biển ở Cần Giờ.

- Nhóm các loại đất khác phần lớn bạc màu, nghèo dinh dưỡng.
1.1.1.6. Các vùng sinh thái
Do điều kiện tự nhiên đặc biệt đã hình thành trước kia ở Tp.HCM các hệ sinh thái rừng

công cộng (công viên, vườn hoa,…); 699,48 ha cây xanh sử dụng hạn chế (trong các khu chức

năng đô thị như khu dân cư, khu công nghiệp, trường học, y tế…) và
32.829 ha cây xanh chuyên môn (rừng phòng hộ, cây xanh dùng trong nghiên cứu thực vật
học, vườn ươm ). Nếu tính riêng diện tích cây xanh sử dụng công cộng toàn thành phố thì chỉ
đạt trung bình 1,6 m
2
/người, trong đó khu vực nội thành cũ (gồm 13 quận) chỉ đạt 0,6
m
2
/người, khu vực quận mới (6 quận) là khoảng trên 2,8 m
2
/người và ngoại thành là trên 3,3
m
2
/người.
Tại khu vực nội thành cũ có 956 tuyến đường nhưng chỉ có 660 tuyến trồng được
47.145 cây xanh, còn khu vực 6 quận mới có 174 tuyến đường thì cũng chỉ có 132 tuyến trồng
được khoảng gần 20.000 cây.
Các quận nội thành có mật độ cây xanh bình quân 37m lề đường/cây. Quận có mật độ
cây xanh đường phố cao nhất là quận 3 thì trung bình cũng phải tới 21,7m lề đường/cây; còn
quận Phú Nhuận có mật độ cây xanh thấp nhất, trung bình là 90,3m lề đường/cây.
Sự phân bố của hệ thống công viên, vườn hoa của Tp.HCM không đồng đều. Thành phố
hiện có gần 100 công viên tập trung chủ yếu ở quận 1 (22 công viên) và quận 5 (17 công viên).
Một số quận ven và ngoại thành như Bình Chánh, Thủ Đức, quận 12 rất ít công viên với diện
tích nhỏ. Theo thống kê của Chế Đình Lý (1995) các công viên lớn như Thảo cầm viên có
2346 cây gỗ, Tao Đàn có 1086 cây và Dinh Độc Lập có 1.125 cây.
Theo các chuyên gia cảnh quan đô thị, hệ thống cây xanh Tp.HCM cũng chưa tạo được
nét đặc thù riêng. Nếu như Hà Nội được biết đến với hoa sữa, Hải Phòng với hoa phượng thì
Tp.HCM vẫn chưa có loài cây đặc trưng nào. Hầu hết trên các tuyến đường là sự xen lẫn của

Hình 1.3 Các kiểu hình dạng của cây bụi hay cỏ [18]

Các loại hình dáng tạo bởi một nhóm các cây là sự góp phần quan trọng nhất của hình
dạng để phối kết cảnh quan.

Dạng của cây thể hiện dưới hình thức dáng phải phù hợp với chức
năng (cho bóng mát, che khuất tầm nhìn, chống gió, rào chắn ) đồng thời phải tạo ra các
đường cong trang trí thú vị ở một thời điểm.
1.2.2.2. Kết cấu (texture)
Thân, lá, vỏ, chồi là các đặc trưng vật lý tạo thành kết cấu của một cây. Các kết cấu
phân từ mịn đến trung bình, thô, có thể nhìn thấy vì kích thước và hình dạng của các đặc trưng
này và cách thức ánh sáng và bóng hiện ra ở chúng.
Các lá lớn hơn, các thân, chồi thường tạo ra một hiệu ứng và cảm giác thô. Nhưng số
cành và lá và khoảng cách giữa chúng cũng tác động đến kết cấu. Lá dày, chặt tạo ra kết cấu
mịn, trong khi đó các lá tách rời xa nhau sẽ cho một kết cấu thô.
Các kiểu của ánh sáng và bóng râm tùy thuộc nhiều hơn vào bề mặt từng lá trong một
hình dạng dày, chặt. Với một cấu trúc lỏng lẻo, một khối lá và các khoảng trống tương ứng
khống chế ánh sáng và bóng che, tạo ra một kết cấu thô.
Kiểu lá và dạng lá cũng ảnh hưởng đến kết cấu. Lá đơn sẽ hiện ra thô hơn lá kép ngay
cả kích thước lớn và các lá với xẻ phần ở mép lá như lá sồi, thể hiện kết cấu mịn hơn lá bình
thường có kích thước tương đương.
1.2.2.3. Màu sắc
Màu sắc lá cây phân bố từ màu lục sậm đến màu lục, đến màu lục nhạt, màu lục đỏ và
màu lục vàng.
Tầm quan trọng của hoa viên liên quan trực tiếp nhiều đến màu sắc. Thường màu sắc
của lá cây được xem xét nhiều trong thiết kế. Vì lá cây được phô bày trong suốt thời gian trong
năm, nhưng hoa, trái, vỏ và hạt cũng cho màu sắc đáng chú ý. [10][11][15][17][19]
1.2.3. Sự hài hòa trong thiết kế cảnh quan, hoa viên
Sự hòa hợp trong thiết kế hoa viên có nghĩa là sự tổ hợp hài hòa của các phần khác nhau
để tạo ra một cảm giác của một tổng thể. Sự hoà hợp trong một thiết kế hoa viên đạt được bằng

Màu sắc có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng bằng cách tăng thêm sức hấp dẫn nhìn cho
một phong cảnh. Ví dụ: một cây có màu sáng trên một cạnh của một đơn vị cây trồng có thể
cân bằng với những phần cuối của đơn vị cây trồng bởi nhiều cây cùng loại hay cùng kích
thước mà có sự thu hút kém hơn.
Kết cấu cũng dự phần vào sự cân bằng. Kết cấu thô thường thể hiện sức nặng để thu hút
tầm nhìn, kết cấu mịn thì nhẹ hơn, ít thu hút hơn. Khi kết cấu thể hiện thay đổi trong một đơn
vị cây trồng, cần nhiều cây có kết cấu mịn hơn để cân bằng với các cây có kết cấu thô hơn.
Sự cân bằng cũng áp dụng cho chiều sâu tầm nhìn. Giữa nền trước, nền giữa, và nền sau
của tầm nhìn phải được hài hòa.

1.2.3.5. Sự liên tục
Đối với tầm mắt di chuyển trong một hoa viên theo chiều hướng đến các điểm nhấn
mạnh, sự liên tục phải được thiết lập. Sự liên tục này có thể được tạo ra bởi một sự phát triển
của hình dạng, kết cấu hay màu sắc. Nó cũng có thể được tạo thành bởi những tổ hợp của mỗi
loại.
Tuy nhiên, nếu cả 3 tính chất vật lý được dùng cùng một lúc, sự liên tục sẽ biến mất vì
có quá nhiều loại được phơi bày.
Các thay đổi trong hình dạng, kết cấu hay màu sắc nên thể hiện dần dần và tinh tế nhằm
mục đích tạo ra một sự thay đổi hài hòa liên tục.
Chuỗi liên tục được xem như nhịp điệu của hoa viên tạo ra tầm mắt phát triển đến một
điểm nhấn mạnh. Sau đó rời khỏi dần dần để dừng ở một điểm nhấn mạnh khác.
1.2.3.6. Sự cân đối
Bằng các kiểm soát tỉ lệ cân đối của các vật thể trong hoa viên sẽ tạo cảm giác thư giãn
cho người thưởng thức. [10][11][14][15][20].
Khi áp dụng các nguyên lý thíêt kế vào trong thực tế quá trình thiết kế hoa viên và cảnh
quan, nhà thiết kế rất cần đến các thông tin về dạng tán, màu sắc lá, hoa, kết cấu lá mịn hay
thô, đặc điểm ưa sáng hay chịu bóng, chịu hạn hay chịu ẩm … của thực vật. Vì vậy nhà thiết
cần đến một thư viện cây xanh hoa kiểng để tra cứu chọn lựa. Nếu có được một cở sở dữ liệu
dạng điện tử, việc chọn lựa sẽ rất dễ dàng và nhanh chóng. Ý tưởng nghiên cứu của luận văn
xuất phát từ nhu cầu thực tế đó.

của Hoàng Việt Anh và cộng sự xây dựng chương trình CSDL BioHS (Huong Son Biodiviersity
Database) cung cấp thông tin về đa dạng sinh học (IVI, H, Cd, A/F) của 380 loài thực vật và 178
loài động vật. Chương trình được phát triển trên nền MS. Access 2007 và sử dụng bộ công cụ
Developer Extension and Runtime miễn phí để tạo bản cài đặt chạy độc lập. Dữ liệu GIS được cập
nhật trực tiếp từ môi trường Access và xem thông qua phiên bản miễn phí MapInfo Proview.
- Đề tài “Xây dựng phần mềm tra cứu cây thuốc họ Rau đắng dất (Aizoaceae)” (2007), “Xây
dựng phần mềm tra cứu cây thuốc phân lớp Hoa môi (Lamiideae)” (2007), “Xây dựng cơ sở dữ liệu
về thực vật và vi học của 100 cây thuốc và công cụ tra cứu”, (2008-2010) của Bộ môn thực vật –
Khoa dược – Đại học Dược TpHCM.
Riêng trong lĩnh vực thiết kế cảnh quan – hoa viên có các công trình nghiên cứu như:
- Sách “Cây trồng đô thị” của Viện Quy hoạch đô thị nông thôn (1981) giới thiệu các loài thực
vật được phân loại theo công dụng, độ cao, hình khối tán, màu sắc lá, màu sắc hoa, thời gian ra hoa,
thời gian ra lá non…
- Sách “Cây xanh – phát triển và quan lý trong môi trường đô thị” của Chế Đình Lý (1997) giới
thiệu 31 loài cây bụi, tiểu mộc, 32 loài dây leo, 22 loài hoa ngắn ngày, 9 loài cỏ dùng để trang trí, 31

loài thực vật che phủ nền bồn hoa và trồng trong chậu với một số đặc điểm về
màu hoa, kích thước trưởng thành.
- Sách “Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh” của Trần Hợp (1998) giới
thiệu 139 loài cây bóng mát, 63 cây thân cột, 47 cây thân leo làm cảnh, 71 cây có thân mọng nước
làm cảnh, 80 cây làm bonsai, 64 cây có lá làm cảnh, 127 cây có hoa làm cảnh, 37 cây có quả - cây ở
nước làm cảnh.
- Đề tài “Điều tra một số cây xanh thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Lan Thi (1994).
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu về cây xanh đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh” của
Đinh Quang Diệp (2001).
- Luận án Tiến sĩ "Nghiên cứu cơ sở quy hoạch cây xanh và chọn loại cây trồng phù hợp phục
vụ quá trình đô thị hoá thành phố Hồ Chí Minh" của Trần Viết Mỹ (2001).
- Đề tài “Xây dựng hệ thống dữ liệu phân loại cây xanh hoa cảnh ứng dụng trong công tác thiết
kế và trang trí cảnh quan đô thị ở một số tỉnh miền đông nam bộ” của Phạm Minh Thịnh (2006).
- Báo cáo khoa học “Vai trò, vị trí của mảng xanh trong công tác quy hoạch và phát triển đô thị


2.4. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 10 năm 2010.

2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp khảo sát nhu cầu tra cứu thông tin về thực vật
Dùng phiếu khảo sát kết hợp với phỏng vấn trực tiếp các đối tượng là các nghệ nhân và
chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế cảnh quan, các chủ cửa hàng cây xanh hoa kiểng. Các vấn
đề cần khảo sát bao gồm:
- Kinh nghiệm thực tế của các nghệ nhân, các chuyên gia về thiết kế cảnh quan, hoa viên
và nhu cầu sinh thái của các loài thực vật cảnh.
- Nhu cầu sử dụng CSDL thực vật và sổ tay điện tử trong việc tra cứu thông tin phục vụ
công tác thiết kế cảnh quan, hoa viên.
2.5.2. Phương pháp thu thập, phân tích cơ cấu thành phần loài cây xanh hoa kiểng
2.5.2.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thiên nhiên
Thu tất cả các mẫu thực vật trong phạm vi nghiên cứu, mỗi cây thu 3 – 5 mẫu.
Đối với cây gỗ và cây bụi: dùng kéo cắt cây cắt một cành dài 30 cm, có từ 5 – 7 lá
không bị sâu, có mang cụm hoa và quả.
Đối với cây thảo: lấy cả cây có rễ, nếu mẫu dài thì gấp lại làm 2 – 3 khúc; nếu nhiều lá
thì tỉa bớt. Những loài cây cỏ có kích thước lớn, mọng nước không thu cả cây được cần căn cứ
vào các đặc điểm định loại để thu hái. Mẫu cần thu hái của các loài tre nứa là các lóng tre và
mo thân từ đốt thứ 5 đến đốt thứ 7 và ghi rõ đặc điểm, cách mọc của thân ngầm. Mẫu của các
loài cây thuộc nhóm song mây phải có cả tay mây và roi mây.
Đối với cây thủy sinh cần dùng xẻng nhỏ đào cả thân và rễ.
Đối với cây bì sinh ta dùng dao nhỏ hoặc cưa cắt lấy 1 phần cây chủ.
Đối với mẫu rêu, quyết thì mẫu thu phải có bào tử.
Mỗi mẫu được đặt vào giữa tờ giấy báo cỡ lớn gập 4 với kích thước 30 – 40 cm cho
ngay ngắn, lật mặt dưới của 1 hoặc 2 lá lên. Ghi phiếu mẫu cây, để vào mẫu rồi buộc chặt mẫu
trong giá gỗ [1, tr.162][12, tr.21][9, tr. 13].
2.5.2.2. Phương pháp xác định và kiểm tra tên khoa học

Dùng phần mềm Excel 2007 để thống kê kết quả khảo sát và phỏng vấn các
nghệ nhân, chuyên gia về nhu cầu sử dụng sổ tay điện tử
Thống kê số loài và họ theo từng ngành thực vật từ thấp đến cao, tính tỷ lệ
phần trăm các taxon để thấy được tính đa dạng về phân loại của các loài cây xanh hoa
kiểng.
Thống kê, tính tỷ lệ phần trăm số loài theo dạng sống, công dụng, kết cấu và
các nhu cầu sinh thái để thấy được độ đa dạng về các đặc điểm hình thái, sinh thái liên
quan đến thiết kế cảnh quan của các loài cây xanh hoa kiểng.
2.5.3. Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu và sổ tay điện tử
Dùng phần mềm Microsoft Access 2003 để xây dựng CSDL và sổ thay điện tử theo các
bước:
- Lập các bảng dữ liệu để quản lý các mục thông tin riêng biệt như danh mục ngành, danh
mục họ, danh mục loài, danh mục kết cấu, danh mục công dụng, danh mục nhu cầu về ánh
sáng, danh mục nhu cầu về nước.
- Tạo mối liên hệ giữa các bảng dữ liệu để liên kết các mục thông tin thành thể thống
nhất .
- Nhập các dữ liệu thu thập được vào bảng dữ liệu.
- Thiết lập những truy vấn thông tin từ CSDL.
- Thiết kế các biểu mẫu để tương tác với người dùng.
- Thiết kế các báo cáo để truy xuất thông tin từ CSDL
- Đóng gói thành một phần mềm đơn giản có thể được sử dụng như một sổ tay điện tử.

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Để giải quyết vấn đề được đặt ra trong phần mở đầu, chương này sẽ trình bày các kết quả của 4 nội
dung nghiên cứu bao gồm:
- Kết quả phân tích nhu cầu sử dụng sổ tay điện tử.
- Kết quả phân tích thành phần loài cây xanh hoa kiểng ở Tp.HCM bao gồm: thành phần loài
theo các bậc phân loại, thành phần loài theo các nhóm công dụng, thành phần loài theo kết cấu và
thành phần loài theo các nhu cầu sinh thái.

gồm 298 loài thuộc 210 chi, 84 họ. (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Độ đa dạng về phân loại cây xanh hoa kiểng trong CSDL theo các
ngành thực vật
TÊN NGÀNH
Họ Chi Loài
Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

PTERIDOPHYTA 2 2,22 2 0,92 2 0,65
CYCADOPHYTA 1 1,11 1 0,46 2 0,63
CONIFEROPHYTA 3 3,33 3 1,38 4 1,31
MAGNOLIOPHYTA

84 93,33 210 97,22 298 97,39
TỔNG CỘNG CÓ 90 216 306

Hình 3.1 Biểu đồ độ đa dạng về phân loại cây xanh hoa kiểng trong CSDL
theo các ngành thực vật

Riêng trong ngành Ngọc Lan, lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 192 loài
thuộc 142 chi và 59 họ so với 106 loài thuộc 68 chi, 25 họ của lớp Hành (Liliopsida) (Bảng


NGÀNH NGỌC LAN

LỚP
Họ Chi Loài
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số
lượng
Tỷ lệ
%
MAGNOLIOPSIDA –
LỚP NGỌC LAN
59 70,24 142 67,62 192 64,43
LILIOPSIDA – LỚP
HÀNH
25 29,76 68 32,38 106 35,57 Hình 3.2 Biểu đồ độ đa dạng về phân loại cây xanh hoa kiểng của ngành Ngọc Lan
Trong 90 họ thực vật có trong CSDL có 48 họ chỉ có 1 chi và 39 họ chỉ có 1 loài; họ
có nhiều chi nhất là họ Cau dừa (Palmae) với 15 chi; họ có nhiều loài nhất là họ Ráy
(Araceae) với 19 loài. (Bảng 3.3)
Bảng 3.3 Độ đa dạng về chi và loài trong các họ thực vật

80
90
100
Họ Chi Loài
MAGNOLIOPSIDA – LỚP NGỌC LAN LILIOPSIDA – LỚP HÀNHCONIFEROPHYTA - NGÀNH THÔNG

4 Araucariaceae - Họ Bách Tán

1 1
5 Cupressaceae - Họ Hoàng Đàn - Họ Bách

1 1
6 Podocarpaceae - Họ Thông tre

1 1

MAGNOLIOPHYTA - NGÀNH NGỌC LAN
MAGNOLIOPSIDA - LỚP NGỌC LAN

7 Acanthaceae - Họ Ô rô

9 11
8 Amaranthaceae - Họ Rau dền

4 7
9 Anacardiaceae - Họ Xoài



1 1
21 Caryophyllaceae - Họ Cẩm chướng

1 1
22 Casuarinaceae - Họ Phi lao

1 1
23 Combretaceae - Họ Bàng

2 3
24 Compositae – Họ Cúc 7 7
25 Convolvulaceae - Họ Bìm bìm - Họ Khoai lang

2 3
26 Crassulaceae - Họ Thuốc bỏng

3 8
27 Cucurbiataceae - Họ Bầu bí

1 1
28 Dipterocarpaceae - Họ Sao dầu

1 1
29 Ericaceae - Họ Đỗ quyên

1 1
30 Euphorbiaceae - Họ Thầu dầu

5 10

42 Mimosaceae – Họ Trinh Nữ 1 1
43 Moraceae - Họ Dâu tằm

3 6
44 Myrtaceae - Họ Sim

3 3
45 Nelumbonaceae - Họ Sen

1 1
46 Nyctaginaceae – Họ Hoa giấy 1 1
47 Nymphaeaceae - Họ Súng

2 4
48 Ochnaceae - Họ Lão mai - Họ Mai

1 2
49 Oleaceae - Họ Nhài

1 1
50 Oxalidaceae - Họ Khế - Họ Chua me đất

2 3
51 Piperaceae - Họ Hồ tiêu

1 1
52 Polygonaceae – Họ Rau răm 1 1
53 Portulacaceae - Họ Rau sam

1 3

64 Urticaceae - Họ Tầm ma

1 1
65 Verbenaceae - Họ Cỏ roi ngựa

3 4 MAGNOLIOPHYTA - NGÀNH NGỌC LAN
LILIOPSIDA - LỚP HÀNH

66 Agavaceae - Họ Thùa

2 5
67 Alliaceae - Họ Hành

1 1
68 Aloaceae - Họ Lô hội

2 2
69 Amaryllidaceae - Họ Thủy tiên - Họ Lan Huệ

4 5
70 Anthericaceae - Họ Lục thảo

1 3
71 Araceae - Họ Ráy

12
19

82 Limnocharitaceae - Họ Nê Thảo

1 1
83 Marantaceae - Họ Huỳnh tinh - Họ Dong

2 3
84 Musaceae - Họ Chuối

1 1
85 Orchidaceae - Họ Lan

6 12
86 Palmae - Họ Cau - Họ Cọ - Họ Cau dừa

15
16
87 Pandanaceae - Họ Dứa dại - Họ Dứa gai

1 1
88 Pontederiaceae - Họ Lục Bình

2 2
89 Strelitziaceae - Họ Thiên điểu - Họ Mỏ két

2 2
90 Zingiberaceae - Họ Gừng

1 1

Trong tổng số 216 chi, có 7 chi có 4 đến 8 loài chiếm 3,24 % tổng số chi nhưng chiếm

phát triển trên các giàn, các khung sườn hay bờ tường.
Nhóm cây nội thất bao gồm những cây được trồng trong nhà hay ở văn phòng
nhằm tạo mảng xanh và làm sạch không khí trong nhà.
Nhóm cây thủy sinh thường được sử dụng để trang trí ở bờ nước, trong các ao
hồ nhân tạo.
Nhóm cây trang trí bao gồm các loài có những đặc điểm đặc sắc về hình thái
được dùng để trang trí và làm điểm nhấn trong thiết kế hoa viên. Những cây trang trí có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status